thong bao
Trang chủ Tiếng Việt English
VỀ TỔ CHỨC BỘ MÁY CƠ QUAN ĐIỀU TRA VÀ
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TIẾN TRÌNH CẢI CÁCH TƯ PHÁP
 
MAI VĂN LƯ
Trung tâm tư vấn pháp luật Thăng Long
Hội luật gia Việt Nam
 
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị đã xác định: “Tổ chức hệ thống Toà án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính”; “Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Toà án”. Hiện nay, các cơ quan chức năng đang nghiên cứu sửa đổi, hoàn thiện các quy định của pháp luật có liên quan theo hướng xây dựng Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra theo khu vực tương ứng tổ chức và cấp xét xử của Toà án.
Trước định hướng đó, bài viết này xin phân tích một số khó khăn, vướng mắc, làm cản trở việc đấu tranh chống tội phạm, làm tăng khả năng oan, sai trong hoạt động tố tụng hình sự mà mô hình tổ chức thoát ly đơn vị hành chính của Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra sẽ gặp phải, từ thực tiễn tổ chức và hoạt động theo khu vực của Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra hình sự trong quân đội hiện nay.
1. Từ những khó khăn, vướng mắc của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát quân sự khi tổ chức theo mô hình khu vực hiện nay
Để thực hiện Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988, từ ngày 01/01/1988, hệ thống Toà án, Viện kiểm sát quân sự bắt đầu hoạt động theo mô hình khu vực và cấp xét xử - cấp khu vực (là Viện kiểm sát có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng cấp huyện) được tổ chức tại các tỉnh, cấp Quân khu và cấp Trung ương. Thời kỳ này, Viện kiểm sát quân sự đảm nhận chức năng điều tra; đến năm 1992, tái thành lập Cơ quan điều tra hình sự trong quân đội, chức năng điều tra tách khỏi Viện kiểm sát quân sự; đến nay, Cơ quan điều tra hình sự được tổ chức theo đơn vị hành chính (Quân khu, Quân chủng, Binh chủng).
Từng bước, hệ thống Viện kiểm sát quân sự được kiện toàn theo đơn vị hành chính như hiện nay là: Mỗi Quân khu, Quân chủng (và tương đương) có hai hoặc ba Viện kiểm sát quân sự khu vực, Quân đoàn có 1 Viện khu vực; tổ chức của Viện kiểm sát quân sự cấp khu vực không phụ thuộc vào địa bàn đảm nhiệm của Toà án quân sự khu vực, Cơ quan điều tra cấp khu vực cũng không phụ thuộc vào địa bàn tổ chức của Viện kiểm sát quân sự khu vực. Có nghĩa là, một Toà án quân sự cấp khu vực (theo định hướng cải cách tư pháp là Toà cấp sơ thẩm) thực hiện việc xét xử bởi nhiều Viện kiểm sát khu vực truy tố, một Viện kiểm sát khu vực, thực hành quyền công tố và Kiểm sát điều tra đối với nhiều Cơ quan tra hình sự khu vực của chính Quân khu đó và những vụ án do Cơ quan điều tra hình sự Binh chủng thực hiện khi có vụ án xảy ra trên địa bàn.
 Ví dụ: Toà án quân sự khu vực 2 Quân khu 4 (trụ sở tại thành phố Huế) có hai Viện kiểm sát quân sự khu vực thuộc Quân khu 4 (Viện kiểm sát quân sự khu vực 42, 43) và các Viện kiểm sát quân sự khu vực thuộc Bộ đội biên phòng, Phòng không không quân, cơ quan Bộ quốc phòng và Quân đoàn thực hiện việc truy tố. Hoặc, Viện kiểm sát quân sự khu vực 41 (trụ sở tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An) chịu trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với 2 Cơ quan điều tra hình sự khu vực thuộc Quân khu 4 là Cơ quan điều tra hình sự khu vực 41, khu vực 42 và Cơ quan điều tra khu vực thuộc Binh chủng và tương đương nếu có án xảy ra trên địa bàn các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An. Hoặc, một Viện kiểm sát quân sự khu vực thuộc quân chủng và tương đương cũng có thể phải đảm nhiệm thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra đối với các vụ án hình sự do 2 Cơ quan điều tra cấp khu vực thuộc quân chủng đó điều tra, như: Viện kiểm sát quân sự Khu vực 2 Bộ đội biên phòng (có trụ sở tại thành phố Hồ Chí Minh) thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với Cơ quan điều hình sự khu vực 2 Bộ đội biên phòng (có trụ sở tại thành phố Đà Nẵng) và Cơ quan điều tra hình sự khu vực 3 Bộ đội biên phòng (có trụ sở tại thành phố Hồ Chí Minh).
Với cơ cấu tổ chức đó, trong khi Bộ luật Tố tụng Hình sự yêu cầu Điều tra viên phải thực hiện khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thời hạn phải phê chuẩn các quyết định tố tụng được tính theo giờ, mà yêu cầu Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải không để lọt tội phạm, không làm oan người không phạm tội, không vi phạm pháp luật trong quá trình thực hiện nhiệm vụ là đòi hỏi vô cùng khó khăn trong thực tiễn.
2. Những khó khăn, trở ngại trong đấu tranh chống tội phạm khi Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoạt động theo mô hình khu vực
2.1. Không bám sát được địa bàn, không phát huy được sức mạnh của hệ thống chính trị tại địa phương bằng quyền lực hành chính; do hiểu về tình hình trật tự trị an - xã hội tại nơi có tội phạm xảy ra ít, nên việc điều tra, khám phá tội phạm gặp nhiều khó khăn, sẽ bỏ lọt nhiều tội phạm.
Cơ cấu hành chính Nhà nước ta được tổ chức từ thôn (bản), khu phố đến cấp Trung ương; tại mỗi cấp đều có cả cơ cấu của hệ thống chính trị (Chính quyền, Đảng, Đoàn thể), mỗi một biến động tại cơ sở đều được báo cáo theo ngành dọc về trên để có xử lý thích hợp. Đối với lĩnh vực trật tự trị an, trách nhiệm xử lý thuộc về cơ quan Công an, khi việc điều tra, khám phá tội phạm cũng thuộc chức năng của lực lượng này, thì thông tin về tội phạm, không những được cập nhật nhanh chóng mà việc xử lý thông tin sẽ kịp thời, hiệu quả. Đối với địa bàn cấp huyện, Thủ trưởng Cơ quan điều tra thuộc Công an cấp huyện đồng thời cũng là lãnh đạo cơ quan Công an cấp huyện, nên mỗi khi có tội phạm xảy ra, việc trực tiếp chỉ đạo điều tra không chỉ là bổn phận của người thực hiện quyền năng quy định tại Điều 34 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, mà còn là nhiệm vụ chính trị của Thủ trưởng cơ quan Công an cấp huyện. Do vậy, người có thẩm quyền đó, không chỉ là chỉ đạo Điều tra viên, mà còn có quyền “điều hành” bộ máy chính quyền địa phương với tư cách là Thủ trưởng cơ quan Công an cấp huyện để nhanh chóng khám phá tội phạm, khắc phục hậu quả xảy ra.
 Nếu hoạt động theo mô hình tổ chức khu vực, khi Thủ trưởng Cơ quan điều tra đến địa bàn để chỉ đạo điều tra tội phạm, thì chỉ có mối quan hệ phối thuộc của chính quyền địa phương hoặc nhờ địa phương giúp đỡ (đây là vấn đề gặp nhiều khó khăn, vướng mắc mà cơ quan tiến hành tố tụng trong Quân đội hiện nay đang gặp phải); do đó, hiệu quả khám phá tội phạm rất hạn chế.
2.2. Tính kịp thời trong hoạt động điều tra bị chi phối do địa bàn rộng, do giao thông không thuận lợi; việc thu thập chứng cứ thường không trọn vẹn, dễ bị kéo dài thời hạn, dẫn đến oan, sai, bỏ lọt tội phạm.
Nếu như các Cơ quan điều tra cấp khu vực trong Quân đội hiện nay có địa bàn hoạt động rộng, việc không kịp thời có mặt tại nơi tội phạm xảy ra là một hiển nhiên, thì đối với Cơ quan điều tra thuộc Công an cấp huyện cũng không ít đơn vị có bán kính hoạt động trên 50 km.
Với cự ly đó, việc thu thập chứng cứ nóng là rất khó khăn, ngay cả những vụ án phạm tội quả tang như: Gây rối trật tự công cộng, vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, cũng cần rất nhiều yếu tố “kịp thời” nhằm thu thập chứng cứ khách quan (ví dụ: Thu thập các chứng cứ dễ bị mất theo thời gian, lấy lời khai của nạn nhân khi họ có thể sắp tử vong.v.v.). Hoặc, khi mời người làm chứng, nếu là Cơ quan điều tra ở nơi khác đến cũng gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nơi làm việc, gặp trở ngại trong việc động viên người biết sự việc làm chứng cho vụ án, còn nếu mời họ đến trụ sở của Cơ quan điều tra khu vực thì lại gặp trở ngại hơn, vì cự ly xa, mất nhiều thời gian.v.v. Đối với những trường hợp phải bảo vệ người làm chứng, thì Cơ quan điều tra khu vực sẽ không đủ điều kiện để bảo vệ, nếu giao cho Uỷ ban nhân dân địa phương thì hiệu quả sẽ càng thấp hơn.
Nhưng, nếu ổn định bộ máy như hiện nay (Cơ quan điều tra thuộc Công an cấp huyện và tương đương với cấp sơ thẩm) thì những trở ngại trên sẽ được gỡ bỏ, việc “bàn giao” nhiệm vụ cho chính quyền địa phương của Cơ quan điều tra còn “bao hàm” mệnh lệnh hành chính từ cơ quan hành chính cấp trên, nên từ người dân đến các cơ quan hành chính huyện, quận, phường, xã đều có trách nhiệm phục tùng nghiêm túc.
2.3. Đối với hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát
 Nếu trong hoạt động xét xử, mô hình tổ chức Toà án theo khu vực không ảnh hưởng đến tiến độ mở phiên toà cũng như chất lượng của bản án, vì Toà án luôn chủ động trong việc thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch, thì hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra lại luôn bị động, do quá trình thực hiện nhiệm vụ luôn chịu ràng buộc của yếu tố thời gian mà luật đã quy định. Điều quan trọng, thời gian là yếu tố khách quan tác động vào cuộc điều tra và thực hành quyền công tố, thời gian chính là lực lượng, nếu chậm trễ sẽ dẫn đến oan, sai, bỏ lọt tội phạm. Bởi, nếu không nhanh chóng thì sẽ không thu giữ được các chứng cứ nóng (thu giữ dấu vết qua khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, lấy lời khai nạn nhân bị trọng thương trước khi hôn mê hoặc tử vong.v.v.), không bắt giữ kịp thời, chính xác đối tượng phạm tội; từ đó, làm cho cuộc điều tra kéo dài, luôn chứa đựng yếu tố sai phạm.
Mặc dù không phải là người trực tiếp thu thập chứng cứ, nhưng Kiểm sát viên có quyền và có trách nhiệm đến hiện trường, thực hiện kiểm sát việc khám nghiệm, tham gia thu thập chứng cứ khi vụ án mới xảy ra; để từ đó, khi thực hành quyền công tố, có cơ sở đánh giá, nhận định đối tượng phạm tội chính xác, giúp cho việc phê chuẩn các lệnh và quyết định tố tụng kịp thời. Mọi hoạt động của Kiểm sát viên không chỉ là thực hiện theo “chức năng”, mà còn là hình thức pháp lý và có trách nhiệm tạo điều kiện để Điều tra viên hoàn thành nhiệm vụ. Trên hết, khi các quyết định phê chuẩn trong hoạt động tố tụng hình sự của Viện kiểm sát chính xác, kịp thời thì khi đó hoạt động của Kiểm sát viên đã góp phần khám phá tội phạm hiệu quả nhất. Thực chất, trong đấu tranh chống tội phạm, khó khăn của Cơ quan điều tra cũng chính là khó khăn của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát; ngoài ra, mỗi Kiểm sát viên, tại một thời điểm, thường đảm nhiệm nhiều vụ án do các Điều tra viên khác nhau đảm nhiệm, nếu không bám sát được hoạt động điều tra thì sẽ rất khó hoàn thành nhiệm vụ, nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động điều tra được tuân thủ đúng pháp luật, tránh làm oan người vô tội và bỏ lọt tội phạm.
3. Đề xuất
Từ thực tiễn cho thấy: Với các điều kiện của cơ sở vật chất, phương tiện làm việc, con người… của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát như hiện nay sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong công tác điều tra tội phạm và thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra khi tổ chức theo khu vực và không còn được hệ thống hành chính “phục vụ” như hiện nay. Bởi, hoạt động điều tra, truy tố tội phạm, luôn đòi hỏi phải nhanh chóng, kịp thời, chính xác, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm; việc đấu tranh này phải nhằm giữ vững trật tự xã hội, mang lại sự bình yên và tạo ra môi trường thuận lợi cho kinh tế phát triển. Cuộc đấu tranh này, không phải chỉ do người tiến hành tố tụng thực hiện, mà phải có sự tham gia của toàn dân, phải có sự giám sát của nhân dân. Đây là cuộc đấu tranh đòi hỏi cả hệ thống chính trị cùng tham gia với trách nhiệm cao nhất trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức thành viên. Vì vậy, hoạt động điều tra, truy tố cũng phải có sự giám sát của họ. Nếu tách Cơ quan điều tra, Cơ quan Viện kiểm sát ra khỏi đơn vị hành chính địa phương, thì cũng có nghĩa đã gạt cấp Chính quyền thoát ly trách nhiệm đấu tranh phòng, chống tội phạm, là loại bỏ sự giám sát thường xuyên, trực tiếp của hệ thống chính trị địa phương đối với hoạt động này; và còn trái với quy định về mở rộng quyền dân chủ đã quy định tại Hiến pháp, đồng thời cũng đặt hoạt động này vào tình thế khó khăn (như đã nêu trên) khi thực thi nhiệm vụ.
Mặt khác, thiết lập hệ thống Cơ quan điều tra, Cơ quan Viện kiểm sát theo đơn vị hành chính tỉnh, huyện, cũng chính là đảm bảo sự ổn định về thiết chế chính trị, đảm bảo sự lãnh đạo trực tiếp, có hiệu quả của Cấp uỷ địa phương đối với lĩnh vực trật tự - trị an, an toàn xã hội. Theo chúng tôi, thiết lập cơ cấu chính trị xã hội của bộ máy Nhà nước, không đơn giản là cơ quan đó có nhiều việc hay ít việc, không thể so sánh hiệu quả bằng tiền như tổ chức kinh doanh. Không thể cho rằng, vì tiết kiệm ngân sách nên phải giảm bớt các cơ quan này. Mà, phải xuất phát từ yêu cầu, nếu có tội phạm xảy ra thì các cơ quan này phải làm gì để đấu tranh có hiệu quả với tội phạm đó. Đồng thời, các cơ quan này, ngoài nhiệm vụ thường trực đấu tranh chống tội phạm, còn có ý nghĩa to lớn là tác động vào công tác phòng ngừa tội phạm.
Từ những vấn đề trên, chúng tôi đề nghị. Trong điều kiện cơ sở, vật chất, phương tiện kỹ thuật, trình độ cán bộ, trình độ dân trí chưa cao như hiện nay…, thì trước mắt cần duy trì tổ chức, hệ thống Cơ quan điều tra, cơ quan Viện kiểm sát theo đơn vị hành chính cấp huyện, tỉnh như hiện nay. Mỗi huyện là một đơn vị cấp sơ thẩm, mỗi tỉnh là một cấp phúc thẩm, các Viện phúc thẩm thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao hiện nay là cấp Thượng thẩm. Mối quan hệ của Viện kiểm sát cấp sơ thẩm, phúc thẩm với hệ thống chính trị tại địa phương như quan hệ hiện nay của Viện kiểm sát nhân dân huyện, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh là phù hợp với tình hình đấu tranh phòng, chống tội phạm ở nước ta./.
 
      Ngày 03/09/2008











Liên kết

Số lần truy nhập 25147685

Trang chủ Liên hệ Góp ý Về đầu trang

Trang thông tin điện tử của Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trụ sở : số 44 - Lý Thường Kiệt - Hà Nội; Điện thoại : 04.8255058-332; Fax : 04.8255400

Giấy phép số 294/GP-BC ngày 09/07/2007 của Cục Báo chí Bộ Văn hoá thông tin

Người chịu trách nhiệm : Nguyễn Hải Trâm, Chánh Văn phòng VKSNDTC

© Viện kiểm sát nhân dân tối cao thiết kế và giữ bản quyền.

Mong bạn đọc góp ý kiến, phê bình. Thư điện tử liên hệ: