thong bao
Trang chủ Tiếng Việt English
TÌM KIẾM VĂN BẢN PHÁP LUẬT


VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

Đề cương tuyên truyền 45 năm

ngành Kiểm sát nhân dân

 

I. Hoàn cảnh ra đời của Viện kiểm sát nhân dân

 

 Sự ra đời của Viện kiểm sát nhân dân xuất phát từ nhu cầu khách quan của việc xây dựng bộ máy Nhà nước xã hội chủ nghĩa và yêu cầu của việc tăng cường  pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta kết thúc thắng lợi, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng nhưng miền Nam vẫn còn dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai. Trước tình hình mới, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (năm 1960) đã đề ra hai nhiệm vụ chiến lược: "ra sức củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, tiếp tục đấu tranh thống nhất nước nhà, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ trong cả nước”.

Cơ quan công tố Nhà nước Việt Nam kiểu mới được Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập từ 1945 sau khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ công hoà và hệ thống Viện công tố thành lập năm 1958, tiền thân của Viện kiểm sát nhân dân với chức năng chủ yếu của nó là đưa người phạm tội ra toà xét xử (và thực hiện một số hoạt động giám sát việc điều tra, xét xử, giam giữ, cải tạo). Là bộ phận của hệ thống cơ quan chấp hành (cơ quan hành chính) tổ chức và hoạt động của Viện Công tố theo nguyên tắc song trùng trực thuộc đến thời điểm này đã tỏ ra không còn thích hợp với sự phát triển cách mạng và không thể đảm bảo những yêu cầu mới của việc thiết lập, củng cố nền pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Trước tình hình đó, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân đã ra đời. Tờ trình về Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 đã nêu rõ: "Nhu cầu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, đòi hỏi sự nhất trí về mục đích và hành động trong nhân dân, giữa nhân dân và Nhà nước cũng như giữa các ngành hoạt động Nhà nước với nhau. Nếu không đạt được sự thống nhất trong việc chấp hành pháp luật thì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn. Vì lẽ trên phải tổ chức ra Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm giữ vững pháp chế xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất."

  Hiến pháp năm 1959 (được Quốc hội nước ta thông qua ngày 31 tháng 12 năm 1959) lần đầu tiên đã quy định về chế định Viện kiểm sát nhân dân. Ngày 15-7-1960 Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá II, kỳ họp thứ nhất đã thông qua Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân. Ngày 26-7-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Lệnh số 20-L/CTN công bố Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, đánh dấu sự ra đời của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân trong hệ thống bộ máy Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Kế thừa và phát huy những thành quả và kinh nghiệm hoạt động của Viện công tố trong cách mạng dân tộc, dân chủ, trong 45 năm qua, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự giám sát thường xuyên của Quốc hội, sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan nhà nước và các tổ chức ở Trung ương và địa phương, sự đồng tình ủng hộ của nhân dân, ngành Kiểm sát nhân dân đã không ngừng phấn đấu và trưởng thành trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội, phục vụ việc phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm các quyền dân chủ của nhân dân. Bằng những kết quả của các lĩnh vực công tác kiểm sát, Viện kiểm sát các cấp đã góp phần tích cực vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội, vào thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà cũng như vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

II. Tổ chức và Hoạt động của viện Kiểm sát nhân dân qua các thời  kỳ

1. Thời kỳ từ 1960 đến 1975

Sau khi được thành lập, ngành Kiểm sát nhân dân vừa phải lo xây dựng hệ thống tổ chức, vừa triển khai hoạt động phục vụ các nhiệm vụ do Đảng và Nhà nước đề ra. Với phương châm vừa chiến đấu vừa xây dựng, ngành Kiểm sát đã coi trọng việc khai thác và vận dụng những kinh nghiệm của Viện công tố trước đây, tham khảo kinh nghiệm các nước xã hội chủ nghĩa anh em, từng bước xây dựng, củng cố tổ chức bộ máy để triển khai nhiệm vụ và bồi dưỡng đào tạo đội ngũ cán bộ của Viện kiểm sát nhân dân.

Quán triệt nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III và Nghị quyết 68/NQ-TW ngày 1/2/1963 của Bộ Chính trị về công tác kiểm sát, được sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp uỷ Đảng, Viện kiểm sát các cấp đã tích cực thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình nhằm phục vụ các mục tiêu: bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân, góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Với nhiệm vụ góp phần bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, ngành Kiểm sát đã tập trung vào việc đấu tranh chống các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia và các loại tội phạm nguy hiểm khác. Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã chỉ đạo các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện kiểm sát quân sự các cấp phối hợp với Cơ quan điều tra và Toà án trấn áp kịp thời, xử lý nghiêm khắc đối với bọn gián điệp, biệt kích do đế quốc Mỹ và ngụy quyền miền Nam tung ra miền Bắc và bọn gián điệp do thực dân Pháp cài  lại; trừng trị bọn hoạt động phỉ, gây bạo loạn ở một số vùng miền núi phía Bắc và những tên phản động lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng. Đã đưa ra truy tố, xét xử các vụ án về an ninh quốc gia điển hình như: Vụ án Nguyễn Minh Thông ở Hà Nội; vụ án Lương Huy Hân đội lốt hoạt động tôn giáo tuyên truyền chống phá cách mạng ở Bùi Chu – Phát Diệm, vụ trấn áp bọn hoạt động phỉ ở Đồng Văn...

Quán triệt các nghị quyết của Trung ương về các cuộc vận động 3 xây, 3 chống trong các cơ sở công nghiệp quốc doanh, cải tiến quản lý hợp tác xã nông nghiệp, thực hiện dân chủ ở miền núi, hoạt động kiểm sát bước đầu hướng vào lĩnh vực quản lý kinh tế ở một số xí nghiệp, nông trường quốc doanh. Cùng với việc xử lý một số trường hợp cố ý làm trái các chế độ chính sách của Nhà nước, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã đề xuất và được Trung ương đồng ý về một số biện pháp tăng cường công tác quản lý sản xuất nông nghiệp của các hợp tác xã. Nói chung, hoạt động của ngành Kiểm sát lúc này đã chú ý bám sát hai vấn đề mà Đảng và Nhà nước quan tâm là việc bảo vệ quyền dân chủ ở nông thôn và bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, chống tham ô, lãng phí của công. Qua kết quả kiểm sát tại chỗ hàng trăm hợp tác xã nông nghiệp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã kiến nghị với Đảng và Nhà nước ban hành Điều lệ mẫu hợp tác xã nông nghiệp và đã cùng Ban Nông nghiệp Trung ương xây dựng văn bản này.

Từ năm 1965 đến năm 1972 miền Bắc phải trực tiếp đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, vừa sản xuất, vừa chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, vừa phải ra sức chi viện sức người, sức của cho cách mạng miền Nam, làm tròn nghĩa vụ hậu phương lớn của cả nước.

Trước tình hình, nhiệm vụ mới, ngành Kiểm sát đã kịp thời tập trung phục vụ các yêu cầu của thời chiến trên cả 2 mặt trận sản xuất và chiến đấu, nhằm bảo đảm sức chiến đấu của quân đội và đời sống của nhân dân. Quán triệt quan điểm: khẩn trương, linh hoạt, gọn nhẹ trong tổ chức và hoạt động, bảo đảm phát huy hiệu quả hoạt động của ngành trong tình hình mới.

Viện kiểm sát các cấp đã tập trung chỉ đạo, phục vụ các nhiệm vụ trung tâm là bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các vật tư quốc phòng, hàng hoá do các nước anh em và bè bạn viện trợ, đấu tranh chống các hành vi trộm cắp, tham ô, phân phối, sử dụng sai chính sách, chế độ v.v... nhất là ở các khâu giao nhận và vận chuyển. Nhiều Viện kiểm sát địa phương đã tích cực chủ động kiểm sát việc chấp hành pháp luật của các cơ quan quản lý, phân phối các vật tư, thiết bị, lương thực, thực phẩm ... phát hiện và xử lý các vụ trộm cắp, tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa, lợi dụng khi địch bắn phá, khai tăng số thiệt hại để rút tài sản của Nhà nước (nhiều trường hợp sau khi địch bắn phá, Kiểm sát viên đã có mặt ở hiện trường để giám sát việc xác định thiệt hại về tài sản, phòng ngừa việc phạm pháp) hoặc lợi dụng chức vụ để cố ý làm trái chế độ, chính sách của Nhà nước. Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã đưa ra truy tố, xét xử một số vụ án điển hình nhằm kịp thời giáo dục pháp luật, phát động quần chúng bảo vệ các hàng hoá, vật tư để ở ngoài trời, đấu tranh xoá bỏ các "tụ điểm" mua bán hàng lấy cắp của Nhà nước ở dọc các đường sông và đường bộ. Đã trừng trị nghiêm khắc các hành vi xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, vật tư quốc phòng, quân trang, lương thực, các vụ đầu cơ, buôn lậu, làm giả tem phiếu, móc ngoặc trong việc phân phối hàng hoá, vật tư sai chế độ chính sách làm ảnh hưởng đến sức chiến đấu của quân đội và đời sống của nhân dân. Qua việc thực hành quyền công tố các vụ án tại phiên toà, Viện kiểm sát đã vạch trần hành vi phạm tội của các bị cáo, đề xuất mức xử lý nghiêm minh, đồng thời kiến nghị với các cơ quan hữu quan khắc phục thiếu sót, khuyết điểm trong công tác quản lý, có tác dụng phòng ngừa cao.

Qua hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ án hình sự, Viện kiểm sát các cấp cũng chú trọng việc minh oan cho những người bị oan như tiến hành minh oan cho anh Nguyễn Văn phổ bị quy kết là gián điệp oan; minh oan cho một số người trong vụ án Nguyễn Thị Là và vụ án Võ An Khang...

Viện kiểm sát các cấp cũng đã tích cực tham gia xét duyệt các đối tượng cần tập trung cải tạo ở những địa bàn xung yếu; kiến nghị với Nhà nước cho ban hành  Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng công dân.

Sau khi có nghị quyết 228 của Bộ Chính trị về tăng cường quản lý kinh tế, đấu tranh chống tiêu cực, làm ăn phi pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã kịp thời chỉ đạo Viện kiểm sát nhân dân các cấp và Viện kiểm sát quân sự có kế hoạch tập trung lực lượng để tiến hành công tác kiểm sát với phương châm kết hợp chặt chẽ giữa chống với phòng, chống với xây, lấy xây làm mục đích. Đồng thời đã chú trọng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc ban hành các văn bản pháp quy của các cơ quan Nhà nước cùng cấp. Viện kiểm sát đã kịp thời kiến nghị, yêu cầu cơ quan hữu quan sửa chữa, khắc phục các văn bản có vi phạm pháp luật.

Cùng với nhiệm vụ bảo vệ, xử lý kịp thời các hành vi xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, Viện kiểm sát các cấp đã thường xuyên kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc chấp hành các chính sách hậu phương quân đội; phục vụ có kết quả các đợt huy động làm nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ lao động thời chiến phục vụ chiến đấu; kịp thời giải quyết các vụ xâm phạm trật tự trị an ở các vùng có chiến sự, các vụ hình sự, dân sự, ly hôn có quan hệ đến quân nhân tại ngũ và cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc.

Năm 1971 ngành Kiểm sát đã tiến hành tổng kết 10 năm hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân. Trong thời kỳ này, ngành Kiểm sát cũng liên tiếp tổ chức các hội nghị chuyên đề về từng khâu nghiệp vụ, về đấu tranh chống từng loại tội phạm, tổng kết công tác kiểm sát phục vụ chính sách dân tộc của Đảng, tổ chức rút kinh nghiệm về một số biện pháp nghiệp vụ thể hiện phương châm vừa chống vừa xây, lấy xây làm mục đích (xây dựng điểm tiên tiến tuân theo pháp luật, phối hợp với cơ quan công an trong việc phân loại, xử lý tội phạm v.v...). Đã tích cực chủ động mở trường đào tạo cán bộ kiểm sát theo hệ chính quy, bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ trong ngành về kiến thức pháp lý và nghiệp vụ công tác kiểm sát, chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ trẻ cho ngành.

Để chuẩn bị cho việc giải phóng miền Nam, vào cuối năm 1972 Ban công tác miền Nam thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao được thành lập, với nhiệm vụ xây dựng đề án về tổ chức cán bộ, về phương thức hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân ở miền Nam và cử một số cán bộ đi vào miền Nam công tác. Viện kiểm sát tối cao đã cùng với hai ngành Toà án và Công an thống nhất chủ trương xây dựng đường lối công tác tư pháp ở vùng mới giải phóng và đào tạo đội ngũ cán bộ cho miền Nam.

 Năm 1975, đất nước ta được hoàn toàn giải phóng, mở ra thời kỳ cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Ngành Kiểm sát đã kịp thời điều động hàng trăm cán bộ thuộc Viện kiểm sát các cấp cùng với cán bộ ngành Toà án tiếp quản các cơ sở hoạt động tư pháp của ngụy quyền cũ, khẩn trương xây dựng hệ thống các cơ quan Viện kiểm sát ở các tỉnh phía Nam đáp ứng yêu cầu bảo vệ các thành quả của cách mạng và giữ vững trật tự trị an ở vùng mới giải phóng.

Trong 15 năm (1960 – 1975), ngành Kiểm sát đã đạt được những kết quả to lớn trong việc thực hiện chức năng kiểm sát, phục vụ tích cực hai nhiệm vụ chiến lược: ở miền Bắc, xây dựng chủ nghĩa xã hội, chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, đồng thời, là hậu phương vững chắc cho miền Nam; ở miền Nam, tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà. Viện kiểm sát nhân dân đã thực hiện được các nhiệm vụ trọng tâm là đấu tranh chống lại bọn phản cách mạng, bảo vệ các quyền dân chủ của công dân, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa và chế độ quản lý của Nhà nước.

Công tác kiểm sát giai đoạn này đã thể hiện rõ tư tưởng của đồng chí Hoàng Quốc Việt, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đầu tiên: Công tác kiểm sát thực chất là công tác chính trị, công tác kiểm sát phải phục vụ nhiệm vụ chính trị.

2. Thời kỳ từ 1975 đến 1986

Đây là thời kỳ miền Nam nước ta được hoàn toàn giải phóng, đất nước đã thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội nhưng vẫn còn phải đương đầu với cuộc chiến tranh ở biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc và kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch. Ba mươi năm chiến tranh và những tàn dư của chế độ cũ đã để lại trên đất nước ta nhiều hậu quả trầm trọng về kinh tế, xã hội, sản xuất thấp kém, đời sống khó khăn, tệ nạn xã hội nặng nề. Mặt khác, bọn phản động trong nước cấu kết với các thế lực thù địch bên ngoài điên cuồng chống phá cách mạng. Việc quản lý xã hội, quản lý kinh tế còn nhiều lỏng lẻo, sơ hở. Những nhân tố tiêu cực trên đây làm cho tình hình tội phạm càng thêm phức tạp và nghiêm trọng. Tình hình đó đặt ra cho cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm những yêu cầu mới cần phải được giải quyết để bảo vệ các lợi ích của Nhà nước, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của công dân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Đại hội toàn quốc lần thứ IV của Đảng (năm 1976) đã đề ra đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa và đường lối xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (năm 1982) đã cụ thể hoá đường lối chung, và xác định các mục tiêu kinh tế - xã hội trong những năm 80 nhằm bảo đảm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng trong giai đoạn mới là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chuyển sang thời kỳ mới, ngành Kiểm sát có bước phát triển mới cả về tổ chức và hoạt động. Hiến pháp mới (1980) xác định nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động quản lý Nhà nước. Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (1981) một lần nữa đã khẳng định vị trí, vai trò, trách nhiệm của ngành Kiểm sát trong việc bảo đảm pháp chế thống nhất trong cả nước.

Trên cơ sở Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân mới, chức năng, nhiệm vụ công tác kiểm sát của ngành Kiểm sát đã được xác định rõ hơn.

Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh phía Nam tuy mới được xây dựng nhưng đã cố gắng phục vụ đắc lực các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ở vùng mới giải phóng. Đã cùng với các cơ quan chức năng trấn áp kịp thời các đối tượng phản cách mạng, gián điệp do Mỹ - ngụy cài lại, các đối tượng phản động lợi dụng hoạt động tôn giáo chống phá cách mạng, trừng trị nghiêm khắc những kẻ cầm đầu các tổ chức vũ trang bạo loạn, xúi giục, lừa đảo người trốn đi nước ngoài, những kẻ lưu manh, côn đồ, giết người, cướp của ... Vận dụng đúng đắn đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc xoá bỏ giai cấp tư sản mại bản, đưa đi tập trung cải tạo những tên ngụy quân, ngụy quyền có tội ác với nhân dân, tham gia giải quyết các tệ nạn xã hội cũ để giữ vững trật tự, trị an, củng cố chính quyền cách mạng. Đồng thời, đã tích cực phục vụ chủ trương các chính sách của Đảng và Nhà nước như chính sách thống nhất tiền tệ, chính sách vận động nông dân đi vào con đường làm ăn tập thể… Qua hoạt động thực tiễn, đội ngũ cán bộ kiểm sát ở miền Nam đã có bước trưởng thành nhanh chóng.

Trên phạm vi cả nước, Viện kiểm sát nhân dân đã chú trọng hướng công tác kiểm sát phục vụ các nhiệm vụ kinh tế - xã hội do Đảng và Nhà nước đề ra như  nhiệm vụ đẩy mạnh sản xuất lương thực, sản xuất hàng tiêu dùng, thu mua sản phẩm, cải tiến phân phối lưu thông, bảo vệ tài sản và chế độ quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa; về an ninh quốc phòng đã góp phần phục vụ tích cực cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới và trấn áp phản cách mạng, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ các quyền dân chủ của nhân dân.

Viện kiểm sát các cấp đã chú ý nắm vững đường lối quan điểm pháp chế xã hội chủ nghĩa, phục vụ việc lập lại trật tự quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa, nhất là trong lĩnh vực phân phối lưu thông, đấu tranh chống các hoạt động vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. Kết hợp đấu tranh bảo vệ nguyên tắc của pháp luật với đấu tranh khắc phục những quan điểm sai trái. Đã kiên quyết xử lý đối với các hành vi xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa như tham ô, trộm cắp tài sản Nhà nước, cố ý làm trái chế độ, chính sách của Nhà nước, nhận hối lộ v.v... Trừng trị nghiêm khắc các đối tượng đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép...

Thông qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với một số ngành trong những lĩnh vực quản lý kinh tế trọng điểm và một số đơn vị sản xuất kinh doanh, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã phát hiện và báo cáo với Ban Bí thư và Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về một số sơ hở trong các chủ trương, biện pháp quản lý tạo điều kiện cho những đối tượng vụ lợi thực hiện hành vi làm trái chính sách, chế độ mưu lợi ích riêng như vấn đề thanh lý tài sản sau chiến tranh, vấn đề chủ động, linh hoạt trong sản xuất kinh doanh, vấn đề kết hợp 3 lợi ích, vấn đề chênh lệch giá trong thương nghiệp, chủ trương mở rộng quyền cho địa phương trong hoạt động xuất nhập khẩu ..., giúp Trung ương xem xét để có những bổ sung, chấn chỉnh kịp thời.

Để bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của công dân, Viện kiểm sát các cấp đã tăng cường hoạt động kiểm sát trong lĩnh vực điều tra tội phạm, trong việc thực hiện chính sách bắt, giam, giữ và tập trung cải tạo. Đồng thời, tăng cường kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các đơn khiếu nại, tố cáo của cán bộ và nhân dân trong các quan hệ lao động, dân sự và kiểm tra hành chính của cơ quan Công an, nhất là đối với đơn khiếu nại về việc bị tập trung cải tạo hoặc cưỡng bức lao động không đúng chính sách và pháp luật, kịp thời kiến nghị với cơ quan hữu quan có biện pháp cải thiện đời sống của những người bị giam giữ và cải tạo.

Về vận dụng đường lối đấu tranh chống tội phạm, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã phối hợp chặt chẽ với Toà án nhân dân tối cao và Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) thống nhất về đường lối xử lý đối với một số loại tội mới. Đã truy tố, đưa ra xét xử nghiêm khắc đối với những kẻ phản bội Tổ quốc, hoạt động gián điệp, gây bạo loạn hoặc lợi dụng hoạt động tôn giáo để chống đối chế độ, những kẻ lưu manh chuyên nghiệp, côn đồ hung hãn, những cán bộ thoái hoá, biến chất phạm tội. Một số vụ án xâm phạm an ninh quốc gia điển hình đã được đưa ra truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh như vụ phản cách mạng ở nhà thờ Vĩnh Sơn; vụ Lê Quốc Tuý, Mai Văn Hạnh... Trong việc giải quyết các vụ án lớn, nhất là các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia, các Bản cáo trạng và Luận tội của Viện kiểm sát đã vạch trần trước dư luận trong và ngoài nước những âm mưu và hành động phá hoại nhiều mặt chống Nhà nước và nhân dân ta. Đồng thời, rút ra những bài học cảnh giác trước âm mưu của kẻ địch.

 Nhiều Viện kiểm sát địa phương đã chủ động đề xuất với cấp uỷ mở hội nghị kiểm điểm việc chấp hành pháp luật, tuân thủ pháp chế ở địa phương. Qua đó nâng cao ý thức pháp luật, bảo vệ pháp chế của cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành.

Về xây dựng ngành, trên cơ sở Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981, ngành Kiểm sát đã xây dựng Quy chế ngạch kiểm sát viên, trình Hội đồng Nhà nước phê duyệt. Đồng thời, xây dựng các điều lệ công tác, chế độ trách nhiệm, lề lối làm việc của mỗi cấp kiểm sát, các quy chế về trình tự hoạt động của từng phương thức kiểm sát làm cơ sở đưa hoạt động kiểm sát đi dần vào nề nếp và bảo đảm sự lãnh đạo tập trung thống nhất trong ngành. Quan hệ giữa Viện kiểm sát với các cơ quan bảo vệ pháp luật và các cơ quan hữu quan được chú ý. Việc phối hợp 3 ngành Kiểm sát, Công an, Toà án cùng kiểm tra công tác giải quyết án hình sự ở một số tỉnh, thành phố lớn trong thời kỳ này đã đưa lại kết quả tích cực.

 Việc xây dựng đội ngũ cán bộ được đặc biệt quan tâm. Công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ trong ngành được thực hiện ở tất cả 3 cấp với những hình thức thích hợp: tập trung tại trường, tại chức, tập huấn, bồi dưỡng ngắn hạn trong nước và ngoài nước.

Công tác tổng kết nghiệp vụ, xây dựng lý luận khoa học công tác kiểm sát thời kỳ này được chú ý. Trên cơ sở những luận điểm của Đảng ta về chuyên chính vô sản, về pháp chế xã hội chủ nghĩa và công tác kiểm sát kết hợp với tổng kết công tác thực tiễn và tổng kết lý luận, ngành Kiểm sát đã bước đầu xây dựng được hệ thống giáo trình môn học công tác kiểm sát tương đối hoàn chỉnh, hoàn thành việc biên soạn cuốn "Sổ tay của kiểm sát viên". Quan hệ hợp tác tương trợ giữa Viện kiểm sát Việt Nam với Viện kiểm sát các nước xã hội chủ nghĩa anh em từng bước được mở rộng.

3. Thời kỳ từ năm 1986 đến nay

 Quán triệt quan điểm đổi mới của Đảng được đề cập trong các văn kiện của Đảng như Nghị quyết Đại hội lần thứ VI, VII, VIII, IX và các Nghị quyết khác của Trung ương, Nghị quyết của Quốc hội, ngành Kiểm sát đã có sự đổi mới mạnh mẽ về tổ chức và hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ và đã đạt được những kết quả tích cực.

Công tác kiểm sát tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội (kiểm sát chung) những năm 1986 – 2002 đã luôn luôn bám sát các Nghị quyết của Đảng, những chủ trương lớn của Nhà nước về phát triển kinh tế- xã hội. Ngành kiểm sát thực hiện công tác kiểm sát theo kế hoạch thống nhất, tập trung vào những ngành kinh tế trọng điểm, có vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân, đã có nhiều kiến nghị với Chính phủ và kháng nghị đối với các Bộ ngành ở Trung ương về củng số pháp chế trong quản lý Nhà nước ở các ngành như ngân hàng, quản lý ngoại tệ và hàng viện trợ (năm 1990 - 1991), lĩnh vực xây dựng cơ bản ở các ngành kinh tế trọng điểm (năm 1993), lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai (năm 1994), quản lý Nhà nước trong ngành Hải quan (năm 1995), lĩnh vực chấp hành pháp luật về thuế và thu ngân sách năm (năm 1996)... góp phần vào công tác củng cố pháp chế và trật tự pháp luật trong các lĩnh vực nói trên, đóng góp tích cực vào việc quản lý kinh tế, văn hoá, xã hội theo pháp luật.

Ngành Kiểm sát đã tổ chức nhiều Hội nghị pháp chế ở Trung ương và địa phương với các đơn vị được kiểm sát nhằm phòng ngừa vi phạm, phục vụ cho việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. Hàng năm, ngành Kiểm sát đã kháng nghị, kiến nghị yêu cầu thu hồi cho Nhà nước hàng trăm tỷ đồng, yêu cầu khởi tố nhiều vụ án hình sự, dân sự, yêu cầu xử lý nghiêm minh những người vi phạm pháp luật nhằm khôi phục trật tự pháp luật trên các lĩnh vực được kiểm sát. Nhiều Viện kiểm sát tổ chức tốt việc nắm thông tin vi phạm pháp luật để xác định đúng đối tượng cần kiểm sát, vận dụng đồng bộ các phương thức kiểm sát, tăng cường phối hợp với các cơ quan thanh tra, kiểm tra nên các cuộc kiểm sát đã đạt chất lượng và hiệu quả ngày càng cao.

Qua kiểm sát các văn bản quy phạm pháp luật, hàng năm, ngành Kiểm sát đã phát hiện và kháng nghị, kiến nghị khắc phục hàng nghìn văn bản có vi phạm pháp luật, trong đó có nhiều văn bản của các Bộ, ngành ở Trung ương. Nhiều Viện kiểm sát địa phương đã tổng hợp vi phạm, kiến nghị với chính quyền địa phương mở Hội nghị rút kinh nghiệm để nâng cao chất lượng công tác soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Năm 2002 đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng về chức năng hoạt động của Viện kiểm sát theo yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp. Để thực hiện cải cách tư pháp, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 đã quy định Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, không thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội nữa.

Thực hiện các quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và các văn bản pháp luật có liên quan đến tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân mới được ban hành như Pháp lệnh kiểm sát viên năm 2002, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, Nghị quyết số 388 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra, tiếp tục thực hiện các yêu cầu của cải cách tư pháp theo tinh thần các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng như Chỉ thị số 53-CT/TW ngày 21/3/2000, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/1/2002 của Bộ Chính trị... các lĩnh vực công tác của Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã có những tiến bộ đáng kể, nhất là công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự.  

Chấp hành nghiêm chỉnh sự điều chỉnh chức năng theo yêu cầu của cải cách tư pháp, từ đầu năm 2002 ngành Kiểm sát đã giải thể các đơn vị làm công tác kiểm sát việc chấp hành pháp luật trong lĩnh vực kinh tế, hành chính... và phòng điều tra tại các Viện kiểm sát cấp tỉnh, điều động cán bộ trong các đơn vị này sang các bộ phận công tác khác, kiện toàn tổ chức Cục điều tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo mô hình tổ chức mới.

Thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự, ngành Kiểm sát đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan bảo vệ pháp luật, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh các loại tội phạm, nhất là các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội về tham nhũng, buôn lậu, ma tuý và các loại tội phạm có tổ chức; đồng thời chú trọng công tác kiểm sát các hoạt động tư pháp, kịp thời phát hiện các vi phạm trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra, xét xử để kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu khắc phục, bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội và các hoạt động tố tụng tuân theo đúng quy định của pháp luật.

 Trong những năm gần đây, số lượng vụ án và bị can Viện kiểm sát thụ lý để thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử có xu hướng tăng hơn thời kỳ trước (năm 1995 thụ lý kiểm sát điều tra 45.476 vụ; năm 2000 thụ lý 46.113 vụ; năm 2004 thụ lý 51.580 vụ). Những năm qua, Viện kiểm sát đã phối hợp với cơ quan điều tra và Toà án đưa ra truy tố, xét xử kịp thời nhiều vụ án xâm phạm an ninh quốc gia, các vụ án về tham nhũng, buôn lậu, ma tuý, các loại tội phạm có tổ chức… phục vụ có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Về các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia, điển hình là vụ án Hoàng Cơ Minh phạm tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân xảy ra ở thành phố Hồ Chí Minh; vụ án phá hoại chính sách đoàn kết ở Thừa Thiên – Huế; các vụ phá hoại chính sách đoàn kết; phá rối an ninh và tổ chức trốn đi nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân xảy ra ở một số tỉnh Tây Nguyên…

Về các vụ án kinh tế, điển hình là Vụ Epco – Minh Phụng và vụ Tân Trường Sanh xảy ra ở thành phố Hồ Chí Minh, vụ Phạm Minh Thông phạm tội tham ô, cố ý làm trái… ở Đà Nẵng; vụ Mai Văn Huy tham ô, cố ý làm trái… và buôn lậu ở Đồng Tháp; vụ án tham ô, cố ý làm trái…, đưa và nhận hối lộ xảy ra ở M­ường Tè, Lai Châu; vụ “Thuỷ cung Thăng Long” và vụ Lã Thị Kim Oanh phạm tội tham ô, cố ý làm trái… xảy ra ở Hà Nội …

Trong lĩnh vực trật tự xã hội, Viện kiểm sát đã phối hợp với cơ quan điều tra và Toà án đấu tranh quyết liệt với những tội phạm có tính chất băng, nhóm hoạt động theo kiểu “xã hội đen” nh­ư vụ “Khánh Trắng”, vụ “Phúc Bồ” ở Hà Nội, vụ Trương Văn Cam ở thành phố Hồ Chí Minh. Về các vụ án ma tuý, đã đưa ra truy tố, xét xử nhiều vụ án ma tuý đặc biệt nghiêm trọng có tính chất xuyên quốc gia như vụ Vũ Xuân Trường, vụ Nguyễn Đức Lư­ợng, vụ Nguyễn Đức Minh, vụ Nguyễn Minh Tòng v.v…

Thông qua việc điều tra, truy tố và xét xử một số vụ án tham nhũng lớn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã đề xuất với các cơ quan Đảng, Nhà nước về một số cơ chế, chính sách phòng ngừa và đấu tranh chống các tội phạm về tham nhũng, trong đó có việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, khắc phục những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý tài sản của Nhà nước, tăng cường công tác kiểm tra, ngăn chặn và xử lý kịp thời các vụ việc tham nhũng.

Năm 2004, qua việc thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với một số vụ án xảy ra trong lĩnh vực đầu tư – xây dựng cơ bản, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương có liên quan khắc phục vi phạm và xem xét trách nhiệm trong quản lý, nhất là đối với các công trình có vốn đầu tư lớn ở ngành kinh tế đặc thù như Dầu khí, Bưu chính viễn thông, Điện lực...

Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, Viện kiểm sát nhân dân cũng đã chú trọng đến việc chống oan, sai, chủ động minh oan cho những người bị oan. Điển hình là việc minh oan của Viện kiểm sát trong các vụ án như vụ KC50, vụ Thân Trung Hiếu, vụ Lữ Anh Dồi, vụ “Đầm Dơi”, vụ Huỳnh Văn Nam... và gần đây là các vụ Phạm Thị út, Trần Thị Thuận. 

Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã có nhiều biện pháp đổi mới công tác quản lý, xử lý thông tin tội phạm nên đã hạn chế được tình trạng bỏ lọt tội phạm. Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra được tiến hành ngay từ đầu và trong suốt quá trình điều tra. Do có những đổi mới mạnh mẽ về tổ chức và phương thức hoạt động, chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự của Viện kiểm sát các cấp được nâng lên. Tỷ lệ án khởi tố đưa ra truy tố ngày càng tăng. Số người bị bắt, tạm giữ, tạm giam không đúng sau đó phải trả tự do, số vụ án đình chỉ điều tra do bị can không phạm tội và số người bị truy tố Toà án tuyên không phạm tội ngày càng giảm. Tiến độ giải quyết án được đẩy nhanh. Phần lớn các vụ án được giải quyết trong thời gian luật định. Số án tồn đọng đã được giải quyết một cách cơ bản. Nhiều vụ án lớn, phức tạp đã được điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, đáp ứng được yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới. Viện kiểm sát các cấp đã có nhiều biện pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử của Kiểm sát viên tại phiên toà, nhất là chất lượng tranh luận, luận tội, làm cơ sở để Toà án ra những phán quyết chính xác, công bằng. Các bản án, quyết định của Toà án có vi phạm pháp luật phát hiện được đều được Viện kiểm sát các cấp kháng nghị, kiến nghị để yêu cầu khắc phục.

Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã tiếp nhận và giải quyết nhiều đơn tố giác, tin báo về tội phạm thuộc thẩm quyền. Hàng năm, Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã thụ lý điều tra hàng chục vụ án xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp. Các vụ án hình sự do Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao điều tra được các đơn vị chức năng thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát chặt chẽ, bảo đảm việc điều tra, xử lý tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.

Trong công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù, Viện kiểm sát các cấp đã chú trọng kiểm sát thường kỳ và bất thường các nhà tạm giữ, trại tạm giam và trại giam, quyết định trả tự do cho nhiếu trường hợp bị giam, giữ không có căn cứ và trái pháp luật và ban hành nhiều kháng nghị, kiến nghị yêu cầu khắc phục vi phạm, góp phần bảo đảm việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã  chủ trì phối hợp với các cơ quan có liên quan xây dựng và ban hành Thông tư liên tịch số 01/2004/TTLT-VKSTC-BCA-TANDTC-BTP-BQP-BTC ngày 25/3/2004 hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 388 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội để thực hiện thống nhất trong các ngành tư pháp; tổ chức quán triệt Nghị quyết này tới toàn thể cán bộ, Kiểm sát viên trong ngành để nhận thức rõ trách nhiệm, tránh việc làm oan người vô tội, nhưng cũng khắc phục khuynh hướng vì sợ phải bồi thường mà do dự, không dám đấu tranh dẫn đến bỏ lọt tội phạm. Viện kiểm sát các cấp đã phối hợp với các cơ quan hữu quan tổng rà soát, chủ động nắm số vụ có dấu hiệu bị oan từ các năm trước theo quy định của Nghị quyết số 388 để xác minh và giải quyết việc bồi thường. Đến nay, Viện kiểm sát các cấp đã phục hồi danh dự và bồi thường thiệt hại cho hàng chục người bị oan.

Về công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, trong những năm gần đây, số lượng vụ việc dân sự mà Viện kiểm sát các cấp kiểm sát việc lập hồ sơ và tham gia phiên toà ngày càng tăng. Năm 2000 Viện kiểm sát các cấp kiểm sát lập hồ sơ theo thủ tục sơ thẩm 71.037 vụ việc, năm 2004 lên tới 106.062 vụ việc (tăng 35.025 vụ việc). Năm 2000 Viện kiểm sát các cấp tham gia phiên toà theo thủ tục sơ thẩm 20.370 vụ án dân sự, năm 2004 lên tới 28.654 vụ (tăng 8.284 vụ).

Trong những năm qua, ngành Kiểm sát đã tập trung kiểm sát việc giải quyết các tranh chấp về nhà ở, về tài sản và hôn nhân gia đình. Các Viện kiểm sát đã trực tiếp khởi tố nhiều vụ tranh chấp dân sự và tích cực hỗ trợ thu hồi tài sản. Qua công tác kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự, Viện kiểm sát các cấp đã phát hiện nhiều vụ xét xử không đúng và ra văn bản kháng nghị, đồng thời kiến nghị các cơ quan, tổ chức có biện pháp pháp phòng ngừa vi phạm.

Công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án kinh tế, lao động, hành chính và những việc khác theo quy định của pháp luật là lĩnh vực công tác mới nhưng Viện kiểm sát các cấp đã có nhiều cố gắng kiểm sát việc lập hồ sơ, tham gia xét xử nhằm bảo đảm giải quyết các loại án này đúng pháp luật, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân.

Sau khi Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 được Quốc hội thông qua, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã tổ chức tập huấn chuyên sâu Bộ luật này cho Kiểm sát viên, cán bộ trong ngành, nhất là những nội dung mới liên quan đến việc điều chỉnh chức năng của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự; sắp xếp, bố trí lại đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên làm công tác này cho phù hợp với yêu cầu mới.

Công tác kiểm sát thi hành án của Viện kiểm sát các cấp luôn được coi trọng. Viện kiểm sát các cấp thường xuyên phối hợp với các cơ quan hữu quan tiến hành rà soát để nắm chắc số người bị kết án phạt tù nhưng chưa thi hành; kiểm sát chặt chẽ các trường hợp hoãn thi hành án, hưởng thời hiệu thi hành án để có biện pháp thúc đẩy công tác thi hành án. Qua kiểm sát việc thi hành án hình sự, Viện kiểm sát các cấp đã kịp thời phát hiện các vi phạm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị  có trách nhiệm trong việc thi hành án hình sự; ra nhiều kháng nghị, kiến nghị yêu cầu Toà án nhân dân, cơ quan thi hành án, cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm trong việc thi hành án khắc phục vi phạm.

Viện kiểm sát đã tích cực tham gia việc xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù cho những phạm nhân cải tạo tiến bộ; hàng năm đều tham gia Hội đồng Tư vấn đặc xá Trung ương để thẩm định, đề nghị Chủ tịch nước ra quyết định đặc xá cho các phạm nhân có đủ điều kiện, bảo đảm các trường hợp được đặc xá phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định.

Về công tác kiểm sát thi hành án dân sự, Viện kiểm sát các cấp đã thường xuyên phối hợp với cơ quan thi hành án, xác định rõ các trường hợp có điều kiện và các trường hợp không có điều kiện thi hành án để yêu cầu thi hành kịp thời các bản án có điều kiện thi hành, đồng thời tăng cường kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động cưỡng chế thi hành án, cho hoãn thi hành án, thu chi tiền thi hành án. Thông qua công tác kiểm sát thi hành án dân sự, Viện kiểm sát các cấp đã phát hiện nhiều vụ, việc có vi phạm pháp luật của các cơ quan, tổ chức, đơn vị thi hành án và hàng năm đã ban hành nhiều kháng nghị yêu cầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị khắc phục vi phạm.

Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát các cấp được chú trọng. Trung bình từ năm 2000 đến năm 2004, mỗi năm Viện kiểm sát nhân dân các cấp tiếp nhận, giải quyết hơn 20.000 vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền. Để nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo, trong những năm gần đây, Viện kiểm sát các cấp đã chấn chỉnh công tác tiếp công dân, tăng cường cơ sở vật chất và trang thiết bị để phục vụ tiếp công dân, quy định rõ trách nhiệm của người tiếp, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và đề ra nhiều biện pháp để đẩy nhanh tiến độ, nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo. Nhờ vậy, nhiều khiếu nại, tố cáo bức xúc, kéo dài đã được giải quyết.

Cùng với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc trách nhiệm của ngành Kiểm sát, Viện kiểm sát các cấp đã có nhiều biện pháp triển khai thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp. Hàng năm, qua kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã ban hành hàng trăm kháng nghị, kiến nghị yêu cầu các cơ quan tư pháp khắc phục vi phạm trong việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo, bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan tư pháp tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.

Về công tác xây dựng ngành, trong những năm qua, ngành Kiểm sát đã chú trọng đổi mới tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát. Hệ thống tổ chức Viện kiểm sát ở 3 cấp ngày càng được kiện toàn và củng cố. Toàn ngành đã quán triệt đầy đủ nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động kiểm sát, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo tập trung thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Ngành Kiểm sát đã xây dựng và không ngừng hoàn thiện các quy chế quản  lý và quy chế nghiệp vụ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành và công tác kiểm sát.

 Dưới sự lãnh đạo của Đảng, ngành Kiểm sát đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát có lập trường chính trị vững vàng, am hiểu về chuyên môn nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức trong sáng theo lời dạy của Bác Hồ: Mỗi cán bộ kiểm sát phải công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn. Công tác xây dựng ngành thường xuyên được gắn với công tác xây dựng Đảng.

Lực lượng cán bộ của ngành Kiểm sát ngày càng được củng cố và lớn mạnh. Năm 1960, khi mới thành lập, toàn ngành Kiểm sát mới có hơn 800 người. Năm 1975, khi đất nước thống nhất có gần 3000 người. Đến nay, tổng số cán bộ của toàn ngành đã có gần 11.000 người hoạt động ở các cấp kiểm sát. Cơ cấu đội ngũ Kiểm sát viên, Điều tra viên hiện nay đã chiếm 72% tổng số cán bộ toàn ngành (159 Kiểm sát viên VKSNDTC, 2.395 Kiểm sát viên cấp tỉnh, 4.998 Kiểm sát viên cấp huyện, 7 Điều tra viên cao cấp, 14 Điều tra viên trung cấp, 2 Điều tra viên sơ cấp).

Ngành Kiểm sát luôn chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Năm 1977, toàn ngành Kiểm sát chỉ có 0,3% số người có trình độ Đại học luật và Cao đẳng kiểm sát, năm 1988 là 18%. Đến nay, đã có 5.961 người có trình độ Đại học luật trở lên, chiếm 56,6% tổng số cán bộ toàn ngành, trong đó Thạc sĩ 110 người, Tiến sĩ 19 người. Ngành Kiểm sát đang tiếp tục đẩy nhanh tiến độ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ để đáp ứng yêu cầu của từng chức danh cán bộ và yêu cầu của sự nghiệp đổi mới của đất nước,

Tuyệt đại bộ phận cán bộ, Kiểm sát viên, Điều tra viên và công chức trong ngành đã không ngừng học tập, tôi luyện, trở thành những người có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhà nước, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được Đảng và nhân dân tin cậy. Ngành Kiểm sát nhân dân đã có thái độ kiên quyết, kịp thời xử lý nghiêm minh những cán bộ, Kiểm sát viên vi phạm, phạm tội để đội ngũ được trong sạch và vững mạnh.

Cơ sở vật chất của ngành Kiểm sát những năm gần đây được tăng cường đáng kể. Để khắc phục tình trạng thiếu thốn, xuống cấp về trụ sở làm việc trong những năm trước đây, từ năm 2001 đến năm 2005 Nhà nước đã cấp cho ngành Kiểm sát để đầu tư xây dựng trụ sở làm việc của Viện kiểm sát nhân dân các cấp là 420.800 triệu đồng. Ngày 27/8/2002 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 716/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đầu tư xây dựng hệ thống 225 trụ sở làm việc của Viện kiểm sát nhân dân các cấp giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2005.

Tổng số trụ sở của Viện kiểm sát các cấp và các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao hiện nay là 728, trong đó có 64 trụ sở thuộc Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, 658 trụ sở thuộc Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, 2 trụ sở thuộc Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, 2 trụ sở thuộc Viện phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao, 2 Trường Kiểm sát).

Đến nay, số trụ sở ổn định có thể đáp ứng được yêu cầu làm việc hoặc đang được đầu tư xây dựng là 350 (đạt 48% tổng số trụ sở). Số trụ sở còn lại đang được xem xét để đầu tư xây dựng mới hoặc sửa chữa, cải tạo.

 Cùng với việc được đầu tư xây dựng, sửa chữa, cải tạo trụ sở, trong những năm qua, ngành Kiểm sát cũng được tăng cường đầu tư phương tiện làm việc nhằm từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của ngành. Từ năm 2002 đến nay, ngành Kiểm sát đã thực hiện Đề án trang bị phương tiện làm việc cho ngành giai đoạn I với tổng số tiến được cấp là 83.235 triệu đồng. Mạng lưới công nghệ thông tin, cơ yếu của ngành đang từng bước được trang bị theo hướng hiện đại để phục vụ cho hoạt động nghiệp vụ kiểm sát và hoạt động quản lý, chỉ đạo điều hành trong ngành.

Với những cố gắng và trưởng thành qua 45 năm xây dựng và phát triển, ngành Kiểm sát nhân dân đã hai lần được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh cao quý (vào năm 1985 và năm 1990); nhiều tập thể đơn vị và cá nhân trong ngành được tặng thưởng Huân chương Lao động  các loại.

Cùng với sự ra đời của ngành Kiểm sát nhân dân, hệ thống Viện kiểm sát quân sự các cấp cũng được tổ chức trong quân đội đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Quân uỷ Trung ương và chịu sự chỉ đạo tập trung, thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. 45 năm qua, trong từng giai đoạn của đất nước, các Viện kiểm sát quân sự đã thường xuyên bám sát nhiệm vụ chính trị của quân đội, xây dựng và phát triển lực lượng, bảo đảm thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, củng cố quốc phòng an ninh, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại.

Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, so với với yêu cầu của công cuộc đổi mới, công tác của ngành Kiểm sát vẫn còn những khuyết điểm, tồn tại. ở nhiều Viện kiểm sát địa phương, việc quản lý thông tin tội phạm chưa tốt, thực hiện kiểm sát các hoạt động tư pháp chưa chặt chẽ nên còn để xảy ra tình trạng bỏ lọt tội phạm, nhiều vụ án còn để kéo dài quá hạn luật định. Vẫn còn để xảy ra một số trường hợp khởi tố, bắt, tạm giữ, tạm giam, truy tố oan, sai. Chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và nhữngc việc khác theo quy định của pháp luật chưa cao. Việc giải quyết các đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án còn chậm. Công tác thi hành án còn nhiều tồn tại có phần trách nhiệm của Viện kiểm sát các cấp. Chất lượng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên hiện nay tuy được nâng lên nhưng vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu của cải cách tư pháp. Công tác quản lý, rèn luyện cán bộ có nơi, có lúc chưa tốt dẫn đến một số cán bộ mắc sai phạm phải bị xử lý kỷ luật.

III. Một số bài học kinh nghiệm

Từ những thành tựu và những thiếu sót, tồn tại qua 45 năm xây dựng và trưởng thành của ngành Kiểm sát nhân dân có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm chủ yếu dưới đây:

Một là, phải luôn bám sát các nhiệm vụ chính trị của cách mạng để xác định nhiệm vụ trọng tâm của ngành trong từng giai đoạn.

Quán triệt quan điểm công tác kiểm sát là công tác chính trị, công tác kiểm sát phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, ngành Kiểm sát  đều quán triệt đầy đủ các Nghị quyết của Đảng, của Quốc hội, căn cứ vào pháp luật để đề ra các nhiệm vụ trọng tâm của mình. Suốt 45 năm xây dựng và trưởng thành,  ngành Kiểm sát nhân dân luôn xác định cho mình nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa với thực hiện nhiệm vụ chính trị của đất nước.

Hai là, phải luôn chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, có trình độ, năng lực nghiệp vụ, dũng cảm đấu tranh bảo vệ công lý và pháp luật, có tinh thần trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp.

Thực tiễn đã khẳng định, công tác cán bộ luôn luôn giữ vị trí quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển của ngành. Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát có ý thức chính trị vững vàng, am hiểu về chuyên môn nghiệp vụ, trong sáng về phẩm chất đạo đức, có tinh thần trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp là yếu tố quyết định thành công của hoạt động kiểm sát. Trong giai đoạn hiện nay, trước yêu cầu của cải cách tư pháp, ngành Kiểm sát phải tiếp tục chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát theo 5 đức tính mà Bác Hồ đã dạy: Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn; đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, gắn công tác đánh giá, quy hoạch với công tác đào tạo, bồi dưỡng và luân chuyển cán bộ theo tinh thần đổi mới; tăng cường công tác quản lý, giáo dục và rèn luyện cán bộ;  xử lý kịp thời, nghiêm minh những cán bộ có sai phạm.

Cùng với công tác cán bộ ngành Kiểm sát phải tiếp tục kiện toàn, củng cố tổ chức bộ máy cho phù hợp với yêu cầu của tình hình mới, hoàn thiện cơ chế quản lý, chỉ đạo, điều hành có hiệu quả, bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất trong ngành.

Ba là, tăng cường sự lãnh đạo của  Đảng đối với ngành Kiểm sát là nhân tố quyết định hiệu quả hoạt động của  Viện kiểm sát nhân dân.

Để xây dựng ngành Kiểm sát thật sự trong sạch, vững mạnh, phát huy hiệu lực và hiệu quả hoạt động, ngành Kiểm sát phải quán triệt đầy đủ các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng để xác định nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn cách mạng; đổi mới mạnh mẽ về tổ chức và hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng; không ngừng củng cố, kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban cán sự Đảng, xây dựng Đảng bộ, Chi bộ kiểm sát ở tất cả các cấp kiểm sát thực sự trong sạch, vững mạnh.

Bốn là, để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát phải chủ động phối hợp với các cơ quan nhà nước, trước hết là các cơ quan bảo vệ pháp luật trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ do pháp luật quy định.

Thực tiễn những năm qua cho thấy, để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, Viện kiểm sát phải chủ động phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ do pháp luật quy định, nhất là phối hợp với các cơ quan bảo vệ pháp luật khác trong việc triển khai thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, của Quốc hội, Chính phủ về công tác bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; đấu tranh phòng, chống các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, các tội phạm về tham nhũng, buôn lậu, ma tuý và các loại tội phạm có tổ chức.

Năm là, Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân các cấp phải được sự giám sát và ủng hộ của nhân dân, quán triệt đầy đủ tính nhân dân trong hoạt động kiểm sát.

Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Viện kiểm sát các cấp phải dựa vào nhân dân, chịu sự giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan đoàn thể ở Trung ương và địa phương, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân, tích cực đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Thực hiện tốt mối quan hệ phối hợp thường xuyên với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị xã hội.

Viện kiểm sát các cấp cũng phải luôn phối hợp chặt chẽ với các cơ quan báo chí để nắm thông tin về tội phạm và tuyên truyền pháp luật, tạo sự đồng thuận trong dư luận xã hội để đấu tranh với tội phạm và vi phạm pháp luật, xây dựng ngành Kiểm sát trong sạch, vững mạnh.

 

*

*        *

45 năm qua, được sự quan tâm lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự giám sát chặt chẽ của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Chính phủ và ủy ban nhân dân, sự ủng hộ và giám sát của ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, các cơ quan đoàn thể ở Trung ương và địa phương, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, đoàn thể, tổ chức và sự ủng hộ của nhân dân, ngành Kiểm sát nhân dân đã đạt được nhiều thành quả to lớn. Trong giai đoạn hiện nay, để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ theo yêu cầu của cải cách tư pháp, toàn thể cán bộ, Kiểm sát viên ngành Kiểm sát nhân dân sẽ tiếp tục phấn đấu, khắc phục khó khăn, thử thách vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao cho, góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, phục vụ có hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Xin cảm ơn!












Liên kết

Số lần truy nhập 25556280

Trang chủ Liên hệ Góp ý Về đầu trang

Trang thông tin điện tử của Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trụ sở : số 44 - Lý Thường Kiệt - Hà Nội; Điện thoại : 04.8255058-332; Fax : 04.8255400

Giấy phép số 294/GP-BC ngày 09/07/2007 của Cục Báo chí Bộ Văn hoá thông tin

Người chịu trách nhiệm : Nguyễn Hải Trâm, Chánh Văn phòng VKSNDTC

© Viện kiểm sát nhân dân tối cao thiết kế và giữ bản quyền.

Mong bạn đọc góp ý kiến, phê bình. Thư điện tử liên hệ: