thong bao
Trang chủ Tiếng Việt English
MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHỨC NĂNG
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP
CỦA VIỆN KIỂM SÁT THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP
 
Thạc sỹ NGUYỄN DUY GIẢNG
Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh
 
Vấn đề hoàn thiện các quy định về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát theo yêu cầu cải cách tư pháp, theo chúng tôi cần nghiên cứu kỹ và chú ý một số vấn đề sau đây:
- Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân theo Hiến pháp và pháp luật hiện hành là kết quả của một quá trình hình thành, phát triển của Ngành hơn nửa thế kỷ qua trên cơ sở những quan điểm đúng đắn của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, đã được kiểm nghiệm trong thực tế. Thực tiễn đã chứng minh các quy định về Viện kiểm sát nhân dân theo Hiến pháp và pháp luật hiện hành cơ bản là phù hợp với thể chế chính trị, truyền thống pháp luật và điều kiện cụ thể của Việt Nam. Vì vậy, việc hoàn thiện quy định về vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy Nhà nước phải hướng tới mục tiêu làm cho Viện kiểm sát nhân dân các cấp có điều kiện thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ được giao để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
- Việc hoàn thiện quy định về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát theo yêu cầu cải cách tư pháp phải trên cơ sở tổng kết thực tiễn thi hành Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và các văn bản pháp luật khác có liên quan qua các thời kỳ, đánh giá đúng những thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân so với yêu cầu cải cách tư pháp. Những mặt mạnh trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Ngành phải được tiếp tục phát huy, đối với những hạn chế cần xác định rõ nguyên nhân và chỉ những nguyên nhân nào liên quan đến quy định của pháp luật về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của Viện kiểm sát thì chúng ta mới đặt vấn đề bổ sung, sửa đổi pháp luật cho hoàn thiện; đối với những nguyên nhân khác thì phải có giải pháp riêng phù hợp.
 
 
(Hội nghị đánh giá công tác phối hợp Vụ 1 Viện kiểm sát nhân dân tối cao
 và C15 Bộ Công an)
- Trên thế giới do cách thức tổ chức bộ máy Nhà nước của các quốc gia khác nhau nên cơ quan Công tố/Kiểm sát được tổ chức và hoạt động không giống nhau nhưng đều có một vị trí độc lập trong bộ máy Nhà nước và vị trí đó là yếu tố đảm bảo cho cơ quan này hoạt động khách quan, chỉ tuân theo pháp luật và bảo vệ pháp luật, bảo vệ công lý và trật tự chung. Người đứng đầu ngành Công tố/Kiểm sát thường do Quốc hội, nguyên thủ quốc gia hay người đứng đầu Chính phủ bổ nhiệm. Tổ chức bộ máy của hệ thống các cơ quan Công tố/Kiểm sát trên thế giới được tổ chức linh hoạt, đa dạng nhưng luôn phù hợp với hai cấp xét xử của Toà án. ở các quốc gia theo truyền thống pháp luật châu Âu lục địa giống như nước ta thì cơ quan Công tố đều có vai trò chỉ đạo và quyết định trong giai đoạn điều tra. Cơ quan Công tố/Kiểm sát ở các nước ngoài chức năng thực hành quyền công tố, đều thực hiện nhiệm vụ giám sát tư pháp, tố tụng dân sự; giám sát việc giam giữ, cải tạo, thi hành án; nhưng việc giao thực hiện chức năng, nhiệm vụ đến mức độ nào phụ thuộc vào đặc điểm thể chế chính trị, truyền thống pháp luật, trình độ phát triển về kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi nước(1). Vì vậy, trong quá trình hoàn thiện quy định về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân theo yêu cầu cải cách tư pháp tất nhiên phải nghiên cứu tham khảo thêm kinh nghiệm nước ngoài, nhưng nhất thiết không được sao chép giản đơn các mô hình của nước ngoài không phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Từ thực tiễn hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân địa phương, chúng tôi nhận thấy:
Về thể chế chính trị và cách thức tổ chức bộ máy Nhà nước: Nhà nước ta được tổ chức theo nguyên tắc quyền lực Nhà nước tập trung vào Quốc hội - cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng giữa Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Viện kiểm sát nhân dân ngoài chức năng thực hành quyền công tố còn có chức năng giúp Quốc hội giám sát việc thi hành pháp luật của các cơ quan thuộc Chính phủ và Toà án nhân dân (trước đây là giám sát trên tất cả các lĩnh vực, còn hiện nay là trong lĩnh vực hoạt động tư pháp), chính đây là một trong các cơ chế giám sát phù hợp nhất với mô hình tổ chức bộ máy Nhà nước ta. Vì vậy, vấn đề “nghiên cứu chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố” có được đặt ra, nhưng chúng ta không thể đơn thuần đổi tên Viện kiểm sát thành Viện công tố hay điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của nó mà lại giữ nguyên các hệ thống khác trong bộ máy Nhà nước. Nếu chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố, thì cần “nghiên cứu lại chức năng, nhiệm vụ của nhiều cơ quan trong bộ máy Nhà nước, kể cả cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất là Quốc hội”(2). Theo quan điểm của chúng tôi, thì thể chế chính trị, cách thức tổ chức và thực thi quyền lực Nhà nước của chúng ta hiện nay đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta lựa chọn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và đã chứng tỏ được tính ưu việt của nó nên chỉ cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện thêm để nó vận hành tốt hơn chứ không đặt vấn đề thay đổi quá lớn. Tương tự như vậy, trong quá trình hoàn thiện quy định về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát theo yêu cầu cải cách tư pháp, chúng ta cần thấy rõ Viện kiểm sát là hệ thống cơ quan được thành lập xuất phát từ yêu cầu tất yếu khách quan để đảm bảo cơ chế giám sát trong bộ máy Nhà nước, phù hợp với thể chế chính trị và cách thức tổ chức quyền lực của Nhà nước ta, chỉ cần đặt vấn đề nghiên cứu để hoàn thiện thêm nhằm làm cho hệ thống này phát huy tốt hơn nữa vai trò, vị trí của nó là cách làm phù hợp nhất.
Về truyền thống pháp luật: Trong nửa thế kỷ qua, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân được thành lập và đã góp phần quan trọng vào việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, bảo đảm cho việc thực thi pháp luật.
Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ công lý và trật tự chung trong xã hội. Với vị trí, vai trò độc lập và chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân là một bảo đảm quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Từ những lý do trên chúng tôi đề nghị trong quá trình hoàn thiện quy định về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát theo yêu cầu cải cách tư pháp, về cơ bản nên kế thừa các quy định về vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy Nhà nước như quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, cần nghiên cứu hoàn thiện thêm một số quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát cho phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp, bao gồm những vấn đề sau đây:
* Về chức năng, nhiệm vụ
Đối với chức năng thực hành quyền công tố, về cơ bản những quy định hiện hành trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Bộ luật Tố tụng Hình sự là hợp lý, nhưng có một số quy định về nhiệm vụ của Viện kiểm sát còn thiếu tính khả thi, cần hoàn thiện thêm. Cụ thể là:
- Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự: Khoản 1 và khoản 2 Điều 12 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra Viện kiểm sát nhân dân phải bảo đảm: Mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội. Nhưng để Viện kiểm sát thực hiện tốt nhiệm vụ này, trong thực tiễn cần giải quyết những vướng mắc sau:
+ Để chống bỏ lọt tội phạm trước hết Viện kiểm sát phải kiểm sát được hoạt động tiếp nhận và giải quyết tin báo, tố giác tội phạm của các cơ quan có thẩm quyền đã được pháp luật quy định. Nhưng Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 tuy quy định Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của Cơ quan điều tra đối với tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố, nhưng không quy định các quyền năng pháp lý cụ thể và cần thiết cho việc thực hiện nhiệm vụ này. Trong nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên được quy định tại Điều 37 Bộ luật Tố tụng Hình sự cũng chỉ có những quy định Kiểm sát viên có những nhiệm vụ, quyền hạn phát sinh từ khi được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự. Chính vì vậy, hiện nay trong thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân các địa phương vẫn còn lúng túng trong việc áp dụng biện pháp nghiệp vụ có tính pháp lý để kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm. Có ý kiến cho rằng, Viện kiểm sát phải chủ động tìm mọi biện pháp để nắm toàn bộ tin báo tội phạm xảy ra trên địa bàn. ý kiến khác cho rằng, pháp luật chỉ quy định Viện kiểm sát có nhiệm vụ tiếp nhận và chuyển Cơ quan điều tra giải quyết những tin báo, tố giác tội phạm đã được gửi hoặc thông báo đến Viện kiểm sát nhân dân theo quy định tại Điều 103 Bộ luật Tố tụng Hình sự; ngoài ra, Viện kiểm sát không có trách nhiệm và cũng không có quyền tổ chức việc đến các cơ quan khác để nắm tin báo tội phạm hoặc yêu cầu họ cung cấp thông tin trước khi vụ án được khởi tố vì Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Bộ luật Tố tụng Hình sự không có quy định cụ thể về vấn đề này. Do Viện kiểm sát không có đủ quyền năng và điều kiện nắm hết tình hình tội phạm xảy ra, không quản lý được kết quả giải quyết tố giác, tin báo tội phạm nên hoạt động của Viện kiểm sát các cấp trong việc chống bỏ lọt tội phạm trong những năm qua hiệu quả rất hạn chế.
+ Mặc dù khoản 1 Điều 13 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và điểm a khoản 2 Điều 36 Bộ luật Tố tụng Hình sự có quy định khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, Viện kiểm sát có nhiệm vụ và quyền hạn “khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can...), nhưng tại Điều 104 Bộ luật Tố tụng Hình sự (quy định về khởi tố vụ án hình sự) lại quy định Viện kiểm sát chỉ được ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp Viện kiểm sát huỷ bỏ quyết định không khởi tố của Cơ quan điều tra và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Vì vậy, thực tế có nhiều trường hợp vụ việc có dấu hiệu tội phạm cần được khởi tố điều tra, nhưng vì những lý do khác nhau, Cơ quan điều tra không ra quyết định khởi tố và cũng không ra quyết định không khởi tố vụ án thì Viện kiểm sát không thể ra quyết định khởi tố vụ án để yêu cầu điều tra mà chỉ có thể ra văn bản yêu cầu khởi tố vụ án (theo quy định tại Điều 114 Bộ luật Tố tụng Hình sự yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát. Đây không phải là loại yêu cầu mà nếu không nhất trí, thì Cơ quan điều tra vẫn phải chấp hành như một số yêu cầu, quyết định khác nên tính hiệu lực bị hạn chế).
 Đối với việc khởi tố bị can, tại khoản 5 Điều 126 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định Viện kiểm sát chỉ thực hiện thẩm quyền khởi tố bị can sau khi nhận hồ sơ và kết luận điều tra mà Viện kiểm sát phát hiện có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố (thực ra điều này cũng là một căn cứ để trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung); như vậy, trước khi Cơ quan điều tra có kết luận điều tra, Viện kiểm sát chỉ được yêu cầu khởi tố bị can. Quy định nói trên có mặt hạn chế là trong khi vụ án đang được tiến hành điều tra, nếu yêu cầu khởi tố bị can của Viện kiểm sát chưa được thực hiện thì phải chờ đến khi nhận hồ sơ và kết luận điều tra, Viện kiểm sát mới có thể ra quyết định khởi tố bị can và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra (phải trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung), làm kéo dài thời gian điều tra vụ án một cách không cần thiết. Sẽ kịp thời, hiệu quả hơn nếu quy định trong giai đoạn điều tra vụ án mà phát hiện có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố bị can, nếu Cơ quan điều tra không khởi tố thì Viện kiểm sát có quyền khởi tố bị can, yêu cầu Cơ quan điều tra điều tra.
+ Trong thực tiễn, đối với một vụ án cụ thể, do nhiều lý do khác nhau Cơ quan điều tra đã không khởi tố điều tra, khi chấp nhận yêu cầu khởi tố bị can của Viện kiểm sát thường là miễn cưỡng, không tích cực điều tra, kéo dài việc điều tra… dẫn đến kết quả điều tra hạn chế, nhiều vụ sau đó phải đình chỉ điều tra, từ đó cũng làm cho Viện kiểm sát có phần hạn chế khi sử dụng quyền này. Thực tế đã có những trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu là có căn cứ, nhưng vì trái với quan điểm của Cơ quan điều tra nên Cơ quan điều tra không tích cực thu thập chứng cứ buộc tội (mà Viện kiểm sát cũng không thể làm thay) nên cuối cũng phải đình chỉ điều tra. Nếu trường hợp này, pháp luật trao cho Viện kiểm sát thẩm quyền trực tiếp tiến hành điều tra đối với những vụ án nhất định mà Viện kiểm sát có khả năng điều tra khi xét thấy cần thiết (ngoài các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp) thì pháp luật sẽ được chấp hành nghiêm chỉnh hơn.
Vì vậy, theo chúng tôi để tạo điều kiện cho Viện kiểm sát thực hiện tốt hơn nhiệm vụ trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án hình sự, bảo đảm: Mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội thì Bộ luật Tố tụng Hình sự và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân cần quy định rõ các vấn đề sau:
- Viện kiểm sát có quyền yêu cầu các cơ quan (bao gồm Cơ quan điều tra, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, cũng như các tổ chức khác và cá nhân) cung cấp tài liệu, thông tin cần thiết cho việc xác định dấu hiệu tội phạm nhằm phục vụ cho công tác kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
- Mở rộng phạm vi Viện kiểm sát thực hiện quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can theo hướng: Trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, khi có căn cứ để khởi tố vụ án, khởi tố bị can thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố, nếu yêu cầu đó không được Cơ quan điều tra thực hiện thì Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và yêu cầu điều tra.
- Cần giao cho Viện kiểm sát thẩm quyền trực tiếp tiến hành điều tra đối với những vụ án nhất định mà Viện kiểm sát có khả năng điều tra khi xét thấy cần thiết (ngoài các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp).
Những vấn đề nêu trên không những không trái với chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát mà còn làm cho Viện kiểm sát thực hiện chức năng này tốt hơn. Thực tế ở các khía cạnh khác nhau những vấn đề nêu trên đã được quy định trong các Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân trước đây cũng như các Bộ luật Tố tụng Hình sự mà Viện kiểm sát đã từng thực hiện. Nhà nước đã giao cho Viện kiểm sát chức năng thực hành quyền công tố, chịu trách nhiệm chống bỏ lọt tội phạm và chống oan, sai trong hoạt động tố tụng hình sự, thì việc trao cho Viện kiểm sát các thẩm quyền mà chúng tôi đề cập ở trên là điều đương nhiên, cần thiết và phù hợp với hầu hết mô hình các Viện kiểm sát/Viện công tố trên thế giới và cũng phù hợp với Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị là “tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra”.
Đối với chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, về cơ bản những quy định trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 là phù hợp với thực tiễn và trong nhiều năm qua, Viện kiểm sát nhân dân các địa phương đã thực hiện tương đối tốt, có hiệu quả cao; ở một số khâu công tác kiểm sát còn có một số hạn chế nhất định nhưng không phải xuất phát từ quy định của pháp luật mà chủ yếu là do những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan khác. Tuy nhiên, đối với công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác thì có một số vấn đề còn hạn chế có nguyên nhân do Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 đã có một số quy định chưa phù hợp liên quan đến vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tố tụng dân sự. Dưới đây là một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn:
- Xuất phát từ nguyên tắc “nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự” và tôn trọng “quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự” nên Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 hạn chế vai trò tham gia tố tụng của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự, dẫn đến Viện kiểm sát khó có thể hoàn thành nhiệm vụ là “đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật”. Khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 quy định Viện kiểm sát tham gia phiên toà đối với những vụ án do Toà án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại, các việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án, các vụ việc dân sự mà Viện kiểm sát kháng nghị bản án, quyết định của Toà án. Khác với quy định tại các Pháp lệnh tố tụng dân sự, tố tụng kinh tế... trước đây và khoản 3 Điều 21 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định là Viện kiểm sát “Tham gia các phiên toà và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về việc giải quyết vụ án”; như vậy, Viện kiểm sát có quyền tham gia tất cả các phiên toà dân sự. Quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 được xây dựng trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của một số nước, nhưng qua thực tiễn thi hành cho thấy quy định như vậy là chưa phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta giai đoạn hiện nay. Nếu như ở các nước đã có trình độ phát triển cao và truyền thống pháp luật đã có quá trình lâu dài dưới sự phát triển của chế độ tư bản chủ nghĩa, khi mỗi bên nguyên đơn, bị đơn thưa kiện nhau họ đều có hiểu biết pháp luật đầy đủ và có điều kiện để có Luật sư của riêng mình; mọi việc đều có Luật sư đứng ra làm đại diện lo liệu; thì ở nước ta đại đa số người dân chưa có được điều kiện đó. Tố tụng dân sự là một lĩnh vực phức tạp, vì nhiều lý do khác nhau, những người dân gặp rất nhiều khó khăn trong việc chứng minh cho yêu cầu của mình, nhiều người thậm chí chưa nắm được mình có quyền yêu cầu Toà án thu thập chứng cứ, càng không biết Toà án thu thập chứng cứ như vậy có đúng pháp luật hay không để khiếu nại hoặc có khiếu nại nhưng không gửi đến Viện kiểm sát; do vậy, Viện kiểm sát không có cơ sở mượn hồ sơ của Toà án để nghiên cứu, kiểm sát việc lập hồ sơ. Do không được nghiên cứu hồ sơ, phần lớn các phiên toà không được tham gia (vì không thuộc trường hợp được tham gia theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự), nên việc kiểm sát bản án, quyết định của Toà án gặp rất nhiều khó khăn, hiệu quả thấp hơn so với trước đây, khi chưa có quy định nói trên của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004. Bản thân đương sự do hiểu biết pháp luật hạn chế nên mặc dù có quyền tự định đoạt, nhưng rất nhiều người lại không biết được mình phải định đoạt như thế nào cho có lợi nhất theo quy định của pháp luật. Trong thực tế không ít người, kể cả người tiến hành tố tụng vì tiêu cực hoặc động cơ khác, lợi dụng sự thiếu hiểu biết của một bên đương sự để lừa dối họ và họ đã “tự định đoạt” theo hướng có lợi hơn cho bên đương sự còn lại, gây thiệt hại cho mình mà không biết. Như vậy, theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004, có một số vấn đề được phó mặc cho đương sự (nghĩa vụ chứng minh, quyền tự định đoạt) về lý thuyết là phù hợp với các nguyên tắc của tố tụng dân sự, nhưng thực tế là đa số người dân, nhất là những người yếu thế trong xã hội chưa sẵn sàng để thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó, mà vẫn cần sự giúp đỡ của một thiết chế phù hợp từ phía Nhà nước để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Trong khi đó, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thích hợp và có điều kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân một cách có hiệu quả, chẳng những không làm ảnh hưởng gì đến các nguyên tắc “nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự” và “quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự” mà còn giúp họ thực hiện tốt hơn các nguyên tắc trên một cách thực chất thì lại bị hạn chế vai trò, quyền năng trong tố tụng dân sự. Phải chăng, trong Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 có một số quy định đã “đi trước, vượt quá” so với trình độ phát triển kinh tế, xã hội khách quan ở nước ta trong giai đoạn hiện nay? Pháp luật là yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng, cần phải được xây dựng phù hợp với trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng và các thiết chế xã hội khác, nếu pháp luật xây dựng “vượt quá” trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng kinh tế và những yếu tố đang tương tác với nó (chẳng hạn ý thức pháp luật, trình độ dân trí...), phó thác cho người dân những quyền và nghĩa vụ mà bản thân họ chưa thể tự gánh vác được thì sẽ không đạt được mục đích đề ra. Vì vậy, theo chúng tôi, bên cạnh việc tôn trọng nguyên tắc “nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự” và tôn trọng “quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự” trong tố tụng dân sự thì cần tiếp tục duy trì vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân ở mức độ cao hơn so với quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 trong một thời gian tương đối dài như là một cách hỗ trợ cho công dân thực hiện tốt hơn, thực chất và hiệu quả hơn các nguyên tắc đó, thể hiện tính ưu việt của chế độ ta, cho đến khi đất nước phát triển tới một trình độ cao hơn và người dân có đủ điều kiện để tự thực hiện được đầy đủ và có hiệu quả các quyền và nghĩa vụ của mình trong tố tụng dân sự.
- Cũng xuất phát từ nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự, nên Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 đã loại bỏ quyền “khởi tố vụ án theo quy định của pháp luật” đã được quy định tại khoản 2 Điều 21 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002. Trong thực tế hiện nay, trong nền kinh tế đang chuyển đổi, một số cá nhân trong các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có sử dụng vốn, tài sản Nhà nước có thể từ bỏ lợi ích của chính doanh nghiệp do mình quản lý nếu bản thân tìm thấy lợi ích từ phía đối tác đưa lại. Có những vụ làm ăn về hình thức là rất hợp pháp, các khoản thua lỗ, nợ nần gây thiệt hại cho doanh nghiệp (suy cho cùng là thiệt hại cho Nhà nước, vì không ai phải đưa tài sản cá nhân ra bù đắp cả), nhưng một số cá nhân trong doanh nghiệp thì có lợi mà không dễ gì bắt lỗi được về hình sự, còn về dân sự, kinh tế thì không ai khởi kiện, vì đôi bên “cùng có lợi” và họ có quyền tự định đoạt có khởi kiện hay không khởi kiện như thế nào. Có những trường hợp sau khi khởi kiện đã tự hoà giải theo hướng có lợi nhất cho đối tác để rồi bản thân cũng có lợi. Trong những trường hợp này “nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự” đã bị lạm dụng để vun vén lợi ích cá nhân, xâm phạm lợi ích Nhà nước. Đó là chưa kể đến nhiều vụ lợi dụng cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, định giá tài sản thấp làm thiệt hại cho tài sản công nhưng có lợi cho cá nhân. Nếu Bộ luật Tố tụng Dân sự giao cho Viện kiểm sát nhân dân quyền khởi tố vụ án dân sự để bảo vệ lợi ích của Nhà nước như trước đây thì sẽ là một cách hữu hiệu nhằm hạn chế sự lạm dụng nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự để xâm phạm lợi ích công trong những trường hợp chúng tôi đã nêu ở trên.
Xuất phát từ những nhu cầu đặt ra từ thực tiễn, điều kiện kinh tế xã hội, trình độ dân trí như hiện nay, để đảm bảo cho Viện kiểm sát thực hiện tốt hơn chức năng của mình trong lĩnh vực tố tụng dân sự theo yêu cầu cải cách tư pháp, bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật, chúng tôi kiến nghị sửa đổi Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 theo hướng:
+ Quy định giao cho Viện kiểm sát tham gia các phiên toà và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án như quy định tại khoản 3 Điều 20 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 mà không bị hạn chế như quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004. Nhiệm vụ này trước đây Viện kiểm sát nhân dân đã thực hiện (trước khi ban hành Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004), nên nếu được như vậy thì hiệu quả công tác kiểm sát sẽ có tính khả thi cao. Để đảm bảo tính linh hoạt thì nên quy định theo hướng Viện kiểm sát tham gia các phiên toà và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án trong các trường hợp do pháp luật quy định có tính bắt buộc (như khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004) và khi xét thấy cần thiết (những trường hợp qua công tác kiểm sát Viện kiểm sát xét thấy cần tham gia để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của Nhà nước).
+ Để góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước cần quy định Viện kiểm sát có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức có trách nhiệm khởi kiện để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, nếu họ không thực hiện quyền khởi kiện thì Viện kiểm sát khởi tố vụ án dân sự và tham gia tố tụng với tư cách là một bên đương sự đại diện cho lợi ích của Nhà nước trong lĩnh vực dân sự, kinh tế - thương mại). Ngoài ra, cần bổ sung trường hợp Viện kiểm sát bắt buộc phải tham gia phiên toà khi việc giải quyết vụ án có liên quan đến lợi ích của Nhà nước và trong các trường hợp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân có nhược điểm về thể chất và tinh thần mà không tự mình bảo vệ được các quyền đó khi bị xâm hại.
* Về tổ chức, bộ máy
Tổ chức, bộ máy của Viện kiểm sát hiện nay cơ bản là phù hợp với chức năng, nhiệm vụ. Tuy vậy, có một số vấn đề sau đây cần được nghiên cứu, xem xét thận trọng:
- Trong chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị có đặt vấn đề nghiên cứu tổ chức hệ thống Toà án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, gồm: Toà án sơ thẩm khu vực; Toà án phúc thẩm; Toà thượng thẩm và Toà án nhân dân tối cao, và Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Toà án, Cơ quan điều tra trước mắt thực hiện mô hình tổ chức theo pháp luật hiện hành. ở đây Bộ Chính trị mới đặt vấn đề để định hướng nghiên cứu, nhưng dưới góc độ là người làm công tác thực tiễn, chúng tôi thấy rằng:
+ Toà án là cơ quan xét xử, để đảm bảo tính độc lập của Toà án trong hoạt động xét xử thì việc tổ chức hệ thống Toà án như Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị là một phương án phù hợp, có tính khả thi do hoạt động xét xử mang tính độc lập cao và tương đối ổn định, lại không bị lệ thuộc vào hoạt động của các cơ quan tư pháp khác.
+ Khác với Toà án, Viện kiểm sát với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp nên trong hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ phải gắn với Cơ quan điều tra hàng ngày để nghiên cứu hồ sơ, kiểm sát các hoạt động điều tra. Nếu tổ chức của Viện kiểm sát theo hệ thống tổ chức của Toà án, thì tương ứng với Toà án khu vực sẽ có Viện kiểm sát khu vực. Trường hợp Viện kiểm sát khu vực được tổ chức ở một đơn vị hành chính thì sẽ không có trở ngại gì, nhưng nếu Viện kiểm sát khu vực được tổ chức ở một số đơn vị hành chính cấp huyện, trong khi Cơ quan điều tra vẫn giữ nguyên theo mô hình hiện nay như Nghị quyết số 49-NQ/TW đã nêu thì hoạt động của Viện kiểm sát khu vực sẽ gặp rất nhiều khó khăn, nhất là ở vùng sâu, vùng xa. Thử hình dung một Kiểm sát viên cùng một lúc phải thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với nhiều vụ án do Cơ quan điều tra của các huyện khác nhau trong khu vực điều tra, thì khó có thể hoàn thành nhiệm vụ, vì sẽ không đủ thời gian để đi hết Cơ quan điều tra huyện này sang Cơ quan điều tra huyện khác để nghiên cứu hồ sơ và kiểm sát các hoạt động điều tra của Điều tra viên; đặc biệt là các hoạt động đòi hỏi tính kịp thời như kiểm sát khám nghiệm hiện trường, kiểm sát khám nghiệm tử thi, phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp... Và như vậy, sẽ khó có thể tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra như Nghị quyết số 49-NQ/TW yêu cầu. Tương tự Kiểm sát viên thuộc các khâu công tác khác như kiểm sát giam giữ, cải tạo; kiểm sát thi hành án cũng sẽ gặp khó khăn khi phải di chuyển nhiều và xa để làm nhiệm vụ; thời gian di chuyển sẽ chiếm phần lớn thời gian lao động và cũng sẽ tốn kém về chi phí đi lại (vì nhà tạm giữ của Công an huyện, Cơ quan thi hành án huyện vẫn giữ nguyên theo cấp hành chính).
Vì vậy, về mô hình tổ chức của Viện kiểm sát trong tương lai theo chúng tôi nên giữ nguyên như hiện nay.
Về công tác tổ chức cán bộ: Theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và Pháp lệnh Kiểm sát viên năm 2002, thực chất là quy định ngạch bậc Kiểm sát viên theo cấp hành chính, nên trong công tác điều động sử dụng cán bộ và chế độ chính sách hiện nay bộc lộ nhiều bất cập cần phải được nghiên cứu sửa đổi theo hướng xoá bỏ chế độ Kiểm sát viên theo cấp hành chính như hiện nay và tăng thẩm quyền pháp lý của Kiểm sát viên trong các hoạt động tố tụng. Cụ thể là nên quy định theo các ngạch như sau: Kiểm sát viên (tương ứng với tiêu chuẩn Kiểm sát viên cấp huyện hiện nay); Kiểm sát viên chính (tương ứng như tiêu chuẩn Kiểm sát viên cấp tỉnh hiện nay) và Kiểm sát viên cao cấp (tương ứng như tiêu chuẩn Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao hiện nay). Trong đó, ở Viện kiểm sát cấp huyện có một số Kiểm sát viên chính và Kiểm sát viên; ở cấp tỉnh có một số Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên chính và một số Kiểm sát viên; ở Trung ương có Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên chính và có Kiểm sát viên. Tỷ lệ các ngạch Kiểm sát viên của Viện kiểm sát mỗi cấp cần được ấn định một cơ cấu phù hợp. Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên nói chung theo quy định của pháp luật liên quan (như Bộ luật Tố tụng Hình sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự...), nhưng nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của các ngạch Kiểm sát viên ở mỗi cấp đến mức độ nào sẽ do Viện trưởng cấp đó phân công trên cơ sở quy định chung của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
- Về công chức và công chức lãnh đạo của Viện kiểm sát nhân dân, tại khoản 2 Điều 31; khoản 2 Điều 34; khoản 2 Điều 36 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định Viện kiểm sát nhân dân các cấp gồm có Viện trưởng, các Phó Viện trưởng và các Kiểm sát viên (riêng ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thêm Điều tra viên). Theo chúng tôi, quy định như vậy là chưa đầy đủ, vì thực tế ở Viện kiểm sát nhân dân các cấp ngoài các chức danh pháp lý nói trên còn có các loại công chức khác làm nhiệm vụ phục vụ, hậu cần hoặc những người tuy làm nghiệp vụ nhưng chưa được bổ nhiệm chức danh pháp lý. Vì vậy, khi sửa đổi Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân cần nghiên cứu quy định rõ thêm, bao quát được hết tất cả các ngạch công chức có trong bộ máy của Viện kiểm sát các cấp, vừa đảm bảo quyền lợi của công chức, vừa thuận tiện trong công tác tổ chức cán bộ./.
___________________
 
(1) Cơ quan Công tố/kiểm sát của một số nước trên thế giới, Thông tin khoa học kiểm sát, số 1+2/2008, Nxb Văn hoá dân tộc, tr.71 - tr.112.
(2) TS. Vũ Đức Khiển - Sự hình thành và phát triển Viện kiểm sát nhân dân qua các bản Hiến pháp Việt nam, trong cuốn Hiến pháp năm 1946 và sự kế thừa, phát triển trong các Hiến pháp Việt Nam. NXB Chính trị Quốc gia - HN - 1998, tr.381.
 
      Ngày 03/09/2008











Liên kết

Số lần truy nhập 25496867

Trang chủ Liên hệ Góp ý Về đầu trang

Trang thông tin điện tử của Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trụ sở : số 44 - Lý Thường Kiệt - Hà Nội; Điện thoại : 04.8255058-332; Fax : 04.8255400

Giấy phép số 294/GP-BC ngày 09/07/2007 của Cục Báo chí Bộ Văn hoá thông tin

Người chịu trách nhiệm : Nguyễn Hải Trâm, Chánh Văn phòng VKSNDTC

© Viện kiểm sát nhân dân tối cao thiết kế và giữ bản quyền.

Mong bạn đọc góp ý kiến, phê bình. Thư điện tử liên hệ: