thong bao
Trang chủ Tiếng Việt English
TỔ CHỨC BỘ MÁY VÀ CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ
CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG TIẾN TRÌNH CẢI CÁCH TƯ PHÁP
 
Tiến sỹ LÊ HỮU THỂ
Viện trưởng Viện Khoa học kiểm sát VKSNDTC
 
 
(Tiến sỹ Khuất Văn Nga, Bí thư Đảng uỷ, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trao huy hiệu và giấy chứng nhận 40 năm tuổi Đảng cho các đồng chí đảng viên thuộc Đảng bộ Viện kiểm sát nhân dân tối cao)
I. Đặt vấn đề  
Cải cách Viện kiểm sát nhân dân là một trong những nội dung quan trọng của cải cách bộ máy Nhà nước nói chung và cải cách tư pháp nói riêng nhằm mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến việc đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, trong đó có Viện kiểm sát nhân dân. Các chủ trương về cải cách tư pháp của Đảng ta được thể hiện trong các văn kiện của Đảng qua các kỳ Đại hội VI, VII, VIII, IX và X. Đặc biệt, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, chỉ rõ phải “Tổ chức hệ thống Toà án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, gồm: Toà án sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện; Toà án phúc thẩm có nhiệm vụ chủ yếu là xét xử phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số vụ án; Toà thượng thẩm được tổ chức theo khu vực có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm; Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm… Trước mắt, Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức Toà án. Nghiên cứu việc chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố, tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra”. Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cũng nhấn mạnh phải “Thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra”.
Để thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, ngày 22/2/2006, Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương đã ban hành Kế hoạch số 05-KH/CCTP, giao cho Ban Cán sự Đảng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì thực hiện nhiệm vụ “Nghiên cứu xây dựng mô hình tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong tiến trình cải cách tư pháp; chuẩn bị điều kiện để sắp xếp tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân các cấp cho phù hợp với việc đổi mới mô hình tổ chức Toà án theo thẩm quyền xét xử sẽ được thực hiện sau năm 2010 (việc nghiên cứu Đề án cần hoàn thành trong năm 2010 để trình các cơ quan có thẩm quyền quyết định)”.
Ngày 19/9/2007, Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương đã ban hành Chương trình số 06-Ctr/CCTP về Chương trình trọng tâm công tác tư pháp từ nay đến hết năm 2008, giao cho Ban cán sự Đảng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan triển khai nghiên cứu, xây dựng Đề án về mô hình tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong tiến trình cải cách tư pháp (Kế hoạch triển khai nghiên cứu, xây dựng Đề án được thực hiện từ năm 2007; trình Đề án lần 1 với Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương vào Quý II/2008; hoàn thành Đề án vào cuối năm 2008).
Theo chủ trương cải cách tư pháp đã được nêu trong các Nghị quyết của Đảng, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát trong thời gian tới sẽ được tổ chức lại phù hợp với hệ thống tổ chức Toà án. Có rất nhiều vấn đề quan trọng cần phải được nghiên cứu, giải quyết cả về mặt lý luận và thực tiễn. Vấn đề có ý nghĩa quyết định là phải định rõ mô hình tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát, quan hệ giữa Viện kiểm sát và các cơ quan tư pháp khác, giữa Viện kiểm sát với các bộ phận khác của hệ thống chính trị.
Vì vậy, việc triển khai nghiên cứu về mô hình tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong tiến trình cải cách tư pháp là hết sức cần thiết nhằm thực hiện một cách kịp thời, đầy đủ, nghiêm túc các chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp nói chung và cải cách cơ quan Viện kiểm sát nhân dân nói riêng, tổ chức lại hệ thống cơ quan Viện kiểm sát theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, góp phần hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
II. Khái quát thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ thống viện kiểm sát nhân dân hiện nay
Lịch sử hình thành và phát triển của Viện kiểm sát gắn liền với quá trình phát triển của Nhà nước và cách mạng Việt Nam. Từ tháng 9/1945 đến trước năm 1958, sự hình thành và phát triển của ngành Công tố gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển của ngành Toà án, Cơ quan Công tố được tổ chức bên trong hệ thống Toà án. Tại phiên họp ngày 29 tháng 4 năm 1958, Quốc hội thông qua Đề án của Hội đồng Chính phủ nhằm tăng cường thêm một bước cho Chính phủ và bộ máy Nhà nước ở cấp Trung ương, trong đó có nội dung thành lập hệ thống Viện công tố độc lập, tách khỏi sự quản lý của Bộ Tư pháp. Trên cơ sở đó, Viện công tố được tổ chức thành một hệ thống cơ quan độc lập, tách khỏi tổ chức của Toà án và sự quản lý của Bộ Tư pháp, Viện công tố Trung ương được đặt trực thuộc Hội đồng Chính phủ, có trách nhiệm, quyền hạn ngang một Bộ. Viện công tố có nhiệm vụ “Giám sát việc tuân thủ và chấp hành pháp luật của Nhà nước, truy tố theo pháp luật hình sự những kẻ phạm pháp để bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ tài sản của công, bảo vệ quyền và lợi ích của công dân, bảo đảm công cuộc kiến thiết và cải tạo xã hội chủ nghĩa tiến hành thuận lợi”.
 
(Tiến sỹ Dương Thanh Biểu, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì Hội nghị giao ban công tác 6 tháng đầu năm 2008 với Viện kiểm sát nhân dân
 các tỉnh vùng Tây Bắc)
 
Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 là cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc xây dựng hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy Nhà nước. Tiếp đó, các bản Hiến pháp năm 1980, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981, Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992 và năm 2002 tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của Viện kiểm sát trong việc bảo đảm pháp chế thông qua các công tác thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật.
Trong thời kỳ đổi mới, với việc thực hiện các Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VI, VII, VIII, IX, X và các Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương (khoá VII), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 và lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương (khoá VIII), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát đã có những thay đổi quan trọng, cụ thể là: 1) Về chức năng, nhiệm vụ: Viện kiểm sát nhân dân các cấp thôi không thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội để tập trung làm tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; thu hẹp phạm vi thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát theo hướng Cơ quan điều tra Viện kiểm sát chỉ điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp; thu hẹp phạm vi kiểm sát xét xử dân sự theo hướng Viện kiểm sát thôi không thực hiện thẩm quyền khởi tố vụ án dân sự, không tham gia 100% các phiên toà xét xử sơ thẩm và phúc thẩm dân sự mà tập trung vào kiểm sát các quyết định và bản án của cơ quan xét xử như quyết định thụ lý vụ án, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết định và bản án sơ thẩm, phúc thẩm…, tham gia phiên toà đối với những vụ án do Toà án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại, các việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án, các vụ, việc dân sự mà Viện kiểm sát kháng nghị bản án, quyết định của Toà án; 2) Về tổ chức bộ máy: Giải thể các đơn vị thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội (kiểm sát chung) ở Viện kiểm sát các cấp; giải thể các Phòng điều tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; 3) Về hoạt động tố tụng: Quán triệt quan điểm của Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị “Hoạt động công tố được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội” và với việc thực hiện Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, Viện kiểm sát thực hiện thẩm quyền phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam; thực hiện việc tranh luận dân chủ tại phiên toà và đối đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án do người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác nêu lên; thực hiện việc tăng thẩm quyền đối với các Viện kiểm sát nhân dân quận, huyện phù hợp với thẩm quyền xét xử của Toà án; 4) Về chế định Kiểm sát viên, Điều tra viên: Tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực công tác và phẩm chất đạo đức, chính trị đối với Kiểm sát viên, Điều tra viên theo yêu cầu đặc thù của công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp đã được cụ thể hoá bằng các quy định pháp luật và thực hiện trên thực tế; chế độ bầu Kiểm sát viên, Điều tra viên được thay bằng chế độ tuyển chọn, bổ nhiệm Kiểm sát viên, Điều tra viên.
Hiện nay, theo quy định của Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát được tổ chức theo đơn vị hành chính, gồm có Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương (bao gồm: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh), Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi tắt là Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện) và các Viện kiểm sát quân sự (bao gồm: Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương (gọi tắt là Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu) và Viện kiểm sát quân sự khu vực).
Về chức năng, nhiệm vụ, Viện kiểm sát được giao thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp (kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự; kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của Toà án nhân dân; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù; kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về các hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp). Trong phạm vi chức năng của mình, Viện kiểm sát có nhiệm vụ góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân, bảo đảm để mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải được xử lý theo pháp luật.
Về hệ thống tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân (không tính các Viện kiểm sát quân sự), hiện nay trên phạm vi toàn quốc có 743 Viện kiểm sát, bao gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, 64 Viện kiểm sát cấp tỉnh và 678 Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện.
Về cơ cấu tổ chức, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án kinh tế - chức vụ, Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án hình sự về trật tự xã hội, Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án tham nhũng, Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án ma tuý, Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án an ninh, Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự, Vụ Kiểm sát việc tạm giữ - tạm giam - quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù, Vụ Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, Cục điều tra, Vụ Khiếu tố, Vụ Kiểm sát thi hành án, Vụ Kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính - kinh tế - lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật, các Viện Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm (hiện tại có 3 đơn vị là: Viện Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội, Viện Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng, Viện Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh), Văn phòng, Viện Khoa học kiểm sát, Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ Kế hoạch - Tài chính, Vụ Hợp tác quốc tế, Cục Thống kê tội phạm, Ban Thanh tra, Tạp chí Kiểm sát, Báo Bảo vệ pháp luật, Trường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát.
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cơ cấu tổ chức gồm có Uỷ ban kiểm sát, các phòng nghiệp vụ (việc tổ chức các phòng nghiệp vụ ở Viện kiểm sát 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là không đồng bộ như nhau, nhưng về cơ bản có các phòng sau: Phòng Thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự; Phòng Thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử sơ thẩm án an ninh và án ma tuý; Phòng Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm án hình sự; Phòng Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù; Phòng Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự; Phòng Kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính - kinh tế - lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật; Phòng Kiểm sát thi hành án; Phòng Khiếu tố; Phòng Thống kê tội phạm; Phòng Tổ chức cán bộ; Văn phòng tổng hợp).
Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, cơ cấu tổ chức gồm 3 bộ phận công tác: bộ phận thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử và kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam; bộ phận kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật, kiểm sát thi hành án và bộ phận Văn phòng tổng hợp, thống kê tội phạm và khiếu tố.
Về cán bộ, Kiểm sát viên, tại thời điểm tháng 01/2008, toàn ngành có 11.760 Kiểm sát viên, cán bộ, công chức, trong đó có 10.428 Kiểm sát viên, cán bộ, công chức làm chuyên môn nghiệp vụ kiểm sát. Viện kiểm sát nhân dân tối cao có 165 Kiểm sát viên, 8 Điều tra viên cao cấp; 64 Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có 2.266 Kiểm sát viên; 678 Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có 3.988 Kiểm sát viên. Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị, trong số 10.428 công chức nghiệp vụ kiểm sát, có 8.754 người có trình độ cử nhân luật trở lên (với 21 Tiến sỹ, 109 Thạc sỹ), chiếm 84%; có 892 người đạt trình độ cao đẳng kiểm sát, chiếm 8,5%; có 1.608 người đạt trình độ cử nhân hoặc cao cấp chính trị, chiếm 15,5%, có 5.170 người đạt trình độ trung cấp chính trị, chiếm 50%.
 
 
(Thiếu tướng Trần Phước Tới và đồng chí Hoàng Nghĩa Mai, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì Hội nghị giao ban công tác 6 tháng đầu năm 2008 với Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh miềm Trung và Tây Nguyên)
 
Về hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, trong những năm qua, tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật tiếp tục diễn biến phức tạp, số lượng các vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát liên tục gia tăng. Riêng năm 2007 (số liệu tính từ 01/10/2006 đến 31/8/2007), Viện kiểm sát các cấp thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với 77.118 vụ án/119.689 bị can, trong đó không phê chuẩn khởi tố bị can đối với 300 người do không đủ căn cứ pháp luật, không phê chuẩn lệnh tạm giam và lệnh bắt tạm giam đối với 531 bị can, truy tố 53.093 vụ án/89.739 bị can (tăng 736 vụ, 5.098 bị can so với cùng kỳ năm 2006), đạt 99,1% về số vụ, 98,8% về số bị can so với số vụ và số bị can đã xử lý.
Viện kiểm sát các cấp thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử đối với 49.624 vụ án theo thủ tục sơ thẩm, 10.041 vụ án theo thủ tục phúc thẩm, 175 vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm. Qua công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát các cấp đã ban hành 797 kháng nghị bản án theo thủ tục phúc thẩm, Toà án đã xét xử 672 vụ do Viện kiểm sát kháng nghị, chấp nhận 493 kháng nghị, đạt tỷ lệ 73,6%; ban hành 117 kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, Toà án đã xét xử 87 vụ do Viện kiểm sát kháng nghị, chấp nhận 78 kháng nghị, đạt tỷ lệ 89,6%.
Qua công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù đã ban hành 1.569 kháng nghị, kiến nghị yêu cầu cơ quan quản lý nhà tạm giữ, trại tạm giam khắc phục vi phạm pháp luật trong công tác này, quyết định trả tự do cho 24 người bị giam giữ không có căn cứ và trái pháp luật; trực tiếp kiểm tra, thẩm định 43.711 hồ sơ đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù cho phạm nhân và đã đề nghị đưa ra khỏi danh sách 225 trường hợp vì không đủ điều kiện xét giảm.
Qua xác minh tố giác, tin báo về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp đã khởi tố, điều tra 11 vụ án/14 bị can về các tội ra bản án trái pháp luật, dùng nhục hình, đưa hối lộ, nhận hối lộ… mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp.
Qua công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, các vụ án hành chính và những việc khác theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát các cấp đã ban hành 973 văn bản kiến nghị yêu cầu Toà án khắc phục vi phạm trong việc giải quyết các vụ việc dân sự, chủ yếu là vi phạm thời hạn gửi quyết định, bản án cho Viện kiểm sát; ban hành 399 kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm (tăng 100 kháng nghị so với cùng kỳ năm 2006), Toà án đã xét xử 298 vụ, chấp nhận 238 kháng nghị, đạt tỷ lệ 79,8%. Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành 179 kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, Toà án đã xét xử và chấp nhận 146 kháng nghị, đạt tỷ lệ 81,5%.
Qua công tác kiểm sát thi hành án hình sự, đã kiến nghị với Chánh án Toà án nhân dân tối cao chỉ đạo khắc phục việc các Toà án địa phương chậm ra quyết định thi hành án, quyết định thi hành án sai nội dung bản án hoặc chậm gửi bản án, quyết định về tài sản và vật chứng liên quan đến thi hành án. Kiến nghị cơ quan Công an địa phương khắc phục vi phạm, phối hợp chặt chẽ với cơ quan thi hành án nắm chắc số bị án bị phạt tù, nhất là số có hình phạt tù từ 5 năm trở xuống trốn thi hành từ ngày 31/12/2006 trở về trước để phân loại, đề xuất các biện pháp giải quyết dứt điểm số bị án trốn thi hành, góp phần nâng cao hiệu quả công tác thi hành án.
Trong năm 2007, ngành Kiểm sát đã tiếp nhận 49.406 đơn khiếu nại, tố cáo và kiến nghị, phản ánh có liên quan đến khiếu nại, tố cáo. Qua phân loại, xác định có 11.971 vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát, đã giải quyết được 9.009 vụ, việc, đạt 75,2%; đang xem xét giải quyết 2.962 vụ, việc. Thông qua công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp và kết quả rà soát đơn khiếu kiện về tư pháp đã phát hiện nhiều vi phạm, tồn tại trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của một số cơ quan tư pháp như việc phân loại đơn không chính xác dẫn đến giải quyết sai thẩm quyền, sổ sách thụ lý không bảo đảm theo quy định của pháp luật, nhiều cơ quan không bố trí nơi tiếp công dân độc lập, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo không lập hồ sơ, thời hạn giải quyết đơn kéo dài so với quy định của pháp luật... Kết quả của hoạt động kiểm sát đã ban hành hàng trăm kiến nghị, kháng nghị yêu cầu các cơ quan tư pháp khắc phục vi phạm trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp.
  
(Đồng chí Trần Quốc Vượng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trao phần thưởng cho các cháu học sinh lớp một là con cán bộ, công chức cơ quan đạt danh hiệu Học sinh giỏi, xuất sắc năm học 2007 - 2008)
 
III. Các nội dung cơ bản về tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong tiến trình cải cách tư pháp
1. Quan điểm chỉ đạo, yêu cầu đối với việc tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát sau năm 2010 theo yêu cầu cải cách tư pháp
Trên cơ sở các chủ trương, quan điểm, định hướng và nội dung về cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết của §ảng, việc tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát cần quán triệt các quan điểm sau đây:
- Thứ nhất là, phải bảo đảm quán triệt đầy đủ, đúng đắn, toàn diện các quan điểm, chủ trương của §ảng về cải cách bộ máy Nhà nước nói chung và cải cách tư pháp nói riêng, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; phải trên cơ sở các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước và bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của §ảng, sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan dân cử và nhân dân.
- Thứ hai là, phải được tiến hành đồng bộ với cải cách lập pháp và cải cách hành chính, với việc đổi mới và kiện toàn các cơ quan tư pháp, đồng thời phải nhằm nâng cao và bảo đảm sự độc lập của hoạt động tư pháp.
- Thứ ba là, phải bảo đảm tính hệ thống, đồng bộ của Viện kiểm sát các cấp.
- Thứ tư là, phải bảo đảm tính kế thừa truyền thống, kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của cơ quan Công tố/Kiểm sát của Nhà nước ta trong gần 70 năm qua, nhất là gần 50 năm tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát; đồng thời, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của cơ quan Công tố/Kiểm sát của các nước trên thế giới và trong khu vực, phù hợp với truyền thống văn hoá, điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội cụ thể của nước ta.
- Thứ năm là, phải được tiến hành khẩn trương, tích cực, nhưng cần phải thận trọng, có bước đi vững chắc, phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước, tránh gây xáo trộn, gián đoạn cho hoạt động tư pháp nói chung, hoạt động thực hành quyền công tố và hoạt động kiểm sát nói riêng, bảo đảm tính liên tục, hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, vi phạm pháp luật.
2. Về chức năng của Viện kiểm sát trong bộ máy Nhà nước
Tiếp tục khẳng định Viện kiểm sát thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp.
Ở hầu hết các quốc gia, cùng với chức năng thực hành quyền công tố, Viện công tố/Viện kiểm sát còn tham gia ở một mức độ nhất định các hoạt động trên lĩnh vực dân sự, hành chính, thương mại, thi hành án và giam giữ, cải tạo. Nhiều quốc gia vẫn giao cho Viện công tố/Viện kiểm sát chức năng giám sát việc tuân theo pháp luật, cùng với chức năng thực hành quyền công tố.
Nghiên cứu quá trình cải cách cơ quan Viện kiểm sát ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi như Liên bang Nga và Trung Quốc cho thấy:
Ở Liên bang Nga, sau khi Liên Xô tan rã (1991), Luật liên bang về Viện kiểm sát Liên bang Nga (ban hành năm 1995 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2007) quy định Viện kiểm sát có chức năng, nhiệm vụ, hệ thống tổ chức gần giống như Viện kiểm sát Liên Xô trước đây và hoạt động của Viện kiểm sát Liên bang Nga hiện nay đạt được những kết quả rất tích cực.
Trung Quốc là quốc gia cải cách kinh tế rất thành công theo hướng thiết lập nền kinh tế thị trường, đã gia nhập WTẶ. Theo Hiến pháp Trung Quốc, Viện kiểm sát là cơ quan giám sát pháp luật của Nhà nước. Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân Trung Quốc năm 1995 quy định, ngoài chức năng công tố, Viện kiểm sát có chức năng kiểm sát các hoạt động điều tra, kiểm sát xét xử (hình sự, dân sự); kiểm sát giam giữ, cải tạo, kiểm sát thi hành án. Hoạt động của Viện kiểm sát Trung Quốc rất có hiệu quả, đã và đang được §ảng Cộng sản và Nhà nước Trung Quốc tiếp tục củng cố, tăng cường như một hệ thống cơ quan Nhà nước độc lập, được ghi trong Hiến pháp và trực thuộc Quốc hội.
 
 
(Tiến sỹ Khuất Văn Nga, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
làm việc với bà Maggie Jacson, Trợ lý thứ nhất Tổng Chưởng lý Australia)
 
Nghiên cứu, tổng kết quá trình hình thành và phát triển của cơ quan Công tố nước ta giai đoạn 1945 - 1960, chúng ta thấy rằng: Cơ quan Công tố không chỉ thực hành quyền công tố mà còn thực hiện giám sát đối với các hoạt động tư pháp; cơ quan Công tố không chỉ thực hiện chức năng, nhiệm vụ trên lĩnh vực hình sự, mà cả trên các lĩnh vực dân sự, thi hành án, giam giữ, cải tạo; cơ quan Công tố luôn có vai trò chỉ đạo hoạt động điều tra và khi cần thiết có thể trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra.
Từ năm 1960 đến năm 2002, qua nhiều lần tiến hành đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhằm không ngừng nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống cơ quan này, các Hiến pháp (1960, 1980, 1992) và các Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (1960, 1981, 1992) luôn giữ quy định về hai chức năng trên của Viện kiểm sát. Đến năm 2002, trên cơ sở Hiến pháp 1992 (sửa đổi), nhằm bảo đảm cho Viện kiểm sát tập trung thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định Viện kiểm sát có hai chức năng: Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp. Qua tổng kết 04 năm triển khai Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và sơ kết 03 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cho thấy kết quả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát đã có những chuyển biến mạnh mẽ, tích cực, với chất lượng, hiệu quả không ngừng được nâng cao, được đánh giá có hiệu quả.
Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất tham gia tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng (hình sự, dân sự), có điều kiện tốt nhất để thực hiện hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp. Hoạt động kiểm sát có mối quan hệ biện chứng, hữu cơ với hoạt động thực hành quyền công tố, bảo đảm cho hoạt động thực hành quyền công tố đúng tội, đúng người, đúng pháp luật và giải quyết các vụ, việc dân sự đúng pháp luật.
Mặt khác, có một số lĩnh vực rất đặc biệt, liên quan trực tiếp đến quyền cơ bản và trách nhiệm của công dân, liên quan đến tính ưu việt của chế độ xã hội như vấn đề tạm giữ, tạm giam, thi hành án phạt tù, thi hành các loại án hình sự, dân sự.v.v. không có cơ chế nào bảo đảm sự giám sát tốt hơn là củng cố và tăng cường việc giám sát tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát trong hoạt động tư pháp.
3. Về vai trò của Viện kiểm sát trong giải quyết các vụ, việc dân sự
Cần tiếp tục khẳng định và đổi mới chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ, việc dân sự và coi đó như một trong các hoạt động cơ bản của Viện kiểm sát ở nước ta sau năm 2010. Tham khảo kinh nghiệm quốc tế cho thấy, bên cạnh việc thực hành quyền công tố, cơ quan Công tố/Kiểm sát các nước đều có vị trí, vai trò nhất định trong lĩnh vực dân sự, thương mại. Nghiên cứu cơ quan Công tố/Kiểm sát Việt Nam từ năm 1945 đến nay cho thấy, tuy mức độ có khác nhau trong từng thời kỳ, nhưng vai trò của cơ quan Công tố/Kiểm sát trong việc giải quyết các vụ việc dân sự luôn luôn được khẳng định, phát huy hiệu quả trong thực tiễn đời sống xã hội, đặc biệt là thẩm quyền khởi tố các vụ việc dân sự do Viện kiểm sát tiến hành nhân danh lợi ích Nhà nước và lợi ích công cộng, đã được Nhà nước ta trao cho Viện công tố/Viện kiểm sát từ năm 1950 cho đến ngày 01/01/2005, khi Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 có hiệu lực. Đến Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004, vai trò của Viện kiểm sát trong việc giải quyết các vụ, việc dân sự đã bị thu hẹp. Qua tổng kết 02 năm thi hành Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004, đặc biệt qua công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp làm cho lượng lớn đơn khiếu nại đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm án dân sự dồn hết về Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cho thấy việc hạn chế vai trò của Viện kiểm sát theo quy định trong Bộ luật Tố tụng Dân sự cũng cần phải được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung.
Do đó, cần tiếp tục khẳng định và đổi mới chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát trong việc giải quyết các vụ việc dân sự, theo hướng: Viện kiểm sát vừa thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật vừa là người đại diện cho Nhà nước Việt Nam trong các vụ việc dân sự mà Nhà nước Việt Nam là một bên đương sự; là người (đại diện Nhà nước Việt Nam) đứng đơn khởi kiện vụ việc dân sự nhân danh lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, lợi ích của những cá nhân không có khả năng tự thực hiện quyền dân sự và/hoặc không thể tự bảo vệ mình.
 
 
(Tiến sỹ Dương Thanh Biểu, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
 phát biểu chỉ đạo tại Hội thảo sửa đổi hệ thống biểu mẫu thống kê trong ngành kiểm sát nhân dân)
 
4. Về vai trò, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Để xác định đúng đắn và đầy đủ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, cần phải xuất phát từ vấn đề mang tính nền tảng, đó là chúng ta đang áp dụng hệ thống tố tụng (mô hình tố tụng) nào, tranh tụng, thẩm vấn hay pha trộn (kết hợp), bởi lẽ ở từng hệ thống tố tụng, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Kiểm sát/Công tố mang những đặc điểm, nội dung khác nhau. ở các quốc gia theo truyền thống án lệ áp dụng hệ thống tố tụng tranh tụng, các chức năng tố tụng như buộc tội, gỡ tội, xét xử được phân định rất rõ ràng, rành mạch, trong đó chức năng buộc tội hoàn toàn thuộc về cơ quan Công tố. Cơ quan Công tố là cơ quan duy nhất có thẩm quyền quyết định việc truy tố, nhưng có vai trò rất hạn chế trong hoạt động điều tra. Công tố viên không can thiệp sâu vào quá trình điều tra, chỉ tư vấn cho Cảnh sát về căn cứ khởi tố vụ án, các vấn đề liên quan đến chứng cứ, tội danh, hướng điều tra và ý kiến của Công tố viên không mang tính chất bắt buộc đối với Cảnh sát. Chủ yếu trên cơ sở kết quả điều tra, cơ quan Công tố xem xét thấy đủ căn cứ thì quyết định truy tố, đưa vụ án ra Toà; nếu không đủ bằng chứng buộc tội thì trả hồ sơ cho Cảnh sát.
Ở các quốc gia theo truyền thống luật lục địa áp dụng hệ thống tố tụng thẩm vấn, cơ quan Công tố có vai trò rất lớn trong hoạt động điều tra, có quyền chỉ đạo hoạt động điều tra và có thể trực tiếp tiến hành điều tra bất kỳ vụ án nào nếu xét thấy cần thiết.
Các nước có nền kinh tế chuyển đổi như Liên bang Nga, Trung Quốc vẫn tiếp tục theo truyền thống luật lục địa và áp dụng hệ thống tố tụng thẩm vấn. Viện kiểm sát là một hệ thống cơ quan do Quốc hội thành lập, độc lập với Chính phủ và Toà án, vừa thực hiện chức năng công tố, vừa làm chức năng giám sát việc chấp hành pháp luật. Trong Viện kiểm sát có Cơ quan điều tra thực hiện việc điều tra một số loại tội phạm do pháp luật quy định (thường là các tội phạm tham nhũng hoặc các loại tội phạm có tính chất đặc biệt). Đối với các loại tội phạm khác do Cảnh sát tiến hành các hoạt động điều tra thì Viện kiểm sát có quyền phê chuẩn lệnh bắt giữ của Cảnh sát; giám sát việc khởi tố, điều tra, việc tạm giữ, tạm giam hoặc phê chuẩn quyết định khởi tố của Cơ quan điều tra, đưa ra yêu cầu điều tra và giám sát hoạt động điều tra.
Các quốc gia có hệ thống tố tụng kết hợp như Nhật Bản, cơ quan Công tố có vai trò rất lớn trong hoạt động điều tra, Công tố viên có quyền trực tiếp điều tra một số loại tội do pháp luật quy định; điều tra bổ sung các vụ án mà Cảnh sát đã điều tra.
Nước ta là một quốc gia theo truyền thống luật lục địa, áp dụng hệ thống tố tụng thẩm vấn. Do đó, Viện kiểm sát luôn luôn có vai trò chỉ đạo, kiểm sát hoạt động điều tra và khi cần thiết có thể trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra. Trong quá trình cải cách tư pháp, để Viện kiểm sát làm tốt hơn chức năng thực hành quyền công tố, các Nghị quyết của Đảng đã chỉ rõ, hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng; tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra; thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra, nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng khi thi hành nhiệm vụ.
Nội dung các Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp cho thấy Đảng ta chủ trương xây dựng một nền công tố mạnh, phục vụ thiết thực và hiệu quả cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, vi phạm pháp luật, trong đó Viện kiểm sát giữ vai trò quan trọng trong hoạt động điều tra.
Qua tổng kết hơn 60 năm hoạt động công tố/kiểm sát nước nhà, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm hoạt động kiểm sát/công tố của các nước trên thế giới và trong khu vực, để khắc phục tình trạng “cắt khúc” giữa hoạt động điều tra và thực hành quyền công tố, thực hiện chủ trương của Đảng xây dựng một nền công tố mạnh, đấu tranh có hiệu quả với các hành vi tội phạm và vi phạm pháp luật, tiếp tục khẳng định các quyền hạn của Viện kiểm sát đối với Cơ quan điều tra như đề ra yêu cầu điều tra, phê chuẩn các lệnh hoặc quyết định của Cơ quan điều tra có liên quan đến việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn… Đồng thời, cần quy định và thực hiện một cách cụ thể, rõ ràng, chặt chẽ để Viện kiểm sát có vai trò chủ động hơn trong hoạt động điều tra, nhằm hạn chế đến mức tối đa khả năng xảy ra oan, sai trong việc điều tra, truy tố và nâng cao chất lượng công tố.
Để tăng cường công tố trong hoạt động điều tra, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, đổi mới mạnh mẽ về mặt tổ chức, cán bộ nhằm nâng cao hơn nữa vai trò và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong quá trình điều tra vụ án hình sự, bảo đảm Viện kiểm sát thực hiện đầy đủ, hiệu quả chức năng công tố.
Về quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra, phải khẳng định các vấn đề có tính nguyên tắc sau đây:
- Thứ nhất, về tổ chức và hoạt động, cơ quan Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra không phải là một, mà là hai hệ thống cơ quan độc lập, riêng biệt; hoạt động công tố và hoạt động điều tra là hai loại hình hoạt động khác nhau. Cần lưu ý rằng, việc tách cơ quan Công tố ra thành một hệ thống cơ quan độc lập trong quan hệ với Cơ quan điều tra được coi là một bước tiến rất quan trọng của quá trình cải cách tư pháp ở nhiều nước trên thế giới.
- Thứ hai, ở tất cả các nước, việc điều tra hầu hết các vụ án hình sự đều do Cơ quan điều tra tiến hành và chịu trách nhiệm về chất lượng hoạt động điều tra. Cơ quan Công tố không chịu trách nhiệm thay cho Cơ quan điều tra về chất lượng điều tra.
- Thứ ba, cơ quan Công tố căn cứ vào kết quả điều tra của Cơ quan điều tra để kết luận có đủ chứng cứ hay không, và nếu đủ chứng cứ thì quyết định truy tố bị can ra trước cơ quan xét xử và chịu trách nhiệm về quyết định đó.
Qua tổng kết hơn 60 năm hoạt động của cơ quan Công tố/Kiểm sát nước ta và tham khảo kinh nghiệm hoạt động công tố/kiểm sát của các nước trên thế giới và trong khu vực cho thấy, để tạo điều kiện cho Viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, thì vấn đề có tính chất tiên quyết và đi trước một bước là phải cải cách Cơ quan điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp, như chủ trương thu gọn đầu mối Cơ quan điều tra; chủ trương hoạt động trinh sát phải gắn với hoạt động điều tra, nhưng phải phân biệt rõ ràng hoạt động trinh sát không theo quy định tố tụng với hoạt động điều tra theo quy định tố tụng, hoạt động quản lý hành chính với hoạt động tố tụng. Xem xét cộng đồng trách nhiệm giữa người ra quyết định và người phê chuẩn quyết định trong trường hợp oan, sai trong tố tụng hình sự, phòng ngừa tâm lý “cứ ra quyết định, nếu có oan thì đã có người phê chuẩn quyết định chịu trách nhiệm”. Như vậy sẽ phát huy được tinh thần trách nhiệm chung, đề cao nguyên tắc phối hợp giữa hai hệ thống cơ quan Công tố và điều tra.
  
(Đồng chí Trần Quốc Vượng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
 trao Huân chương Độc lập hạng Nhì của Chủ tịch nước tặng thưởng VKSND tỉnh Quảng Ninh)
 
5. Về vị trí của Viện kiểm sát trong hệ thống bộ máy Nhà nước
Ở nước ta, cơ quan Viện kiểm sát thuộc hệ thống các cơ quan tư pháp, do đó, việc xác định vị trí của hệ thống cơ quan này phải trên cơ sở bảo đảm sự độc lập của hệ thống cơ quan tư pháp. Viện kiểm sát là một thiết chế đặc thù trong tổ chức bộ máy Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Yêu cầu đặt ra đối với các Kiểm sát viên là phải hành động một cách vô tư, khách quan, căn cứ vào các tiêu chí pháp luật, không thiên vị. Với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp thì cần tổ chức Viện kiểm sát thành một hệ thống cơ quan Nhà nước độc lập. Từ năm 1945 đến nay, việc xác định vị trí của cơ quan Công tố/Kiểm sát trong bộ máy Nhà nước ta luôn luôn thể hiện xu hướng khẳng định sự độc lập của hệ thống cơ quan này. Từ khi thành lập Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân luôn là một hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy Nhà nước, được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành. Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các địa phương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm; chịu sự giám sát của Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Nước trong thời gian Quốc hội không họp.
Ở một số nước có nền kinh tế chuyển đổi như Trung Quốc, Liên bang Nga, Viện kiểm sát là cơ quan độc lập với Chính phủ và Toà án. ở Trung Quốc, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu ra và chịu trách nhiệm trước cơ quan này. Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Tại Liên bang Nga, Tổng Kiểm sát trưởng do Hội đồng liên bang (giống Thượng nghị viện) bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Tổng thống. Phó Tổng Kiểm sát trưởng do Hội đồng liên bang bổ nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Tổng Kiểm sát trưởng. Viện kiểm sát Liên bang Nga được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành, các Kiểm sát viên cấp dưới phải phục tùng Kiểm sát viên cấp trên và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Tổng Kiểm sát trưởng; thực hiện các thẩm quyền của mình độc lập với chính quyền địa phương.
Ngay tại một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Viện công tố cũng được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành, độc lập với các cơ quan chính quyền địa phương. Các Công tố viên chịu sự lãnh đạo của Công tố viên cấp trên trực tiếp và thống nhất chịu sự lãnh đạo của Tổng Công tố trưởng.
Từ những kinh nghiệm trên và với chức năng, nhiệm vụ như đã trình bày thì hệ thống tổ chức của Viện kiểm sát sau năm 2010 là một hệ thống cơ quan Nhà nước độc lập, thống nhất từ Trung ương đến địa phương.
Tại Báo cáo số 16-BC/CCTP ngày 05/9/2007 của Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương “Báo cáo kết quả nghiên cứu về cải cách tư pháp tại Canada, Trung Quốc và Nhật Bản” của Đoàn công tác của Ban chỉ đạo Cải cách tư pháp theo ý kiến chỉ đạo của Đồng chí Nguyễn Minh Triết, Uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Nước, cũng đã khẳng định: “Đối với Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống Viện kiểm sát theo cơ cấu ngành dọc để bảo đảm tính độc lập trong công tác chuyên môn; việc xây dựng mô hình Viện công tố trực thuộc Chính phủ, chỉ đạo Cơ quan điều tra cần nghiên cứu thận trọng, không nóng vội”.
Qua tổng kết quá trình xây dựng, phát triển của ngành Kiểm sát và tham khảo kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy cần tiếp tục duy trì hệ thống tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát sau năm 2010 theo hướng cơ bản là:
- Các Viện kiểm sát tiếp tục thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các hoạt động tư pháp;
- Tổ chức hệ thống Viện kiểm sát là một hệ thống độc lập, thống nhất từ Trung ương đến địa phương.
 
 
6. Về tên gọi của Viện kiểm sát các cấp
Về nguyên tắc, tên gọi của Viện kiểm sát mỗi cấp; trước hết, phải thể hiện được chức năng, nhiệm vụ chủ yếu và vị trí của Viện kiểm sát cấp đó trong hệ thống Viện kiểm sát; thứ hai, tên gọi phải chính xác, ngắn gọn, dễ hiểu, bảo đảm tính kinh tế tối đa, dung lượng tối ưu của câu chữ; thứ ba, khắc phục tối đa tính tuyên ngôn của tên gọi, tránh rườm rà và phức tạp. Căn cứ vào các nguyên tắc (tiêu chí) nêu trên, thì tên gọi của Viện kiểm sát các cấp nên bỏ cụm từ “nhân dân” và 4 cấp kiểm sát được xác định cụ thể như sau: Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực; Viện kiểm sát phúc thẩm (cấp tỉnh); Viện kiểm sát cấp cao; Viện kiểm sát tối cao.
Do Viện kiểm sát các cấp được tổ chức phù hợp với tổ chức hệ thống Toà án theo cấp xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính nên Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực và Viện kiểm sát cấp cao (cũng được tổ chức theo khu vực) không dùng địa danh hành chính để gọi tên mà gọi theo chữ số La Mã. Ví dụ: Trên địa bàn Hà Nội có 9 Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực thì được gọi là các Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực I, II, III, IV, V, VI, VII, VIII, IX Thành phố Hà Nội. Và, cả nước có 7 Viện kiểm sát cấp cao thì được gọi là các Viện kiểm sát cấp cao I, II, III, IV, V, VI, VII (tương tự như các Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm I, II, III hiện nay).
7. Về hệ thống tổ chức Viện kiểm sát các cấp
Theo Nghị quyết số 49-NQ/TW, sau 2010, Viện kiểm sát được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Toà án. Nghị quyết số 49-NQ/TW chỉ rõ, tổ chức hệ thống Toà án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính. Như vậy, hệ thống tổ chức của Viện kiểm sát trong tương quan với hệ thống tổ chức Toà án theo thẩm quyền xét xử sẽ được xác định gồm có 4 cấp như sau:
- Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực được tổ chức tương đương với Toà án sơ thẩm khu vực, được tổ chức tại một hoặc một số đơn vị cấp huyện. Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực sẽ được thành lập trên cơ sở một hoặc một số Viện kiểm sát cấp huyện trong phạm vi địa hạt tư pháp của Toà án sơ thẩm khu vực.
- Các Viện kiểm sát phúc thẩm (cấp tỉnh) được tổ chức tương đương với các Toà án phúc thẩm. Viện kiểm sát phúc thẩm sẽ được thành lập chủ yếu trên cơ sở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi địa hạt tư pháp của Toà án phúc thẩm (cấp tỉnh).
- Các Viện kiểm sát cấp cao được tổ chức theo khu vực tương đương với các Toà thượng thẩm.
- Viện kiểm sát tối cao được tổ chức tương đương với Toà án tối cao.
Cùng với việc nêu rõ Viện kiểm sát được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Toà án, các Nghị quyết của Đảng cũng chỉ rõ phải tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra. Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng khi thi hành nhiệm vụ. Như vậy, số lượng Viện kiểm sát các cấp không nhất thiết phải tương đương với số lượng Toà án các cấp. Hệ thống tổ chức của Viện kiểm sát phải phù hợp cả với hệ thống tổ chức của Cơ quan điều tra, bảo đảm khả năng tăng cường công tố trong hoạt động điều tra, bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ, liên tục hoạt động công tố với hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra. Điều đó có nghĩa là, tuy Viện kiểm sát được tổ chức thành 4 cấp phù hợp với tổ chức của Toà án nhưng điều đó không phải là cứ ở đâu có Toà án thì ở đó có Viện kiểm sát, nhất là ở cấp sơ thẩm khu vực. Sự phù hợp của Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra về mặt tổ chức là bảo đảm quan trọng, có tính quyết định cho hiệu quả, chất lượng hoạt động công tố.
 
 
 (Đồng chí Trần Quốc Vượng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
chúc mừng đồng chí Nguyễn Khắc Tiệp, nguyên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắc Lắc và đồng chí Bùi Mạnh Cường, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắc Lắc )
 
8. Về cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát các cấp
Để Viện kiểm sát có thể thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp có hiệu quả, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành và nguyên tắc độc lập, không lệ thuộc vào các cơ quan chính quyền địa phương. Cơ cấu tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát các cấp phải bảo đảm quán triệt các nguyên tắc trên.
8.1. Về cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực
Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực gồm có các Phòng chuyên trách, dự kiến bao gồm Phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát hình sự, Phòng kiểm sát dân sự, Phòng kiểm sát hành chính và bộ máy giúp việc là Văn phòng.
Ngoài ra, căn cứ vào nhu cầu thực tế và đặc thù hoạt động của Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực, tuỳ từng địa hạt tư pháp cụ thể, có thể đặt thêm 1 - 2 phân Viện của Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực. Phân Viện của Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng, thẩm quyền của Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực theo sự phân công và chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực. Các cán bộ, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực sẽ được cử luân chuyển đến công tác tại các phân Viện dưới sự quản lý và chỉ đạo của một Phó Viện trưởng Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực được giao phụ trách phân Viện.
8.2. Về cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát phúc thẩm (cấp tỉnh)
Về cơ bản, Viện kiểm sát cấp tỉnh có cơ cấu tổ chức như Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hiện nay, dự kiến bao gồm Uỷ ban kiểm sát, Văn phòng và các Phòng như hiện nay.
8.3. Về cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát cấp cao
Phương án 1: Trường hợp Viện kiểm sát cấp cao chỉ có chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm thì cơ cấu tổ chức của các Viện kiểm sát cấp cao về cơ bản như các Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm hiện nay, nhưng thành lập thêm Văn phòng để thực hiện các công việc tài chính - kế toán, thống kê, tổng hợp, văn thư, lưu trữ và các việc về hành chính, quản trị theo quy định.
Phương án 2: Trường hợp Viện kiểm sát cấp cao được giao thêm nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án hình sự do Cơ quan điều tra Bộ Công an tiến hành và kiểm sát xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm thì trong cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát cấp cao cần có các Phòng chuyên trách, dự kiến bao gồm các Phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, Phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm hình sự; Phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm hình sự và Phòng kiểm sát xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự, hành chính. Bên cạnh đó, có thể xem xét, cân nhắc việc thành lập Uỷ ban kiểm sát tại các Viện kiểm sát cấp cao.
8.4. Về cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát tối cao
Phương án 1: Khi chuyển các Viện Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm thành các Viện kiểm sát cấp cao, về cơ bản Viện kiểm sát tối cao sẽ có cơ cấu tổ chức như hiện nay, dự kiến bao gồm Uỷ ban kiểm sát, các Cục, Vụ, Viện khoa học kiểm sát, Ban thanh tra, Văn phòng, Báo, Tạp chí Kiểm sát và Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát; đồng thời thành lập Trung tâm nghiên cứu tội phạm học quốc gia thuộc Viện kiểm sát tối cao.
Phương án 2: Chuyển tất cả các Vụ Thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và các Viện Thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử phúc thẩm thành Viện kiểm sát cấp cao. Cơ cấu tổ chức Viện kiểm sát tối cao sẽ chỉ còn Uỷ ban kiểm sát, Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự (Vụ 3), Vụ Kiểm sát việc việc tạm giữ - tạm giam - quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù (Vụ 4), Vụ Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự (Vụ 5), Cục điều tra (Cục 6), Vụ Khiếu tố (Vụ 7), Viện Khoa học kiểm sát (Vụ 8), Vụ tổ chức - cán bộ (Vụ 9), Vụ Kiểm sát thi hành án (Vụ 10), Vụ Kế hoạch - Tài chính (Vụ 11), Vụ Kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính - kinh tế - lao động (Vụ 12), Văn phòng, Vụ Hợp tác quốc tế, Cục Thống kê tội phạm, Ban thanh tra, Tạp chí Kiểm sát, Báo Bảo vệ pháp luật, Trường đào tạo - bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát, Trung tâm nghiên cứu tội phạm học quốc gia.
Đối với Cục điều tra, có thể đặt thêm các chi Cục tại các khu vực Bắc, Trung, Nam theo địa hạt tư pháp của Viện kiểm sát cấp cao, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng, thẩm quyền của Cục điều tra theo sự phân công và chỉ đạo của Cục trưởng Cục điều tra. Các cán bộ, Điều tra viên của Cục điều tra sẽ được cử luân chuyển đến công tác tại các chi Cục dưới sự quản lý và chỉ đạo của một Phó Cục trưởng Cục điều tra được giao phụ trách chi Cục.
Một vấn đề đặt ra là cần nghiên cứu, xem xét việc thành lập các Tổng cục thuộc Viện kiểm sát tối cao.
9. Vấn đề bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và sự giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp đối với Viện kiểm sát
Theo quy định của pháp luật hiện hành, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát được tổ chức theo cấp hành chính như hệ thống Toà án nhân dân. Viện kiểm sát địa phương các cấp chịu sự lãnh đạo của Cấp uỷ cùng cấp, các chức danh Lãnh đạo và Kiểm sát viên thuộc diện cán bộ do Cấp uỷ cùng cấp quản lý và cho ý kiến khi đề bạt, bổ nhiệm. Hội đồng nhân dân địa phương giám sát hoạt động của Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp; Viện trưởng Viện kiểm sát chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân và trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp.
Theo Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, hệ thống Toà án và Viện kiểm sát sẽ được tổ chức lại theo cấp xét xử, không theo cấp hành chính nữa, tức là ranh giới hành chính không còn chi phối có tính quyết định đến tổ chức và hoạt động của hệ thống Toà án và Viện kiểm sát. Đây không phải là vấn đề mới, nhưng trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế toàn diện, cần phải được nghiên cứu, cân nhắc kỹ để vừa bảo đảm được sự lãnh đạo duy nhất, toàn diện, triệt để của Đảng và sự giám sát toàn diện đối với hệ thống Toà án và Viện kiểm sát, vừa bảo đảm cho hệ thống các cơ quan này hoạt động độc lập trên cơ sở pháp luật, hiệu quả và hiệu lực.
Trên cơ sở nghiên cứu các Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp, qua tổng kết tổ chức và hoạt động của cơ quan Công tố/Kiểm sát nước ta qua các thời kỳ, tham khảo kinh nghiệm các nước trên thế giới và khu vực, cần xác định rõ các vấn đề sau đây:
Thứ nhất, về sự lãnh đạo của Đảng đối với Viện kiểm sát: Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, cần phải được khẳng định rõ. Tuy nhiên, để bảo đảm sự lãnh đạo duy nhất, toàn diện, triệt để của Đảng đối với hoạt động tư pháp nói chung, đối với hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nói riêng trong điều kiện cải cách tư pháp, hội nhập quốc tế toàn diện, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cần thay đổi mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tháng 7/2007.
Để làm rõ vấn đề Đảng lãnh đạo đối với Viện kiểm sát trong điều kiện tổ chức Toà án và Viện kiểm sát theo cấp xét xử, không phụ thuộc vào các đơn vị hành chính, có thể chọn một trong hai phương án:
Phương án 1: Tổ chức các Đảng bộ tại các Viện kiểm sát phúc thẩm (cấp tỉnh) với thành phần là các tổ chức Đảng tại các Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực trên địa bàn, trực thuộc Đảng bộ cấp tỉnh, chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh uỷ. Tổ chức Đảng tại các Viện kiểm sát cấp cao trực thuộc Đảng bộ Viện kiểm sát tối cao, chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Bí thư và Bộ Chính trị.
Phương án 2: Thực hiện sự lãnh đạo của Đảng theo ngành dọc, không theo cấp uỷ địa phương, thực hiện triệt để nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong Ngành, khắc phục sự can thiệp trái pháp luật của Cấp uỷ địa phương đối với tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát.
Thứ hai, về sự giám sát của Hội đồng nhân dân: Trước hết phải khẳng định sự giám sát của các cơ quan, tổ chức và nhân dân đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và các cơ quan Viện kiểm sát nói riêng là vấn đề có tính nguyên tắc. Theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW, Viện kiểm sát được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức Toà án theo bốn (04) cấp: Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực, Viện kiểm sát phúc thẩm (cấp tỉnh), Viện kiểm sát cấp cao và Viện kiểm sát tối cao. Như vậy, do Viện kiểm sát và Toà án được tổ chức theo mô hình theo cấp xét xử, không còn tồn tại Toà án và Viện kiểm sát cấp huyện. Theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X, Hội đồng nhân dân sẽ không được tổ chức ở các quận, huyện. Để xử lý quan hệ giữa Hội đồng nhân dân và Viện kiểm sát, có thể chọn một trong hai phương án.
Phương án 1: Để tiếp tục bảo đảm sự giám sát của Hội đồng nhân dân đối với Viện kiểm sát, cần xác định chế độ các Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực ở địa bàn các tỉnh chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Viện kiểm sát phúc thẩm (cấp tỉnh), và, Viện kiểm sát phúc thẩm (cấp tỉnh) chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân tỉnh. Viện kiểm sát cấp cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch Nước.
Phương án 2: Bỏ quy định về giám sát của Hội đồng nhân dân đối với Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực, Viện kiểm sát phúc thẩm (cấp tỉnh).
 
 
(Tiến sỹ Khuất Văn Nga, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
 chủ trì cuộc họp liên ngành VKSNDTC-BCA-TANDTC thực hiện Nghị quyết 15/2008/QH12 của Quốc hội về điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một số tỉnh có liên quan)
 
IV. Các giải pháp thực hiện
1. Giải pháp về xây dựng, hoàn thiện cơ sở pháp lý
Hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân hiện nay được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2002. Theo Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát sẽ có những thay đổi rất cơ bản, bảo đảm phù hợp với hệ thống tổ chức của Toà án theo cấp xét xử. Như vậy, để tổ chức lại hệ thống cơ quan Viện kiểm sát, phải triển khai sửa đổi, bổ sung, xây dựng mới các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tổ chức, hoạt động, cán bộ của Viện kiểm sát, phù hợp với hệ thống cơ quan Viện kiểm sát mới. Cụ thể là:
- Sửa đổi, bổ sung các quy định về Viện kiểm sát trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi), bao gồm các điều từ Điều 137 đến Điều 140, theo hướng, thành lập hệ thống tổ chức Viện kiểm sát phù hợp với hệ thống tổ chức Toà án, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, xử lý các vấn đề về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát các cấp, vấn đề giám sát của các cơ quan dân cử đối với Viện kiểm sát theo tinh thần cải cách tư pháp.
- Sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức Viện kiểm sát, theo hướng tổ chức lại hệ thống Viện kiểm sát nhân dân phù hợp với hệ thống tổ chức Toà án theo cấp xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính. Nội dung của Luật tổ chức Viện kiểm sát (sửa đổi) sẽ bao gồm cả các những vấn đề về Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát và Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát quân sự. Việc xây dựng Luật tổ chức Viện kiểm sát (sửa đổi) cần tập trung vào những nội dung chủ yếu sau đây:
+ Sửa đổi, bổ sung các quy định về vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong bộ máy Nhà nước phù hợp với tiến trình, nội dung cải cách tư pháp được xác định trong các Nghị quyết của Đảng, theo hướng tăng cường sự độc lập của hệ thống Viện kiểm sát.
+ Sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm làm rõ nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát trong điều kiện cải cách tư pháp, bảo đảm sự đồng bộ với cải cách lập pháp và cải cách hành chính.
+ Sửa đổi, bổ sung các quy định về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát theo hướng tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra, phù hợp với chủ trương xây dựng một nền công tố mạnh.
+ Sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm làm rõ phạm vi, nội dung, phương thức thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát phù hợp với các yêu cầu cải cách tư pháp.
+ Sửa đổi, bổ sung các quy định về tổ chức bộ máy của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát, bảo đảm phù hợp với tổ chức bộ máy của hệ thống Toà án theo yêu cầu cải cách tư pháp.
+ Sửa đổi, bổ sung các quy định về Kiểm sát viên, Điều tra viên Viện kiểm sát và Viện kiểm sát quân sự theo tinh thần cải cách tư pháp.
+ Sửa đổi, bổ sung các quy định về mối quan hệ giữa Viện kiểm sát với các cơ quan dân cử trong điều kiện tổ chức hệ thống Viện kiểm sát không theo đơn vị hành chính.
- Xây dựng Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 (sửa đổi) để đáp ứng các yêu cầu cải cách tư pháp, trong đó có các nội dung liên quan đến tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát, cụ thể là:
+ Sửa đổi, bổ sung một số nguyên tắc của tố tụng hình sự liên quan đến hệ thống tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát như: nguyên tắc trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự (Điều 13); nguyên tắc thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự (Điều 23); nguyên tắc tranh tụng tại phiên toà; nguyên tắc quyền quyết định truy tố của Viện kiểm sát; nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng (Điều 32).
+ Sửa đổi, bổ sung các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát (Điều 36); nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên (Điều 37) theo hướng phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng hình sự theo hướng tăng quyền và trách nhiệm cho Kiểm sát viên để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình.
+ Sửa đổi, bổ sung các quy định về quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc khởi tố vụ án hình sự (Điều 104 và Điều 109); nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra; nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát điều tra (Điều 113), theo hướng tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra.
+ Sửa đổi, bổ sung các quy định về việc tổ chức phiên toà xét xử, về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên toà theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử.
- Sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 theo yêu cầu cải cách tư pháp, sửa đổi quy định về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, tiếp tục khẳng định và đổi mới chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát trong việc giải quyết các vụ việc dân sự, theo hướng: Viện kiểm sát vừa thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, vừa là người đại diện cho Nhà nước Việt Nam trong các vụ việc dân sự mà Nhà nước Việt Nam là một bên đương sự; là người (đại diện Nhà nước Việt Nam) đứng đơn khởi kiện vụ việc dân sự nhân danh lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, lợi ích của những cá nhân không có khả năng tự thực hiện quyền dân sự và/hoặc không thể tự bảo vệ mình.
- Sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức Toà án và xây dựng Luật tổ chức Cơ quan điều tra, trong đó cần sửa đổi các quy định có liên quan đến việc thành lập, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Toà án và Cơ quan điều tra phù hợp với mô hình về tổ chức và hoạt động của hệ thống Viện kiểm sát.
- Sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, trong đó cần sửa đổi các quy định liên quan đến chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân đối với hoạt động của Viện kiểm sát, bảo đảm phù hợp với tính chất hoạt động và mô hình tổ chức của Viện kiểm sát theo bốn cấp, không phụ thuộc vào địa giới hành chính.
 
 
(Hội nghị giao bancông tác 6 tháng đầu năm 2008
Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố khu vực Nam Bộ)
 
2. Giải pháp về xây dựng đội ngũ cán bộ
Để bảo đảm hoạt động bình thường ngay sau khi thành lập thì các Viện kiểm sát ở tất cả các cấp phải có đủ biên chế và đội ngũ cán bộ cần thiết.
- Đối với Viện kiểm sát tối cao (được tổ chức tương đương với Toà án tối cao), có hai phương án:
- Phương án 1: Tổ chức của Viện kiểm sát tối cao sẽ được đổi mới theo hướng tinh gọn. ở Viện kiểm sát tối cao sẽ không có các đơn vị nghiệp vụ làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, không có các đơn vị thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm. Số lượng cán bộ, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát tối cao sẽ tinh giản nhiều so với hiện nay. Đội ngũ Kiểm sát viên của Viện kiểm sát tối cao phải là những chuyên gia đầu ngành về nghiệp vụ kiểm sát, có kinh nghiệm thực tiễn trong ngành.
- Phương án 2: ở Viện kiểm sát tối cao vẫn có các đơn vị thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với các vụ án hình sự do các Cơ quan điều tra thuộc Bộ Công an tiến hành hoạt động điều tra. Nếu vậy, số lượng cán bộ, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát tối cao sẽ không thay đổi nhiều so với hiện nay, chỉ rút bớt số lượng cán bộ, Kiểm sát viên ở các đơn vị thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm. Tuy nhiên, có thể phải tăng thêm số lượng Điều tra viên, tăng thêm đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu khoa học, xây dựng pháp luật.
- Đối với Viện kiểm sát cấp cao (được tổ chức tương đương với Toà thượng thẩm khu vực), theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW, có thể sẽ tổ chức từ năm (05) đến bảy (07) Viện kiểm sát cấp cao. Có hai phương án:
- Phương án 1: Viện kiểm sát cấp cao làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm. Số đơn vị Viện kiểm sát cấp cao sẽ tăng lên so với 03 Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm hiện nay. Theo phương án này, số lượng cán bộ của Viện kiểm sát cấp cao sẽ trên cơ sở kế thừa số cán bộ của các Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm hiện nay, đồng thời sẽ phải bổ sung thêm số cán bộ, Kiểm sát viên cho các Viện kiểm sát cấp cao mới thành lập.
- Phương án 2: Viện kiểm sát cấp cao thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự do các Cơ quan điều tra thuộc Bộ Công an tiến hành hoạt động điều tra; thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Theo phương án này, số lượng cán bộ, Kiểm sát viên của các Viện kiểm sát cấp cao sẽ tăng lên nhiều so với hiện nay. Giải pháp cần thiết là ngoài việc kế thừa số cán bộ, Kiểm sát viên của các Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm 1, 2 và 3 hiện nay, cần phải bổ sung thêm số lượng cán bộ, Kiểm sát viên cho các Viện kiểm sát cấp cao mới được thành lập, đồng thời chuyển toàn bộ số cán bộ của các đơn vị nghiệp vụ làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự ở Viện kiểm sát tối cao hiện nay bổ sung cho các Viện kiểm sát cấp cao để thực hiện chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự do các Cơ quan điều tra thuộc Bộ Công an tiến hành điều tra.
- Đối với Viện kiểm sát phúc thẩm (cấp tỉnh) (được tổ chức tương đương với các Toà án phúc thẩm), làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong việc giải quyết các vụ án/vụ việc (vụ án hình sự, vụ việc dân sự, vụ án hành chính) theo thủ tục phúc thẩm và theo thủ tục sơ thẩm một số vụ án/vụ việc. Trước mắt, số lượng và đội ngũ cán bộ các Viện kiểm sát ở cấp này sẽ trên cơ sở kế thừa số lượng và đội ngũ cán bộ của các Viện kiểm sát cấp tỉnh hiện nay. Tuy nhiên, sau một thời gian hoạt động sẽ nghiên cứu để điều chỉnh đội ngũ cán bộ của các Viện kiểm sát cấp này.
- Đối với Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực (được tổ chức tương đương với Toà án sơ thẩm khu vực), về cơ bản sẽ được thành lập trên cơ sở các Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện hiện nay, kế thừa biên chế và đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát cấp huyện. Tuy nhiên, việc tổ chức các Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực cần phải tính đến đặc thù hoạt động của Viện kiểm sát trong quan hệ với Cơ quan điều tra ở cấp huyện để bảo đảm thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, bảo đảm tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều ra theo yêu cầu của Nghị quyết số 49-NQ/TW.
3. Giải pháp về xây dựng cơ sở vật chất
- Đối với Viện kiểm sát tối cao, với điều kiện cơ sở vật chất như hiện nay, về cơ bản có thể đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện mới. Tuy nhiên, cần đầu tư nhằm hiện đại hoá hơn nữa về công nghệ thông tin để đáp ứng yêu cầu hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ cho các Viện kiểm sát cấp dưới. Đồng thời đầu tư hơn nữa cho các đơn vị nghiên cứu khoa học và xây dựng pháp luật để thực hiện việc nghiên cứu một số nội dung lớn như tội phạm học, khoa học hình sự, khoa học kiểm sát…
- Đối với các Viện kiểm sát cấp cao, do số lượng các Viện kiểm sát cấp cao sẽ tăng lên so với các Viện phúc thẩm hiện nay (dự kiến sẽ tăng từ 2 - 4 đơn vị), cho nên bên cạnh việc kế thừa trụ sở, trang thiết bị, phương tiện, điều kiện làm việc của ba Viện phúc thẩm hiện nay, cần đầu tư kinh phí để xây dựng trụ sở, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc và bảo đảm kinh phí hoạt động cho các Viện kiểm sát cấp cao để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới.
Nếu thực hiện phương án giao cho các Viện kiểm sát cấp cao chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án do các Cơ quan điều tra thuộc Bộ Công an tiến hành điều tra và thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Toà án phúc thẩm và Toà án sơ thẩm khu vực trong địa bàn bị kháng nghị, thì cần phải tăng cường đầu tư kinh phí để bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ này (số kinh phí cần được tăng cường trước mắt ít nhất phải tương đương với số kinh phí được đầu tư cho các đơn vị thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án hình sự (các Vụ 1, 1A, 1B, 1C, và Vụ 2 ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao hiện nay).
- Đối với Viện kiểm sát phúc thẩm (cấp tỉnh), trước mắt sẽ kế thừa cơ sở vật chất hiện có của các Viện kiểm sát cấp tỉnh hiện nay. Tuy nhiên, cần tăng cường đầu tư kinh phí để hiện đại hoá hơn nữa phù hợp với tình hình, yêu cầu, nhiệm vụ mới.
- Đối với Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực, về cơ bản, sau khi được thành lập, các Viện kiểm sát cấp khu vực sẽ kế thừa cơ sở vật chất của các Toà án cấp huyện hiện nay. Tuy nhiên, sẽ có Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực phải xây dựng lại trụ sở do thay đổi địa điểm mới phù hợp với địa hạt tư pháp của Viện kiểm sát đó. Trước mắt, cần tập trung đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp, hiện đại hoá cơ sở vật chất cho các Viện kiểm sát cấp huyện hiện nay để bảo đảm việc tăng thẩm quyền cho các Viện kiểm sát cấp này và chuẩn bị điều kiện về cơ sở vật chất cho các Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực; đồng thời, nghiên cứu triển khai xây dựng quy hoạch tổng thể nhằm bảo đảm cơ sở vật chất, đáp ứng yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực theo định hướng đã nêu.
4. Giải pháp về tính đồng bộ của các cơ quan tư pháp
Việc đổi mới, kiện toàn hệ thống Viện kiểm sát cần phải tiến hành đồng bộ với việc đổi mới, kiện toàn hệ thống Cơ quan điều tra và đổi mới hệ thống Toà án nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ về tổ chức và hoạt động của cả hệ thống cơ quan tư pháp. Các cơ quan Toà án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra đều phải tiến hành đổi mới trong toàn bộ hệ thống và ở tất cả các cấp.
Do đó, cần có sự thống nhất về nguyên tắc, quan điểm chỉ đạo đối với việc đổi mới, kiện toàn của cả ba hệ thống cơ quan Toà án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra. Do đó, cần thành lập một Ban Chỉ đạo liên ngành do Lãnh đạo Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương đứng đầu, cùng với sự tham gia của Lãnh đạo Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng (có thể có sự tham gia của Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính…) để chỉ đạo việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan điều tra.
V. Lộ trình thực hiện
1. Nghiên cứu, xây dựng và thông qua các văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát để tạo cơ sở pháp lý cho việc thành lập và hoạt động của Viện kiểm sát các cấp. (Thời gian hoàn thành nhiệm vụ này vào năm cuối nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII, năm 2011).
2. Tiếp tục tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ để bổ sung cho Viện kiểm sát các cấp, theo hướng chú trọng đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ, đào tạo kiến thức về hội nhập quốc tế, đào tạo trình độ ngoại ngữ (đặc biệt là tiếng Anh), đặc biệt chú trọng đào tạo các chuyên gia đầu ngành trên từng lĩnh vực hoạt động thực hiện chức năng của ngành để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế. (Nhiệm vụ này được tiến hành thường xuyên hàng năm, bắt đầu từ năm 2008).
3. Hoàn thành việc tăng thẩm quyền cho các Viện kiểm sát cấp huyện vào năm 2009 theo đúng lộ trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã đề ra; tăng cường đầu tư xây dựng, cải tạo trụ sở, đầu tư mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc và kinh phí hoạt động cho Viện kiểm sát cấp huyện, theo hướng: Tập trung củng cố, kiện toàn tổ chức cán bộ và cơ sở vật chất cho các Viện kiểm sát cấp huyện có số lượng án lớn (khoảng trên 500 vụ/năm), ở những địa bàn có sự phát triển kinh tế - xã hội tăng nhanh trong những năm gần đây, tạo cơ sở vật chất và cán bộ cho việc thành lập Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực sau này. (Thời gian hoàn thành nhiệm vụ này vào cuối năm 2009).
4. Nghiên cứu, dự kiến danh sách các Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực, Viện kiểm sát cấp cao làm cơ sở cho việc xây dựng, quy hoạch, điều động, đào tạo cán bộ và đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho Viện kiểm sát ở các cấp này. (Nhiệm vụ này được thực hiện ngay từ năm 2008, cơ bản hoàn thành vào cuối năm 2011).
5. Xây dựng và tổ chức thực hiện phương án tổng thể về biên chế cán bộ, đầu tư xây dựng cơ bản, trang thiết bị phương tiện, điều kiện làm việc cho các Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực, Viện kiểm sát phúc thẩm (cấp tỉnh) và Viện kiểm sát cấp cao theo danh sách các Viện kiểm sát đã được dự kiến. Xác định lại biên chế cán bộ, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát tối cao và phương hướng đầu tư cơ sở vật chất cho Viện kiểm sát tối cao theo chức năng, nhiệm vụ mới. (Thời gian thực hiện nhiệm vụ này bắt đầu từ năm 2009, hoàn thành vào cuối năm 2011).
6. Xây dựng phương án sắp xếp, điều động và bổ nhiệm cán bộ, Kiểm sát viên cho Viện kiểm sát các cấp; điều chỉnh, mua sắm, cung cấp trang thiết bị, phương tiện làm việc cho Viện kiểm sát các cấp sau khi được thành lập theo quy định của pháp luật. (Thời gian thực hiện nhiệm vụ này bắt đầu từ năm 2009, hoàn thành vào cuối năm 2011).
7. Nghiên cứu xây dựng và tổ chức thực hiện phương án xử lý, giải quyết các vụ án/vụ việc đang được giải quyết tại thời điểm chuyển đổi Viện kiểm sát các cấp. (Thời gian thực hiện nhiệm vụ này bắt đầu từ năm 2010, hoàn thành vào cuối năm 2011).
8. Nghiên cứu, đề xuất phương án đổi mới tổ chức và hoạt động của các cấp uỷ Đảng và Hội đồng nhân dân địa phương để lãnh đạo, chỉ đạo và giám sát hoạt động của Viện kiểm sát các cấp, phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp. (Thời gian thực hiện nhiệm vụ này bắt đầu từ năm 2009, hoàn thành vào cuối năm 2011)./.
 
      Ngày 03/09/2008











Liên kết

Số lần truy nhập 26202781

Trang chủ Liên hệ Góp ý Về đầu trang

Trang thông tin điện tử của Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trụ sở : số 44 - Lý Thường Kiệt - Hà Nội; Điện thoại : 04.8255058-332; Fax : 04.8255400

Giấy phép số 294/GP-BC ngày 09/07/2007 của Cục Báo chí Bộ Văn hoá thông tin

Người chịu trách nhiệm : Nguyễn Hải Trâm, Chánh Văn phòng VKSNDTC

© Viện kiểm sát nhân dân tối cao thiết kế và giữ bản quyền.

Mong bạn đọc góp ý kiến, phê bình. Thư điện tử liên hệ: