thong bao
Trang chủ Tiếng Việt English
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA KHI ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA VIỆN KIỂM SÁT THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP
 
Thạc sỹ NGUYỄN HỮU HẬU
Phó Viện trưởng VKSND quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh
 
Hiện nay, theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 đã định hướng cho việc đổi mới tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát như sau: “Trước mắt, Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Toà án”.
Để lý giải cho việc nghiên cứu về đổi mới tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát theo yêu cầu cải cách tư pháp, chúng tôi cho rằng cần nghiên cứu lý giải kỹ về mặt lý luận và thực tiễn các nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, Viện kiểm sát nước ta là hệ thống độc lập trực thuộc nhánh quyền lực Nhà nước nào? Và ngoài chức năng thực hành quyền công tố, Viện kiểm sát có thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp không?
Về mặt lý luận, việc hình thành và phát triển cơ quan Nhà nước nào, và cơ quan đó có thẩm quyền gì đều xuất phát từ bản chất của Nhà nước và yêu cầu quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, từ đó đặt ra chức năng, nhiệm vụ và vị trí, vai trò của từng cơ quan Nhà nước đó trong bộ máy Nhà nước. Đây là yêu cầu khách quan của bất kỳ chế độ Nhà nước nào. Đối với cơ quan Viện kiểm sát cũng không có ngoại lệ về vấn đề này.
Nghiên cứu nguyên lý chung của việc hình thành và phát triển cơ quan Viện kiểm sát cũng đều xuất phát từ bản chất của Nhà nước và tuỳ theo đặc điểm truyền thống mỗi quốc gia mà có tên gọi là Viện kiểm sát (hay Viện công tố) nhưng bản chất pháp lý về chức năng, nhiệm vụ vẫn là: “Thực hành quyền công tố, quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước Toà án để xét xử và thực hiện việc buộc tội tại phiên toà” và giám sát việc tuân thủ luật pháp ở một số lĩnh vực nhất định do pháp luật quy định để đảm bảo tính linh hoạt, hiệu quả của cơ quan này, cụ thể như trong tố tụng dân sự thì Viện kiểm sát tham gia với tư cách như một bên tham gia tố tụng hoặc tiến hành tố tụng để bảo vệ cho lợi ích chung, lợi ích Nhà nước, lợi ích xã hội, bảo đảm sự tuân thủ pháp luật, pháp chế.
Chúng tôi nhận thấy, theo tinh thần Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã xác định: “Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân theo hướng bảo đảm thực hiện tốt chức năng công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”. Theo nội dung này thì tới đây Viện kiểm sát cũng sẽ thực hiện hai chức năng, đó là chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp.
Theo quy định tại Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) cũng như về cơ chế giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước (Quốc hội) đối với các cơ quan tư pháp nêu tại tiểu mục 2.5 mục 2 Phần II Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị là: “Đổi mới, nâng cao chất lượng chất vấn và trả lời chất vấn đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp tại các kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân… Tăng cường và nâng cao hiệu lực giám sát việc chấp hành pháp luật của các cơ quan tư pháp, đặc biệt là của lãnh đạo các cơ quan tư pháp...”.
Từ cơ sở pháp lý nêu trên, đã xác định Viện kiểm sát nước ta là hệ thống cơ quan độc lập tuy nằm trong hệ thống cơ quan tư pháp nhưng sẽ do Quốc hội lập ra, Viện trưởng Viện kiểm sát sẽ do Quốc hội bầu và bãi miễn, Viện trưởng có trách nhiệm báo cáo kết quả công tác trước Quốc hội và cơ quan đại biểu nhân dân ở địa phương.
Tham khảo mô hình Viện kiểm sát của Trung Quốc cho thấy, Viện kiểm sát là hệ thống cơ quan độc lập, được xác định là cơ quan tư pháp, không thuộc hệ thống cơ quan hành pháp và Viện trưởng Viện kiểm sát sẽ do Đại hội Đại biểu nhân dân bầu ra; hoặc tham khảo mô hình Viện kiểm sát của Liên bang Nga cho thấy, Viện kiểm sát có vị trí độc lập với các cơ quan hành pháp và tư pháp và Tổng Kiểm sát trưởng do Hội đồng liên bang Nga bầu ra, hoặc như Viện công tố Hungari cũng do Quốc hội lập ra và Viện trưởng Viện công tố tối cao do Quốc hội bầu ra.
Như vậy, nếu dựa vào cơ sở lý luận của việc tổ chức bộ máy Nhà nước và lý luận về mô hình Viện công tố một số nước trên thế giới (như Liên bang Nga, Trung Quốc, Hungari) cũng như dựa vào Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, để làm cơ sở pháp lý cho việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nước ta thì chức năng của Viện kiểm sát nước ta sẽ không thay đổi về bản chất pháp lý là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp và theo đó, Viện trưởng Viện kiểm sát nước ta sẽ do Quốc hội bầu và bãi miễn, Viện trưởng có trách nhiệm báo cáo kết quả công tác trước Quốc hội và cơ quan đại biểu nhân dân ở địa phương.
Chúng tôi nhận thấy nếu tán thành quan điểm này sẽ phù hợp với tình hình, đặc điểm của nước ta như đã được chỉ rõ tại Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị là: “... Tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra”, và tại Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đã khẳng định: “Thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra” cho thấy Đảng ta không chủ trương xây dựng Viện kiểm sát theo mô hình các nước thuộc hệ thống thông luật (án lệ) vì cơ quan Công tố ở các nước đó không có vai trò đáng kể trong hoạt động điều tra. Vì vậy, vấn đề đặt ra là nghiên cứu mô hình Viện công tố của một số nước tiến bộ theo truyền thống luật lục địa và các nước có nền kinh tế chuyển đổi giống như nước ta (cụ thể như Liên bang Nga, Trung Quốc) để tham khảo tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm về tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát/Viện công tố các nước này nhằm xây dựng hệ thống Viện kiểm sát nước ta thành hệ thống Viện kiểm sát mạnh, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như phòng, chống vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp trong tình hình mới.
Nếu Viện kiểm sát nước ta được xác định là hệ thống độc lập trực thuộc nhánh quyền lực hành pháp hoặc là hệ thống độc lập trực thuộc nhánh quyền lực tư pháp (trực thuộc Bộ Tư pháp hoặc nằm bên cạnh cơ quan Toà án) sẽ hạn chế việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và giám sát hoạt động tư pháp đối với hoạt động điều tra, xét xử, thi hành án cũng như không phù hợp với tình hình đặc điểm và thực tiễn hoạt động của các cơ quan tư pháp nước ta gần 50 năm qua (tham khảo mô hình của Viện công tố Pháp, tuy đặt trong hệ thống Toà án nhưng không lệ thuộc Toà án mà đứng đầu là Bộ trưởng Bộ Tư pháp, giám sát hoạt động của Viện công tố, hoặc mô hình của Viện công tố Liên bang Đức, mô hình của Viện công tố Nhật Bản, mô hình của Viện công tố Hàn Quốc, mô hình của Viện công tố Thái Lan đã cho thấy không phù hợp tình hình đặc điểm nước ta).
Để xác định chức năng của Viện kiểm sát nước ta tới đây chỉ đơn thuần thực hiện duy nhất một chức năng thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự hay thực hiện hai chức năng - chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp, hiện nay có hai quan điểm như sau:
a) Nếu Viện kiểm sát thôi không thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng dân sự - hôn nhân gia đình, hành chính, lao động, kinh doanh - thương mại và thi hành án hình sự, thi hành án dân sự… thì Viện kiểm sát sẽ chỉ còn thực hiện chức năng duy nhất là thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự ở giai đoạn điều tra và xét xử.
b) Viện kiểm sát nước ta có chức năng, nhiệm vụ không thay đổi, chỉ thay đổi tên gọi và điều chỉnh lại nguyên tắc tổ chức hoạt động và cơ cấu tổ chức bộ máy cho phù hợp với hệ thống tổ chức của Toà án và Cơ quan điều tra. Như vậy, Viện kiểm sát sẽ thực hiện hai chức năng - đó là chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự và kiểm sát việc tuân thủ luật pháp ở một số lĩnh vực nhất định do pháp luật quy định (như trong tố tụng dân sự, hành chính, thi hành án hình sự, thi hành án dân sự) để đảm bảo tính linh hoạt, hiệu quả của cơ quan Viện kiểm sát.
Chúng tôi tán thành quan điểm thứ hai vì các lẽ sau:
- Chúng ta không nên đồng nhất chức năng thực hành quyền công tố với chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp hoặc thấy rằng đây là hai chức năng độc lập tách rời nhau để khẳng định “Viện kiểm sát” chỉ xuất phát từ chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp; còn “Viện công tố” chỉ đồng nghĩa với chức năng thực hành quyền công tố. Bởi vì, nếu khẳng định như vậy sẽ không có cơ sở khoa học nào lý giải cho hoạt động của một số Viện công tố của một số nước tiến bộ trên thế giới vừa có chức năng thực hành quyền công tố vừa thực hiện những thẩm quyền khác trong tố tụng dân sự do pháp luật quy định, như ở Hoa Kỳ, Vương quốc Anh thì cơ quan Công tố sẽ tham gia vụ kiện nếu Nhà nước Hoa Kỳ hoặc Chính phủ Anh bị kiện hoặc là một bên tranh chấp; hoặc như ở Pháp, Trung Quốc, Liên bang Nga thì ngoài chức năng thực hành quyền công tố, Viện kiểm sát (hay Viện công tố) còn tham gia tố tụng dân sự với tư cách như một bên tham gia tố tụng hoặc tiến hành tố tụng để bảo vệ cho lợi ích chung, lợi ích Nhà nước, lợi ích xã hội.
Theo quan điểm chúng tôi thì hai chức năng: Thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp tuy là hai chức năng độc lập nhưng có quan hệ với nhau rất chặt chẽ, biện chứng. Đó là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp (ở lĩnh vực tố tụng hình sự, tố tụng dân sự và thi hành các bản án hình sự, dân sự) để đảm bảo cho việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố tốt hơn, hiệu quả hơn. Ví dụ như khi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp ở lĩnh vực tố tụng dân sự và thi hành án, nếu phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì Viện kiểm sát thực hiện chức năng thực hành quyền công tố để trực tiếp khởi tố hoặc yêu cầu khởi tố xử lý hình sự.
- Khác với hoạt động giám sát của Quốc hội, đối với hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp là theo định kỳ tại các kỳ họp Quốc hội, việc kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nước ta đối với các cơ quan tư pháp là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan tư pháp trong việc áp dụng, thực thi pháp luật trong hoạt động tư pháp hàng ngày của các cơ quan tư pháp. Đây là lĩnh vực rộng lớn liên quan đến toàn bộ đời sống xã hội nên Viện kiểm sát ngoài chức năng thực hành quyền công tố phải có thêm chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp để đảm bảo công lý, công bằng, pháp chế trong lĩnh vực tư pháp. Đồng thời đảm bảo tính linh hoạt, hiệu quả của cơ quan Viện kiểm sát.
- Nghiên cứu việc thành lập Viện công tố nước ta vào trước năm 1960 cho thấy, Viện công tố cũng thực hiện hai chức năng - đó là chức năng thực hành quyền công tố và chức năng giám sát hoạt động tư pháp như ngoài nhiệm vụ điều tra, truy tố trước Toà án, Viện công tố còn được giao nhiệm vụ giám sát việc chấp hành luật pháp trong lĩnh vực tư pháp như giám sát hoạt động xét xử của Toà án, hoạt động thi hành án các bản án dân sự - hình sự của Toà án, hoạt động giam giữ - cải tạo của các cơ quan giam giữ - cải tạo, tham gia giải quyết các vụ án dân sự, bảo vệ lợi ích của Nhà nước và nhân dân.
Chúng tôi nhận thấy việc Viện công tố nước ta được thành lập vào trước năm 1960 thể hiện nhiều hạt nhân hợp lý là thừa nhận Viện công tố thực hiện hai chức năng - đó là chức năng thực hành quyền công tố và chức năng giám sát hoạt động tư pháp. Đồng thời thể hiện một cách sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc vận dụng mô hình Viện kiểm sát (hoặc Viện công tố) của các nước tiến bộ trên thế giới vào thực tiễn nước ta từ những năm đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, cần phải được tiếp thu kế thừa và hoàn chỉnh cho phù hợp tình hình nước ta hiện nay.
Thứ hai, về tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát nước ta theo nguyên tắc nào và cơ cấu tổ chức bộ máy ra sao? Đặc biệt là xác định mối quan hệ với cấp uỷ Đảng, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân địa phương như thế nào?
Xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta là “Nhà nước của dân, do dân và vì dân” được xây dựng trên tiêu chí Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nên có những đặc thù. Viện kiểm sát nước ta sẽ do Quốc hội lập ra để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp mà chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp, theo chúng tôi, là một trong những chức năng quan trọng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa để đảm bảo tính thống nhất của pháp chế, của công lý, công bằng xã hội trong lĩnh vực tư pháp.
Vì vậy, về mặt tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát nước ta phải đổi mới theo định hướng: “Vừa theo nguyên tắc song trùng trực thuộc, vừa theo nguyên tắc tập trung lãnh đạo thống nhất trong Ngành về nghiệp vụ” tức là các Viện kiểm sát sơ thẩm địa phương (hoặc khu vực) sẽ chịu sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, Hội đồng nhân dân địa phương cùng cấp (hoặc khu vực) để phục vụ yêu cầu chính trị địa phương trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, vừa chịu sự quản lý, chỉ đạo nghiệp vụ của Viện kiểm sát cấp trên. Riêng các Viện kiểm sát phúc thẩm và Viện kiểm sát thượng thẩm sẽ hoạt động theo nguyên tắc tập trung lãnh đạo thống nhất trong Ngành.
Xuất phát từ thực tiễn hoạt động thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân địa phương ở nước ta từ trước đến nay cho thấy: “Nguyên tắc song trùng” đã thực hiện có hiệu quả trên thực tế và nếu Viện kiểm sát nhân dân các địa phương không báo cáo kết quả công tác, không tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Cấp uỷ địa phương cũng như không tranh thủ sự hỗ trợ kinh phí hoạt động, sự chỉ đạo của Hội đồng nhân dân địa phương cùng cấp trong việc yêu cầu các cơ quan tư pháp địa phương cùng cấp khắc phục, sửa chữa các việc làm vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp thì các kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân địa phương sẽ trở nên ít hiệu quả, ít có tác dụng giáo dục, phòng ngừa sâu rộng trên địa bàn.
Vì vậy, cần tiếp thu hạt nhân hợp lý của Viện công tố nước ta thành lập vào trước năm 1960 để xác định mối quan hệ giữa Viện kiểm sát địa phương với Hội đồng nhân dân cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên là quan hệ song trùng trực thuộc.
Thứ ba, trường hợp Toà án sơ thẩm khu vực được thành lập ở một hoặc một số huyện thì việc thành lập Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực sẽ gặp những khó khăn, vướng mắc gì?
Theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định: “Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Toà án” và cũng theo Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định: Tổ chức hệ thống Toà án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, gồm:
+ Toà án sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện.
+ Toà án phúc thẩm có nhiệm vụ chủ yếu là xét xử phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số vụ án.
+ Toà thượng thẩm được tổ chức theo khu vực có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm.
+ Toà án nhân dân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm.
Từ tổ chức của hệ thống cơ quan Toà án, hiện nay có quan điểm cho rằng, Viện kiểm sát sẽ được quy định thành 4 cấp phù hợp với hệ thống Toà án gồm có:
+ Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện tương ứng với Toà án sơ thẩm khu vực ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện.
+ Viện kiểm sát phúc thẩm tương ứng với Toà án phúc thẩm;
+ Viện kiểm sát thượng thẩm khu vực tương ứng với Toà thượng thẩm;
+ Viện kiểm sát nhân dân tối cao tương ứng với Toà án nhân dân tối cao.
Chúng tôi tán thành việc các Viện kiểm sát phúc thẩm và thượng thẩm khu vực sẽ được thành lập theo cấp xét xử cho phù hợp với hệ thống Toà án. Riêng việc thành lập Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực, theo quan điểm chúng tôi cần nghiên cứu giải quyết các khó khăn, vướng mắc sau đây:
+ Hoạt động điều tra thực hiện theo thẩm quyền lãnh thổ nên cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra phải theo đơn vị hành chính lãnh thổ mới đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống vi phạm, tội phạm sát hợp với tình hình chính trị địa phương. Cụ thể là ngoài thẩm quyền truy tố, Viện kiểm sát còn thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trước khi khởi tố điều tra như kiểm sát hoạt động tin báo, tố giác về tội phạm ở địa bàn (tránh bỏ lọt tội phạm), kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với hoạt động khám nghiệm hiện trường và tử thi trước khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can hoặc khi vụ án được khởi tố điều tra mà việc bám sát chỉ đạo hoạt động điều tra nếu không gắn kết theo thẩm quyền lãnh thổ sẽ khó tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giam, tạm giữ, thi hành án hình sự, thi hành án treo.v.v. Nếu thành lập Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực (liên địa bàn quận - huyện) sẽ rất khó khăn thực hiện tốt công tác này.
+ Hiện nay, hầu hết các Viện kiểm sát cấp huyện sau khi được tăng thẩm quyền đã đảm nhận hầu hết là các vụ án lớn, phức tạp phát sinh ở địa bàn thuộc thẩm quyền điều tra của cấp tỉnh - thành phố trước đây. Nếu thành lập Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực sẽ ảnh hưởng rất lớn đối với công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với hoạt động điều tra ở liên địa bàn quận - huyện, kiểm sát việc chấp hành pháp luật ở nhà tạm giữ, trại tạm giam ở liên địa bàn quận - huyện cũng như kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với việc quản lý, chấp hành hình phạt tù ở liên địa bàn quận - huyện... Do đó, sẽ khó khăn khi thực hiện việc tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra cũng như thực hiện tốt cơ chế công tố gắn với điều tra.
+ Sự ra đời của cơ quan Viện kiểm sát là do phân định chức năng điều tra tội phạm với chức năng truy tố tội phạm, còn thẩm quyền điều tra theo lãnh thổ luôn gắn với thẩm quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra, truy tố và do thẩm quyền truy tố cũng luôn gắn với thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo cấp xét xử của Toà án nên không cần thành lập Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực vì không ảnh hưởng đến hoạt động truy tố của Viện kiểm sát ở Toà án sơ thẩm khu vực.
+ Chúng tôi nhận thấy việc Viện công tố nước ta được thành lập trước năm 1960 thể hiện nhiều hạt nhân hợp lý là: Tổ chức Viện công tố trong giai đoạn này được tổ chức song song với hệ thống Toà án, trừ Viện công tố phúc thẩm được tổ chức độc lập theo khu vực, Viện công tố các cấp đều được tổ chức gắn liền với hệ thống hành chính cấp Trung ương, tỉnh, huyện. Nội dung này cần phải được tiếp thu kế thừa và hoàn chỉnh cho phù hợp tình hình nước ta hiện nay.
Hiện nay, chúng tôi nhận thấy có một số quan điểm chưa nhận thức đúng đắn tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị là “Toà án sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện” chứ không phải thành lập đồng bộ đều khắp các địa bàn quận - huyện cho đúng tên gọi theo cấp xét xử là Toà án sơ thẩm khu vực.
Qua các cuộc hội thảo về cải cách tư pháp tại thành phố Hồ Chí Minh mà Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh được giao nhiệm vụ xây dựng đề án thành lập Toà sơ thẩm khu vực tại thành phố Hồ Chí Minh chúng tôi nhận thấy có các ý kiến nêu ra như sau:
+ Ý kiến thứ nhất: Mỗi Toà án nhân dân quận - huyện tại thành phố Hồ Chí Minh (có 24 đơn vị) sẽ trở thành 24 Toà sơ thẩm khu vực. Cơ sở cho việc đề xuất này dựa trên số lượng án các loại (hình sự, dân sự..) mà mỗi đơn vị này giải quyết.
+ Ý kiến thứ hai: Nhập 3 Toà án nhân dân quận - huyện thành một Toà án sơ thẩm khu vực, như vậy tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay (có 24 đơn vị) sẽ trở thành 08 Toà án sơ thẩm khu vực. Ví dụ như nhập 3 Toà án nhân dân các Quận 1, 3, 4 sẽ trở thành một Toà án sơ thẩm khu vực. Nhập 3 Toà án nhân dân các quận 2, quận 9 và quận Thủ Đức sẽ trở thành một Toà án sơ thẩm khu vực… Cơ sở cho việc đề xuất này dựa trên số lượng án các loại (hình sự, dân sự…) và dựa vào số lượng dân số và biên chế nhân sự để nhập 3 Toà án nhân dân các quận - huyện thành một Toà án sơ thẩm khu vực.
+ Ý kiến thứ ba: Toà án sơ thẩm khu vực được thành lập phải dựa trên tỉ lệ án được tăng thẩm quyền, nhất là đối với án hình sự, vì qua thời gian thực hiện tăng thẩm quyền thì tỉ lệ tăng 20% so với trước khi được tăng, còn nếu dựa trên tỉ lệ số lượng án dân sự sẽ không chính xác vì đối với án dân sự khi được thụ lý sau đó đình chỉ - tạm đình chỉ (coi như tính vào số đã giải quyết) và được thụ lý lại tính thành thụ lý mới nên số liệu không chính xác và tỉ lệ án dân sự sau khi được tăng thẩm quyền (án có yếu tố nước ngoài) thụ lý rất ít nên việc thành lập Toà án sơ thẩm khu vực theo hai ý kiến nêu trên (24 Toà án sơ thẩm khu vực hoặc 8 Toà án sơ thẩm khu vực) cũng chưa phù hợp mà phải là phân nửa số lượng các Toà án nhân dân quận - huyện tại thành phố Hồ Chí Minh sẽ thành 1 Toà án sơ thẩm khu vực. Như vậy, theo đề xuất này thì tại thành phố Hồ Chí Minh sẽ có 2 Toà án sơ thẩm khu vực.
Thứ tư, vấn đề đảm bảo cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra và mối quan hệ giữa Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực (nếu thành lập) gắn với hoạt động điều tra theo đơn vị hành chính (thẩm quyền lãnh thổ) như thế nào?
Theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị đã xác định: “Trước mắt, tiếp tục thực hiện mô hình tổ chức Cơ quan điều tra theo pháp luật hiện hành; nghiên cứu và chuẩn bị mọi điều kiện để tiến tới tổ chức lại các Cơ quan điều tra theo hướng thu gọn đầu mối, kết hợp chặt chẽ giữa công tác trinh sát và hoạt động điều tra tố tụng hình sự”.
Theo quan điểm chúng tôi, chỉ nên có 3 cấp điều tra là:
+ Cơ quan điều tra cấp Trung ương.
+ Cơ quan điều tra cấp tỉnh - thành phố.
+ Cơ quan điều tra cấp quận - huyện.
Nếu như vậy, sẽ có 3 cấp Viện kiểm sát tương ứng là:
+ Viện kiểm sát tối cao sẽ thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra đối với Cơ quan điều tra cấp Trung ương và sẽ uỷ quyền truy tố cho cơ quan Viện kiểm sát cấp tỉnh - thành phố đưa vụ án ra truy tố, xét xử sơ thẩm ở Toà án phúc thẩm tỉnh, thành phố.
+ Viện kiểm sát cấp tỉnh, thành phố sẽ thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra đối với Cơ quan điều tra cấp tỉnh - thành phố.
 + Viện kiểm sát cấp quận, huyện (hoặc Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực) sẽ thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra đối với Cơ quan điều tra cấp quận, huyện. Khó khăn, vướng mắc đặt ra cho Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực (liên địa bàn quận - huyện) sẽ rất phức tạp, như đã phân tích ở phần trên.
Thứ năm, vấn đề đảm bảo sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng địa phương theo đơn vị hành chính đối với hệ thống Toà án sơ thẩm khu vực và các Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực như thế nào?
Tại tiểu mục 2.8 mục 2 Phần II Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định: “Đảng lãnh đạo chặt chẽ hoạt động tư pháp và các cơ quan tư pháp về chính trị, tổ chức và cán bộ; khắc phục tình trạng cấp uỷ Đảng buông lỏng lãnh đạo hoặc can thiệp không đúng vào hoạt động tư pháp… Phân công đồng chí cấp uỷ viên có trình độ, năng lực, uy tín và bản lĩnh bổ nhiệm làm Viện trưởng Viện kiểm sát và Chánh án Toà án các cấp. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của cấp uỷ Đảng trong việc chỉ đạo giải quyết những vụ, việc quan trọng, phức tạp; cơ chế phối hợp làm việc giữa các tổ chức đảng với các cơ quan tư pháp và các ban, ngành có liên quan theo hướng cấp uỷ định kỳ nghe báo cáo và cho ý kiến định hướng về công tác tư pháp. Xác định rõ trách nhiệm tập thể và cá nhân cấp uỷ viên trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư pháp”.
Chúng tôi nhận thấy từ khi có Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 thì sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng địa phương đối với các Viện kiểm sát nhân dân quận, huyện trong thời gian qua là rất sâu sát. Cấp uỷ Đảng ở địa phương thường xuyên quan tâm chỉ đạo các cơ quan tư pháp quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc, đồng thời báo cáo kết quả thực hiện về các trọng tâm công tác tư pháp về việc thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao; về củng cố kiện toàn tổ chức bộ máy, đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ năng lực cho đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên. Hàng năm, Cấp uỷ đều có báo cáo kết quả công tác cải cách tư pháp và đề ra nhiệm vụ trọng tâm của năm tới. Sự lãnh đạo của Cấp uỷ hiện nay đối với các Viện kiểm sát là ổn định. Tuy nhiên, trong thời gian tới, nếu thành lập Toà án sơ thẩm khu vực và các Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực thì khó khăn, vướng mắc đặt ra là cấp uỷ nào sẽ lãnh đạo hai cơ quan này cũng như việc cơ cấu vào cấp uỷ đối với Viện trưởng Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực và Chánh án Toà án sơ thẩm khu vực.
Thứ sáu, vấn đề đảm bảo sự giám sát của nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc quận - huyện và các đoàn thể đối với Toà án sơ thẩm khu vực và các Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực như thế nào?
Tại tiểu mục 2.5 mục 2 Phần II Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định: “... Mặt trận Tổ quốc và các thành viên tập trung làm tốt công tác động viên nhân dân phát hiện những hạn chế, khuyết điểm trong hoạt động tư pháp, qua đó kiến nghị với các cơ quan tư pháp khắc phục, sửa chữa”.
Những năm qua, Mặt trận Tổ quốc và các thành viên đều thực hiện tốt chức năng giám sát kết quả công tác của các Viện kiểm sát nhân dân quận, huyện (qua tham gia các Đoàn kiểm tra của Ban pháp chế thuộc Hội đồng nhân dân, phối hợp với các Viện kiểm sát nhân dân quận, huyện trong việc tuyên truyền giáo dục pháp luật ở địa phương, qua việc cử Kiểm sát viên làm thành viên Ban tư vấn pháp luật…), các đơn khiếu nại, tố cáo hoạt động tư pháp đều được Viện kiểm sát trả lời, giải thích theo quy định pháp luật nhằm củng cố lòng tin của nhân dân vào hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp. Tuy nhiên, trong thời gian tới, nếu thành lập Toà án sơ thẩm khu vực và các Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực thì khó khăn, vướng mắc đặt ra là Mặt trận Tổ quốc và các thành viên thực hiện chức năng giám sát kết quả công tác của hai cơ quan này như thế nào cho sâu sát, hiệu quả?
Thứ bảy, đó là vấn đề đảm bảo sự giám sát của Hội đồng nhân dân và mối quan hệ với Uỷ ban nhân dân địa phương đối với Toà án sơ thẩm khu vực và các Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực?
Tại tiểu mục 2.5 mục 2 Phần II Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định: “Đổi mới, nâng cao chất lượng chất vấn và trả lời chất vấn đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp tại các kỳ họp… Hội đồng nhân dân… Tăng cường và nâng cao hiệu lực giám sát việc chấp hành pháp luật của các cơ quan tư pháp, đặc biệt là của lãnh đạo các cơ quan tư pháp...”.
Thời gian qua, Hội đồng nhân dân quận, huyện đều có kế hoạch giám sát hoạt động của các Viện kiểm sát nhân dân quận, huyện (thông qua Ban pháp chế thuộc Hội đồng nhân dân), định kỳ các Viện kiểm sát nhân dân quận, huyện đều có báo cáo kết quả công tác và giải trình các chất vấn trước cơ quan này.
Thực tiễn trong những năm qua cho thấy, các Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện đều tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Cấp uỷ địa phương cũng như tranh thủ sự chỉ đạo của Hội đồng nhân dân địa phương cùng cấp trong việc yêu cầu các cơ quan tư pháp địa phương cùng cấp khắc phục, sửa chữa các việc làm vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp đối với việc thực hiện các kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân địa phương để phát huy hiệu quả tác dụng giáo dục, phòng ngừa trên địa bàn.
Tuy nhiên, trong thời gian tới, nếu thành lập Toà án sơ thẩm khu vực và các Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực thì khó khăn, vướng mắc đặt ra là Hội đồng nhân dân quận, huyện giám sát hoạt động của các Toà án sơ thẩm khu vực và các Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực như thế nào và Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực cùng một lúc phải báo cáo kết quả công tác và giải trình các chất vấn trước cơ quan này ra sao cũng cần phải đặt ra cho phù hợp.
Thứ tám, vấn đề bố trí trụ sở làm việc và kinh phí phục vụ cho việc cải tạo nâng cấp hoặc xây dựng mới trụ sở cho các Toà án sơ thẩm khu vực và các Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực như thế nào?
Chúng tôi nhận thấy vấn đề bố trí trụ sở làm việc cho các Toà án sơ thẩm khu vực và các Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực sao cho đảm bảo thuận tiện đi lại cho nhân dân và quan hệ công tác giữa cơ quan tư pháp cũng cần phải nghiên cứu sao cho phù hợp tình hình thực tế địa phương. Khó khăn, vướng mắc đặt ra là kinh phí phục vụ cho việc cải tạo nâng cấp hoặc đầu tư xây dựng mới trụ sở các cơ quan này sẽ rất tốn kém nên cần phải có thời gian điều tra, nghiên cứu, khảo sát nhiều năm mới thực hiện được.
Thứ chín, vấn đề củng cố, sắp xếp nhân sự lãnh đạo cho các Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực như thế nào?
Khi thành lập Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực phải sáp nhập nhiều Viện kiểm sát quận hoặc nhiều Viện kiểm sát huyện thành một khu vực thì việc củng cố, sắp xếp bộ máy và nhân sự lãnh đạo của Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực cũng là vấn đề cần được tính toán chặt chẽ phù hợp trình độ, năng lực, nhu cầu công tác để không ảnh hưởng tư tưởng cán bộ và Kiểm sát viên cũng như các đồng chí Viện trưởng, Phó Viện trưởng khi bố trí lại vị trí công tác./.
 
      Ngày 03/09/2008











Liên kết

Số lần truy nhập 28022401

Trang chủ Liên hệ Góp ý Về đầu trang

Trang thông tin điện tử của Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trụ sở : số 44 - Lý Thường Kiệt - Hà Nội; Điện thoại : 04.8255058-332; Fax : 04.8255400

Giấy phép số 294/GP-BC ngày 09/07/2007 của Cục Báo chí Bộ Văn hoá thông tin

Người chịu trách nhiệm : Nguyễn Hải Trâm, Chánh Văn phòng VKSNDTC

© Viện kiểm sát nhân dân tối cao thiết kế và giữ bản quyền.

Mong bạn đọc góp ý kiến, phê bình. Thư điện tử liên hệ: