thong bao
Trang chủ Tiếng Việt English

 

CÔNG TÁC CỦA NGÀNH KIỂM SÁT QUÂN SỰ TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

Trần Phước Tới

Phó Viện trưởng VKSND tối cao

Viện trưởng VKS Quân sự Trung ương

 

I. KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH KIỂM SÁT QUÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH.

Thực hiện Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 và Quyết nghị của Thường trực Quân uỷ Trung ương, ngày 12 tháng 5 năm 1961 hệ thống Viện kiểm sát quân sự được thành lập theo Thông tri số 06-TT-H của Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, với 18 Viện kiểm sát quân sự, được tổ chức theo hai cấp: Viện kiểm sát quân sự Trung ương và 17 Viện kiểm sát quân sự cơ sở; đội ngũ cán bộ phần lớn được chuyển từ cán bộ chính trị, quân sự, chưa qua đào tạo chuyên môn nghiệp vụ kiểm sát; trụ sở của Viện kiểm sát quân sự được bố trí trong doanh trại cùng các cơ quan đơn vị khác, hoạt động nghiệp vụ dựa vào nguồn ngân sách Quốc phòng.

Sau khi có Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát quân sự 1985, hệ thống Viện kiểm sát quân sự được tổ chức theo 3 cấp, đồng bộ với hệ thống Viện kiểm sát nhân dân, gồm Viện kiểm sát quân sự Trung ương, các Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương, các Viện kiểm sát quân sự khu vực. Về chuyên môn, Viện kiểm sát quân sự được tổ chức, hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất, lãnh đạo theo ngành: Viện kiểm sát quân sự do Viện trưởng lãnh đạo; Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp trên; Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Về hành chính quân sự, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự chỉ huy của người chỉ huy đơn vị nơi Viện kiểm sát quân sự đặt trụ sở. Về công tác Đảng, ngành Kiểm sát quân sự chịu sự lãnh đạo trực tiếp về mọi mặt của Quân uỷ Trung ương; Đảng bộ Viện kiểm sát quân sự Trung ương thuộc Đảng bộ Tổng cục Chính trị; Đảng bộ Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương gồm có chi bộ Viện kiểm sát quân sự quân khu (và tương đương), các chi bộ Viện kiểm sát quân sự Khu vực thuộc đảng bộ Cục chính trị quân khu và tương đương.

Đến nay, toàn ngành Kiểm sát quân sự có 51 Viện kiểm sát, gồm Viện kiểm sát quân sự Trung ương, 16 Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương, 34 Viện kiểm sát quân sự khu vực. Đội ngũ cán bộ Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự theo biên chế là 528 quân nhân, hiện có 471, thiếu 57; có 99,17 % trình độ Cử nhân luật trở lên, trong đó 8,35% trình độ Thạc sỹ luật (Viện kiểm sát quân sự Trung ương có 30% trình độ Thạc sỹ luật). Cơ sở vật chất, kinh phí bảo đảm cho hoạt động kiểm sát ngày càng được nâng lên. Về cơ bản các Viện kiểm sát quân sự đều có trụ sở độc lậ

(riêng các Viện kiểm sát quân sự khu vực của quân đoàn do quân số ít, đóng quân cùng địa điểm với Viện Kiểm cấp thứ hai nên không xây trụ sở riêng).

Thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW, Nghị quyết 49-NQ/TW Bộ chính trị và các Nghị quyết của Đảng uỷ quân sự Trung ương; Chỉ thị, Kế hoạch của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng về cải cách tư pháp, hàng năm ngành Kiểm sát quân sự đều xây dựng Chương trình hành động với các nội dung, biện pháp cụ thể để nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu khoa học, chất lượng đội ngũ cán bộ, kiểm sát viên. Nhờ áp dụng tổng hợp các biện pháp nên chất lượng các mặt công tác của các Viện kiểm sát quân sự ngày càng được nâng cao, không để xảy ra oan sai phải bồi thường theo Nghị quyết 388 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về tăng thẩm quyền cho cấp khu vực, từ 01/7/2004, ngành Kiểm sát quân sự đã thực hiện thẩm quyền mới cho 100% các Viện kiểm sát quân sự khu vực. Đến nay các Viện kiểm sát quân sự khu vực đều thực hiện tốt thẩm quyền mới, hằng năm giải quyết gần 90% án sơ thẩm, từ đó các Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương, các Phòng nghiệp vụ của Viện kiểm sát quân sự Trung ương có nhiều thời gian, điều kiện nghiên cứu, hướng dẫn, chỉ đạo nâng cao nghiệp vụ cho các Viện cấp dưới. Công tác nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ nhiệm vụ chuyên môn, đáp ứng yêu cầu về cải cách tư pháp được ngành Kiểm sát quân sự hết sức quan tâm. Trong những năm qua, nhiều đề tài, đề án đã được nghiên cứu, triển khai thực hiện như: Đề tài “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát quân sự các cấp đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”; “Nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của các Viện kiểm sát quân sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”, “Đề án Mô hình tổ chức, biên chế các Viện kiểm sát quân sự”, “Đề án bồi dưỡng, huấn luyện kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ kiểm sát quân sự giai đoạn 2011 - 2020” và đặc biệt, Viện kiểm sát quân sự Trung ương đã triển khai xây dựng Trung tâm huấn luyện nghiệp vụ ngành kiểm sát quân sự, dự kiến, sau năm 2012 sẽ đưa vào hoạt động để triển khai thực hiện các nội dung của Đề án bồi dưỡng, huấn luyện kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ kiểm sát quân sự giai đoạn 2011 - 2020.

II. TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT QUÂN SỰ TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

Tiếp tục quán triệt, thực hiện nội dung các Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp, về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác điều tra, xử lý các vụ án; công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và các Quyết định, Kế hoạch, Chương trình của Chính phủ, của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng mà gần đây nhất là các Kế hoạch số 04-KH/BCS ngày 30/8/2010 của Ban cán sự đảng Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện Kết luận 79-KL/TW; Kế hoạch công tác kiểm sát thực hiện Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm số 11/KH-VKSTC-VP ngày 10/3/2011 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Kế hoạch số 332/KH-CCTP ngày 14/02/2011 của Bộ Quốc phòng thực hiện Nghị quyết 67/NQ-ĐUQSTƯ về thực hiện chiến lược cải cách tư pháp trong quân đội đến năm 2020 (giai đoạn 2011-2015); ý kiến của Quân uỷ Trung ương về triển khai các Đề án đổi mới về tổ chức và hoạt động của các Cơ quan tư pháp trong quân đội cũng như căn cứ vào tổ chức quân đội, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, tổ chức, hoạt động và công tác của Viện Kiểm sát quân sự giai đoạn mới như sau:

1. Dự kiến mô hình tổ chức, biên chế, hoạt động của Viện kiểm sát quân sự các cấp trong giai đoạn mới:

1.1. Dự kiến mô hình tổ chức, biên chế của Viện kiểm sát quân sự các cấp:

Trên cơ sở các quy định về cải cách tư pháp và đặc điểm tổ chức quân đội trong giai đoạn mới, hệ thống Viện kiểm sát quân sự giai đoạn 2011-2015 dự kiến được tổ chức 3 cấp, theo định hướng: Các Viện kiểm sát quân sự chủ yếu được tổ chức tại các Quân khu (phù hợp với tổ chức của Toà án quân sự và nguyên tắc xét xử theo địa bàn quản hạt) và một số đơn vị có tính chất đặc biệt như các Quân chủng và Bội đội biên phòng.

Sau 2015 dự kiến chỉ tổ chức các Viện kiểm sát theo địa bàn các Quân khu, khu vực.

1.2. Về hoạt động của Viện kiểm sát quân sự trong giai đoạn mới:

Trên cơ sở Kết luận 79-KL/TW của Bộ Chính trị, các cơ quan có thẩm quyền sẽ xây dựng các dự án Luật, Pháp lệnh điều chỉnh hoạt động của các Viện kiểm sát quân sự. Tuy nhiên, theo tinh thần đổi mới về tổ chức và hoạt động các cơ quan tư pháp của Kết luận 79-KL/TW Bộ Chính trị thì hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát quân sự như sau:

- Các Viện kiểm sát quân sự khu vực sẽ thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp hầu hết các vụ án hình sự.

- Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu và tương đương thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự cấp quân khu; thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án quân sự Khu vực; không thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm.

- Viện kiểm sát quân sự Trung ương thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án quân sự cấp quân khu; thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Toà án quân sự cấp quân khu và khu vực đã có hiệu lực pháp luật nhưng lại có kháng nghị.

2. Những yêu cầu đặt ra đối với các mặt công tác của Viện kiểm sát quân sự trong giai đoạn mới:

2.1. Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp:

- Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử:

Phối hợp với các cơ quan tư pháp và cấp uỷ, chỉ huy các đơn vị đấu tranh ngăn chặn, làm giảm tình hình tội phạm trong quân đội, nhất là các loại tội nghiêm trọng, tội phạm mới như tội phạm xâm phạm an ninh Quốc gia, tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm con người, tội phạm về ma tuý, tham nhũng, tội phạm có tổ chức, có sử dụng công nghệ cao.

Tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra. Kiểm sát chặt chẽ công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm. Tăng cường trách nhiệm trong việc xem xét, phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra, trong việc áp dụng, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn, trong việc quyết định truy tố. Hạn chế đến mức thấp nhất tỷ lệ bắt, tạm giữ sau phải chuyển xử lý hành chính, tỷ lệ đình chỉ vụ án do miễn trách nhiệm hình sự, tỷ lệ án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Không để xảy ra việc đình chỉ do bị can không phạm tội; không để xảy ra việc Viện kiểm sát truy tố, Toà án xét xử tuyên bị cáo không phạm tội. Tăng cường hoạt động kiểm sát điều tra, đảm bảo hoạt động của Cơ quan điều tra và của những người tham gia tố tụng đúng quy định của pháp luật.

Nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà của Kiểm sát viên. Làm tốt công tác chuẩn bị xét xử, dự kiến các tình huống có thể phát sinh tại phiên toà. Chủ động tham gia xét hỏi, tranh luận tại phiên toà; kiểm sát chặt chẽ hoạt động xét xử của Toà án và những người tham gia tố tụng, đảm bảo việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; tăng cường kiểm sát bản án, quyết định của Toà án Quân sự. Nâng cao chất lượng kháng nghị. Chú trọng công tác tổ chức rút kinh nghiệm xét xử nhằm nâng cao các kỹ năng xét hỏi, luận tội, tranh luận của Kiểm sát viên.
Quá trình tiến hành tố tụng đối với các vụ án có người phạm tội, bị can, bị cáo là cán bộ đảng viên cần thực hiện nghiêm túc các quy định của Chỉ thị 15-CT/TW của Bộ Chính trị, nhất là các quy định về bắt, khám xét, khởi tố, truy tố. Phối hợp chặt chẽ với Cơ quan điều tra, Toà án quân sự giải quyết đúng đắn kịp thời các vụ án phức tạp, nghiêm trọng gây nhiều bức xúc cho xã hội.

- Kiểm sát thi hành án; kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù.

Làm tốt công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong công tác tổ chức quản lý việc tạm giữ, tạm giam và chấp hành án phạt tù tại các nhà tạm giữ, trại tạm giam và trại giam quân sự, đảm bảo việc giam giữ đúng thủ tục chế độ, chính sách, không để xảy ra việc quá hạn tạm giữ, tạm giam; giam chung các đối tượng không đúng quy định.

Công tác kiểm sát thi hành án hình sự: Kiểm sát chặt chẽ việc ra quyết định thi hành các quyết định, bản án của Toà án. Chú trọng kiểm sát các quyết định hoãn, tạm đình chỉ, miễn, giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù; việc lập hồ sơ xét đề nghị đặc xá. Tăng cường kiểm sát trực tiếp việc thi hành án treo tại các Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn và các đơn vị trong, ngoài quân đội.

Công tác kiểm sát thi hành án dân sự: Kiểm sát chặt chẽ việc phân loại, xác minh điều kiện thi hành án, yêu cầu Cơ quan thi hành án áp dụng kịp thời các biện pháp thi hánh án giải quyết dứt điểm những việc có điều kiện thi hành; kiểm sát chặt chẽ việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế, miễn, giảm thi hành án; chú trọng kiểm sát việc trả lại đơn yêu cầu thi hành án.

- Tổ chức tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp.

Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền, đảm bảo việc tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo đúng quy định của pháp luật; thực hiện nghiêm các quy định về tiếp công dân đến Viện KSQS khiếu nại, tố cáo; tăng cường kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư¬¬¬ pháp của các cơ quan tư pháp quân đội.

2.2. Công tác điều tra của Cơ quan điều tra VKSQS Trung ương:

Hoàn thiện Quy chế hoạt động của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự Trung ương; chủ động phối hợp chặt chẽ với các Viện kiểm sát quân sự, các Phòng nghiệp vụ nắm và quản lý đầy đủ tin báo, tố giác tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền. Nâng cao chất lượng hoạt động xác minh, điều tra các vụ án xâm phạm hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền.

2.3. Công tác nghiên cứu và thống kê tội phạm:

- Viện kiểm sát quân sự các cấp nêu cao trách nhiệm trong việc tham gia vào dự thảo xây dựng các dự án Luật, các văn bản quy phạm pháp luật khác theo yêu cầu của cấp trên. Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất sửa đổi Quy chế về sự lãnh đạo của Đảng uỷ các cấp đối với ngành Kiểm sát quân sự; tiếp tục triển khai nghiên cứu các đề tài khoa học làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát quân sự các cấp đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế như: Những đặc điểm về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát quân sự các cấp; mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong quân đội; cơ chế quản lý hành chính và cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với các Viện kiểm sát quân sự; những nội dung, yêu cầu đặt ra đối với sự phát triển của ngành kiểm sát quân sự trong giai đoạn mới. Trước mắt cần có một số đề tài nghiên cứu phục vụ cho việc sửa đổi Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát quân sự. Triển khai nghiên cứu xây dựng các Chương trình, giáo án để thực hiện đề án bồi dưỡng, huấn luyện kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ, kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự các cấp.

- Nâng cao hơn nữa chất lượng thống kê nghiệp vụ; thống kê hình sự, thống kê tội phạm liên ngành trong quân đội theo quy định. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tư pháp trong quân đội thực hiện nghiêm túc công tác tiếp ký thống kê hình sự, thống kê tội phạm liên ngành, phục vụ có hiệu quả công tác quản lý, chỉ đạo và điều hành của Lãnh đạo Viện kiểm sát quân sự các cấp. Tổng hợp những vướng mắc, khó khăn trong việc áp dụng các sổ, mẫu biểu thống kê kiến nghị cấp có thẩm quyền nghiên cứu sửa đổi cho phù hợp.

- Chú trọng nâng cao chất lượng việc ứng dụng công nghệ thông tin. Phối hợp với các cơ quan của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ quốc phòng nghiên cứu tạo bước đột phá về ứng dụng công nghệ thông tin trong toàn ngành Kiểm sát quân sự phục vụ việc lưu trữ, tra cứu thông tin, nghiệp vụ, và công tác quản lý, chỉ đạo điều hành trong toàn ngành Kiểm sát quân sự.

2.4. Công tác xây dựng Ngành:

- Công tác tổ chức cán bộ:

Tiếp tục giáo dục, quản lý chặt chẽ đội ngũ cán bộ kiểm sát quân sự theo lời Bác: Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn. Hoàn chỉnh để báo cáo Ban chỉ đạo cải cách tư pháp TW và Viện trưởng VKSND tối cao, báo cáo Quân uỷ Trung ương, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng các Đề án tổ chức, biên chế hệ thống Viện kiểm sát quân sự, các Quyết định, Quy chế về đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng và sử dụng cán bộ VKSQS, tiêu chuẩn, chức danh cán bộ ngành Kiểm sát quân sự. Phối hợp làm tốt công tác quy hoạch, phát hiện, xây dựng nguồn, xây dựng đội ngũ cán bộ 5 năm (2011 - 2015). Triển khai thực hiện Pháp lệnh Kiểm sát viên (sửa đổi) trong toàn Ngành.

Phối hợp với các cơ quan của Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Toà án nhân dân, Toà án quân sự, Cục điều tra hình sự, các trường, trung tâm đào tạo, chuẩn bị các bước để thực hiện “Đề án bồi dưỡng, huấn luyện kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ kiểm sát quân sự giai đoạn 2011 - 2020” như: Xây dựng chương trình và tuyển chọn đội ngũ cán bộ, giảng viên có chất lựơng cao chuẩn bị thực hiện một số nội dung: bồi dưỡng kiến thức chuyên sâu về quản lý, chỉ đạo, điều hành đối với Viện kiểm sát quân sự; bồi dưỡng kỹ năng chuyên sâu phục vụ các mặt công tác kiểm sát như tổ chức khám nghiệm hiện trường, pháp y, xét hỏi, luận tội, tranh luận tại phiên toà..; bồi dưỡng các kiến thức bổ trợ về quân sự, quốc phòng, an ninh; bồi dưỡng cán bộ kiểm sát quân sự Lào và Căm phu chia.

- Công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành:

Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành. Thực hiện nghiêm nguyên tắc lãnh đạo tập trung, thống nhất trong ngành đồng thời thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Các Viện kiểm sát quân sự xây dựng kế hoạch công tác kiểm sát quân sự khoa học, cụ thể, sát thực tế hoạt động của từng đơn vị. Viện kiểm sát quân sự cấp trên quản lý và nắm chắc tình hình các mặt hoạt động của Viện cấp dưới, tăng cường công tác kiểm tra chuyên khâu, kiểm tra toàn diện đối với Viện cấp dư¬¬¬ới; làm tốt công tác tổng kết rút kinh nghiệm về nghiệp vụ và công tác xây dựng ngành. Thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các Quy chế về thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; Quy chế về thông tin, báo cáo, quản lý công tác trong Ngành kiểm sát. Thực hiện đúng các quy định về công tác văn thư, lưu trữ.

- Công tác bảo đảm:

Viện kiểm sát quân sự các cấp nêu cao trách nhiệm trong việc quản lý, sử dụng tài sản, phương tiện kỹ thuật quân sự; thực hiện công khai, dân chủ, minh bạch và hiệu quả trong phân bổ, sử dụng kinh phí phục vụ tốt cho thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Tiếp tục thực hiện nghiêm Luật thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí và các quy định của cấp trên về áp dụng các giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định đời sống, bảo đảm an sinh xã hội theo Nghị quyết 11 của Chính phủ. Tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng để triển khai xây dựng các dự án, đề án công tác bảo đảm của Ngành kiểm sát quân sự theo yêu cầu cải cách tư pháp. Trước mắt, tập trung vào việc đề nghị mở mới dự án xây dựng trụ sở Viện kiểm sát quân sự Trung ương, một số Viện khu vực đã được cấp đất; sửa chữa những trụ sở xuống cấp nghiêm trọng; từng bước thay thế những ô tô quá cũ./.

      Ngày 11/08/2011











Liên kết

Số lần truy nhập 25854860

Trang chủ Liên hệ Góp ý Về đầu trang

Trang thông tin điện tử của Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trụ sở : số 44 - Lý Thường Kiệt - Hà Nội; Điện thoại : 04.8255058-332; Fax : 04.8255400

Giấy phép số 294/GP-BC ngày 09/07/2007 của Cục Báo chí Bộ Văn hoá thông tin

Người chịu trách nhiệm : Nguyễn Hải Trâm, Chánh Văn phòng VKSNDTC

© Viện kiểm sát nhân dân tối cao thiết kế và giữ bản quyền.

Mong bạn đọc góp ý kiến, phê bình. Thư điện tử liên hệ: