Khái quát quá trình hình thành và phát triển

 

1. Quá trình hình thành Viện kiểm sát nhân dân

1.1. Sự hình thành cơ quan Công tố ở nước ta

Từ năm 1945 đến năm 1958, cơ quan Công tố ở nước ta chưa được tổ chức thành hệ thống cơ quan độc lập mà đặt trong hệ thống Tòa án, được giao thực hiện đồng thời hai chức năng là: thực hành quyền công tố và giám sát các hoạt động tư pháp (chỉ đạo điều tra, trực tiếp điều tra một số loại tội phạm; quyết định việc truy tố; buộc tội trước tòa; kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án và giám sát việc chấp hành pháp luật trong hoạt động điều tra, xét xử, giam giữ, cải tạo và thi hành án; tham gia trong một số loại việc dân sự quan trọng để bảo vệ lợi ích của Nhà nước và lợi ích của xã hội). Chức năng, nhiệm vụ đó của cơ quan công tố nước ta có nhiều điểm tương đồng với Viện Công tố ở các nước theo truyền thống pháp luật châu Âu lục địa, điển hình là Cộng hòa Pháp.

Đến năm 1959, cơ quan Công tố được tách khỏi hệ thống Tòa án, trở thành hệ thống cơ quan độc lập và trực thuộc Chính phủ, chịu sự lãnh đạo của Chính phủ. Hệ thống Viện Công tố ở các địa phương được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc “song trùng” trực thuộc, vừa chịu sự lãnh đạo của Viện Công tố cấp trên về chuyên môn, nghiệp vụ; đồng thời chịu sự lãnh đạo của Ủy ban hành chính cùng cấp. Viện Công tố được tổ chức thành 4 cấp phù hợp với hệ thống Tòa án (Viện Công tố Trung ương, Viện Công tố phúc thẩm được tổ chức theo vùng, Viện Công tố cấp tỉnh và Viện Công tố cấp huyện). Viện Công tố có chức năng, nhiệm vụ: điều tra và truy tố trước Tòa án những kẻ phạm tội; giám sát việc chấp hành luật pháp trong công tác điều tra, xét xử, thi hành các bản án về hình sự, dân sự; giam giữ và cải tạo; khởi tố và tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích của Nhà nước và nhân dân[1].

1.2. Sự ra đời của Viện kiểm sát nhân dân

Ngày 15 tháng 7 năm 1960, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (khoá II) đã thông qua Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân gồm 6 chương, 25 điều, quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân; Luật này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh công bố ngày 26/7/1960. Đây là đạo luật quan trọng, đánh dấu sự ra đời của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước ta. Có thể nói, việc xác định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, bộ máy và nguyên tắc tổ chức theo hệ thống dọc của Viện kiểm sát nhân dân là một bước tiến mới bảo đảm cho việc thực hiện pháp chế thống nhất trong lịch sử nước ta.

Tại Hội nghị kiểm điểm công tác 6 tháng đầu năm và học tập Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 của ngành Kiểm sát nhân dân diễn ra vào ngày 02/8/1960, đồng chí Trường Chinh, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã nhấn mạnh đến sự cần thiết và trách nhiệm to lớn của Viện kiểm sát nhân dân: “Việc thành lập Viện kiểm sát nhân dân chính là để đảm bảo nhiệm vụ chuyên chính dân chủ nhân dân, thực hiện dân chủ rộng rãi và phát triển nền dân chủ ấy... Việc thành lập Viện kiểm sát nhân dân có mục đích bảo đảm pháp chế dân chủ nhân dân được tôn trọng, luật pháp được tôn trọng, quyền lợi chính đáng của nhân dân được tôn trọng. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước, nhân viên cơ quan nhà nước và mọi người công dân là rất quan trọng. Làm việc này so với công tố trước kia thì nhiệm vụ đã mở rộng, quyền hạn lớn lên... Kiểm sát là làm thế nào bảo đảm trấn áp phản cách mạng, không để chúng lọt lưới hoành hành, bảo đảm giữ gìn trật an ninh, tài sản và quyền lợi chính đáng của nhân dân[2].

Thực hiện các quy định của Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, tại phiên họp từ ngày 24 đến ngày 29/4/1961, Ban Thường trực Quân ủy Trung ương đã ra quyết nghị tổ chức Viện kiểm sát quân sự trong Quân đội. Thi hành quyết nghị trên của Ban Thường trực Quân ủy Trung ương, ngày 12/5/1961, Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng đã ra Thông tri số 06/TT-H hướng dẫn tổ chức các Viện kiểm sát quân sự. Ngày 12/5/1961 chính thức trở thành ngày thành lập ngành Kiểm sát quân sự[3].

Viện kiểm sát quân sự thuộc hệ thống Viện kiểm sát nhân dân, đặt trong Quân đội dưới sự chỉ đạo tập trung thống nhất của Đảng uỷ Quân sự Trung ương và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, sự chỉ đạo về mặt nghiệp vụ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

2. Quá trình phát triển của Viện kiểm sát nhân dân qua các thời kỳ

2.1. Viện kiểm sát phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1960 – 1975)

a. Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với ngành Kiểm sát nhân dân trong giai đoạn 1960 - 1975

Đây là thời kỳ đầu của quá trình hình thành hệ thống tổ chức Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở miền Bắc. Thực hiện Hiến pháp năm 1959, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 và các luật lệ hiện hành, kế thừa kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của Viện Công tố, toàn ngành Kiểm sát nhân dân vừa tiến hành củng cố, xây dựng lực lượng, tổ chức bộ máy, vừa thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật. Khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ, Viện kiểm sát các cấp định hướng công tác kiểm sát gắn với việc phục vụ các nhiệm vụ chính trị, xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng năm 1960 đã chỉ rõ: Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện tại có hai nhiệm vụ chiến lược: một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc; hai là, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước; hai nhiệm vụ chiến lược ấy có quan hệ mật thiết với nhau và có tác dụng thúc đẩy lẫn nhau. Trong đó, tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà...

Những quan điểm định hướng của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III là kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam nói chung và cho ngành Kiểm sát nhân dân nói riêng. Cùng với Hiến pháp năm 1959, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 là cơ sở pháp lý quan trọng đầu tiên cho tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân.

Theo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, Viện kiểm sát có nhiệm vụ: “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật, làm cho pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, pháp chế dân chủ nhân dân được giữ vững. Mục đích của việc kiểm sát là bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, trật tự xã hội, tài sản công cộng và những quyền lợi hợp pháp của công dân, góp phần đảm bảo cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự nghiệp đấu tranh nhằm thực hiện thống nhất nước nhà được tiến hành thắng lợi” (Điều 2).

Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, Điều 3 của Luật quy định Viện kiểm sát có 6 công tác sau:

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các nghị quyết, quyết định, thông tư, chỉ thị của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ và cơ quan nhà nước địa phương; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của nhân viên cơ quan nhà nước và công dân;

- Điều tra những việc phạm pháp về hình sự và truy tố trước Tòa án nhân dân những người phạm pháp về hình sự;

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của cơ quan Công an và của các Cơ quan điều tra khác;

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của các Tòa án nhân dân và trong việc chấp hành các bản án;

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam giữ của các trại giam;

- Khởi tố hoặc tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích của Nhà nước và của Nhân dân”.

Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức gồm có: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương; Viện kiểm sát nhân dân các huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã hoặc đơn vị hành chính tương đương; Viện kiểm sát nhân dân ở các Khu vực tự trị (Điều 4). Về cơ bản là tổ chức ba cấp kiểm sát gắn với cấp hành chính. Riêng Khu tự trị thì tổ chức Viện kiểm sát cấp khu.

Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo theo ngành dọc. Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo. Khi thực hiện nhiệm vụ của mình, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương có quyền độc lập, các cơ quan nhà nước khác không được can thiệp. Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên và sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Điều 6); Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội (Điều 8).

Về cơ cấu tổ chức, Viện kiểm sát nhân dân có Viện trưởng, một hoặc nhiều Phó Viện trưởng và các Kiểm sát viên. Ngoài thành phần trên đây, Viện kiểm sát nhân dân tối cao còn có một số Kiểm sát viên dự khuyết. Ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc các đơn vị hành chính tương đương, Viện kiểm sát nhân dân khu tự trị, đều lập ra Ủy ban kiểm sát gồm, Viện trưởng, Phó Viện trưởng và một số Kiểm sát viên để giải quyết những vấn đề quan trọng trong công tác kiểm sát, dưới sự lãnh đạo của Viện trưởng (Điều 7).

Ngày 01/02/1963, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về công tác kiểm sát. Đây là một sự kiện chính trị quan trọng đối với ngành Kiểm sát nhân dân. Nghị quyết đã xác định những định hướng quan trọng về tổ chức và hoạt động của ngành Kiểm sát nhân dân. Nghị quyết số 68-NQ/TW nhấn mạnh: “Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân của ta là một trong những công cụ chuyên chính của Nhà nước dân chủ nhân dân đang làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản, được tổ chức ra giữa lúc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc bắt đầu lấy việc xây dựng chủ nghĩa xã hội làm trọng tâm, đồng thời hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa. Ngành Kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật, làm cho pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, pháp chế xã hội chủ nghĩa được tôn trọng, do đó mà góp phần vào việc tăng cường chuyên chính đối với bọn phản cách mạng, bảo đảm các quyền dân chủ của nhân dân được tôn trọng; đồng thời cũng góp phần vào việc tăng cường kỷ luật xã hội trong quần chúng nhân dân”.

 

b. Ngành Kiểm sát triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong giai đoạn 1960 - 1975

Trên cơ sở chỉ đạo của Bộ Chính trị, của các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước, hằng năm, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đều có chỉ thị về phương hướng và nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nhằm chấp hành các chị thị, nghị quyết của Đảng. Ngày 31/01/1964, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Chỉ thị số 01/V8 về phương hướng và nhiệm vụ của ngành Kiểm sát năm 1964. Chỉ thị nêu rõ: Đẩy mạnh hơn nữa chức năng kiểm sát toàn diện, tham gia đấu tranh chống bọn phản cách mạng và bọn tội phạm xâm phạm đến tài sản của Nhà nước, của tập thể; đồng thời tiếp tục phòng và chống tội phạm xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự trị an, phát hiện và ngăn ngừa những vi phạm pháp luật, chế độ, thể lệ quản lý kinh tế, tài chính và những vi phạm đến quyền dân chủ của nhân dân. Chú trọng việc vận dụng đường lối, chính sách và pháp luật về nội dung, đồng thời tiếp tục tăng cường mối quan hệ công tác với các ngành. Tiếp tục cải tiến và kiện toàn tổ chức, kiện toàn sự chỉ đạo thực hiện cho tập trung, sát và phù hợp với yêu cầu, đi sâu vào nghiệp vụ của ngành nhằm góp phần có hiệu quả vào việc thực hiện kế hoạch nhà nước... và những cuộc vận động lớn mà Đảng và Nhà nước đang phát động.

Xác định công tác kiểm sát thực chất là công tác chính trị, quán triệt các nghị quyết của Đảng, hoạt động của ngành Kiểm sát trong giai đoạn này là tập trung phục vụ công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng quan hệ sản xuất mới ở miền Bắc, bảo vệ quyền dân chủ của nhân dân, trấn áp bọn phản cách mạng và bọn tội phạm. Khi chiến tranh phá hoại mở rộng ra miền Bắc, công tác kiểm sát đã kịp thời chuyển hướng hoạt động, phục vụ các yêu cầu của thời chiến trên cả hai mặt trận sản xuất và chiến đấu.

Với mục tiêu hàng đầu là giữ vững an ninh chính trị, xây dựng hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa vững mạnh, kịp thời chi viện cho tiền tuyến, Viện kiểm sát các cấp đã phối hợp chặt chẽ với các ngành Công an, Tòa án tập trung chống địch phá hoại, nghiêm trị bọn gián điệp, biệt kích và phản động, các loại tội phạm và vi phạm pháp luật gây cản trở việc thực hiện chính sách hậu phương quân đội và chi viện cho tiền tuyến; đấu tranh khắc phục các biểu hiện buông lỏng kỷ luật thời chiến, vi phạm các quyền dân chủ của nhân dân. Chống phá hoại kinh tế, làm tốt công tác kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử để xử lý nghiêm khắc và kịp thời các phần tử phá hoại sản xuất, máy móc, thiết bị, kho tàng, tài sản của Nhà nước và tập thể, tích cực phục vụ cuộc vận động nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế, tài chính, chống tham ô, lãng phí, quan liêu và cuộc vận động cải tiến quản lý hợp tác xã nông nghiệp; bảo đảm chính sách hậu phương quân đội. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân. Phương châm tiến hành công tác kiểm sát là vừa chống, vừa xây, lấy xây làm mục đích; vừa chống, vừa phòng ngừa vi phạm và tội phạm; vừa xây dựng, vừa chiến đấu; tranh thủ sự lãnh đạo chặt chẽ của các cấp ủy đảng, dựa vào quần chúng, đoàn kết phối hợp tốt với các ngành. Nắm vững tình hình, gắn công tác kiểm sát với các cuộc vận động chính trị và sản xuất, khẩn trương, chủ động, linh hoạt, lấy ngăn ngừa phạm pháp là chính, kịp thời xử lý mọi việc phạm pháp.

Từ năm 1961 đến năm 1975 là giai đoạn hình thành hệ thống tổ chức Viện kiểm sát quân sự các cấp. Trên cơ sở nhiệm vụ chính trị của cách mạng lúc bấy giờ, Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị khẳng định “Công tác kiểm sát trong Quân đội do cơ quan Kiểm sát quân sự các cấp đảm nhiệm dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Quân uỷ Trung ương. Về mặt chuyên môn, hệ thống Viện kiểm sát quân sự chịu sự lãnh đạo về nghiệp vụ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Để tăng cường sự lãnh đạo công tác kiểm sát và thống nhất kiểm sát việc chấp hành pháp luật trong và ngoài Quân đội, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương đồng thời giữ chức Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao”. Khi mới thành lập, các Viện kiểm sát quân sự đã căn cứ vào Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 và Nghị quyết số 47/NQ ngày 22/5/1962 của Ban Thường vụ Quân uỷ Trung ương để thực thi chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát quân sự trong Quân đội. Tổ chức Viện kiểm sát quân sự các cấp do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định riêng căn cứ vào những nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân. Trong khi chưa xây dựng được Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát quân sự, Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng ban hành Thông tri 06/TT-H ngày 12/5/1961 về việc thành lập Viện kiểm sát quân sự và Thông tri số 304/TM6 ngày 23/5/1961 của Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam quy định tạm thời về tổ chức, biên chế của các Viện kiểm sát quân sự. Hệ thống Viện kiểm sát quân sự có Viện kiểm sát quân sự trung ương, các Viện kiểm sát quân sự ở cấp Quân khu, các Sư đoàn, Lữ đoàn. Đối với Ban Chỉ huy Trung ương Công an nhân dân vũ trang (lúc này còn trực thuộc Quân đội), Tổng cục Hậu cần, Bộ Tư lệnh Pháo binh, Bộ Tư lệnh Phòng không, Lữ đoàn 350 thì được tổ chức Viện kiểm sát quân sự. Trong những năm đầu mới được thành lập, Viện kiểm sát quân sự vừa xây dựng, củng cố tổ chức, vừa thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố tại các phiên toà hình sự.  

Đến cuối năm 1971, hệ thống Viện kiểm sát quân sự đã có Viện kiểm sát quân sự Trung ương và 25 Viện kiểm sát quân sự cấp thứ 2. Trong thời gian này, ở tất cả các quân chủng, binh chủng, mặt trận, binh đoàn và sư đoàn cơ động trực thuộc Bộ Quốc phòng đều có Viện kiểm sát quân sự. Sau chiến dịch giải phóng Quảng Trị (năm 1972), các lực lượng cơ động được tổ chức thành các Quân đoàn. Vì vậy, các Viện kiểm sát quân sự ở cấp Sư đoàn đã giải thể và thành lập mới Viện kiểm sát quân sự ở cấp Quân đoàn. Đến đầu năm 1975, hệ thống Viện kiểm sát quân sự có 23 đơn vị, trong đó có 22 Viện kiểm sát quân sự cấp thứ hai. 

Sau ngày 30/4/1975 đất nước thống nhất, Viện kiểm sát quân sự có điều kiện xây dựng tổ chức và hoạt động trong phạm vi toàn quốc. Lúc này, các Viện kiểm sát quân sự không làm nhiệm vụ trực tiếp điều tra các vụ án hình sự. Ngày 17/12/1975, Bộ Tổng Tham mưu ra Quyết định số 162/TM thành lập các Viện kiểm sát quân sự Quân khu 5, Quân khu 7, Quân khu 9 và Quân đoàn 4.

2.2. Mở rộng, kiện toàn tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trên quy mô cả nước vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1976 – 1986)

a. Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với ngành Kiểm sát trong giai đoạn 1976 - 1986

Thực hiện các Nghị quyết của Đảng, của Quốc hội và chức năng, nhiệm vụ theo Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, các Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, năm 1981, các văn bản pháp luật khác liên quan, Viện kiểm sát nhân dân đã phục vụ đắc lực các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội trong những năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Cùng với việc kiện toàn hệ thống các cơ quan chính quyền cách mạng ở các tỉnh phía Nam sau khi thống nhất đất nước, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân cũng được thành lập ở các tỉnh, thành phố phía Nam.

Ngày 15/3/1976 Hội đồng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban hành Sắc lệnh số 01-SL/76 quy định về Tổ chức Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân các cấp. Trên cơ sở đó, ngày 23/4/1976, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã thay mặt Chính phủ ký Nghị định số 09-BTP/NĐ quyết định thành lập Viện kiểm sát nhân dân ở 21 tỉnh, thành phố miền Nam và đi vào hoạt động cùng với Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố trên phạm vi cả nước. 

Ngay từ cuối năm 1975, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã triển khai công tác chuẩn bị cho tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố phía Nam. Khi Viện kiểm sát nhân dân 21 tỉnh, thành phố ở miền Nam được thành lập, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã điều động cán bộ ở một số đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát nhân dân ở các tỉnh, thành phố phía Bắc vào tăng cường cho Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố ở miền Nam. Ngày 02/8/1976, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có Quyết định số 33/QĐ-76 thành lập Viện kiểm sát nhân dân các quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố tại miền Nam.

 Hiến pháp năm 1980 được thông qua, xác định đất nước ta đang trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, chính thức ghi nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội (Điều 4), quy định nguyên tắc: “Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” (Điều 12). Đối với Viện kiểm sát nhân dân, cùng với việc tiếp tục xác định chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, Hiến pháp năm 1980 đã quy định rõ chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân (Điều 138). Đồng thời, tiếp tục khẳng định các nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan chịu trách nhiệm trước Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong Ngành.

Cụ thể hóa Hiến pháp năm 1980, để phù hợp với tình hình mới và yêu cầu của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, kế thừa Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 đã làm rõ hơn chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân như sau: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ và cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên nhà nước và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” (Điều 1). Theo Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng bằng năm công tác cụ thể sau:

1. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các văn bản pháp quy và biện pháp của các Bộ và cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hành vi của các nhân viên Nhà nước và công dân;

2. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của cơ quan Công an và các cơ quan điều tra khác;

3. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của Toà án nhân dân;

4. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc chấp hành các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật;

5. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam, giữ và cải tạo”.

Đối với công tác kiểm sát chung, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 quy định rõ hơn các căn cứ pháp lý để tiến hành kiểm sát là tính phù hợp với Hiến pháp, pháp luật, các nghị quyết của Quốc hội và Hội đồng Nhà nước, các nghị quyết, nghị định, quyết định, chỉ thị, thông tư của Hội đồng Bộ trưởng (Điều 6). Đồng thời, Luật mới đã cụ thể hóa hơn các quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác kiểm sát chung (Điều 7).

So với Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong công tác kiểm sát điều tra và mối quan hệ của Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 cũng được quy định cụ thể hơn. Từ thực tiễn công tác kiểm sát và tham khảo kinh nghiệm hoạt động của Viện kiểm sát ở một số nước xã hội chủ nghĩa, thực hiện chủ trương các Viện kiểm sát tiến hành kiểm sát điều tra, nhằm bảo đảm sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động điều tra và việc truy cứu trách nhiệm hình sự có căn cứ, hợp pháp. Viện kiểm sát chỉ trực tiếp khởi tố, tiến hành điều tra trong trường hợp xét thấy thật cần thiết.

Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 đã bổ sung một số quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác kiểm sát xét xử dân sự như: tham gia các cuộc họp trù bị phiên tòa của Tòa án nhân dân cùng cấp; yêu cầu Tòa án chuyển hồ sơ vụ án để thực hiện công tác kiểm sát xét xử; kiểm sát việc tuân theo pháp luật dân sự trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và yêu cầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị đó khởi tố những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể và quyền lợi chính đáng của công dân (Điều 13).

Để đáp ứng tình hình, nhiệm vụ trong giai đoạn mới, tăng cường chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 đã tách quy định về công tác kiểm sát việc chấp hành án ra khỏi công tác kiểm sát xét xử và bổ sung, cụ thể hóa nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của Viện kiểm sát với các ngành hữu quan trong công tác kiểm sát việc chấp hành án; bổ sung các quy định cụ thể hóa nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của Viện kiểm sát với các ngành hữu quan trong công tác kiểm sát giam giữ, cải tạo.

So với Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 đã quy định rõ thời hạn và trách nhiệm các cơ quan, đơn vị hữu quan trong việc thực hiện các yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân (các Điều 8, 11, 17 và 20); đồng thời, quy định cụ thể, đầy đủ hơn về nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của Viện kiểm sát với các ngành hữu quan. 

b. Ngành Kiểm sát triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong giai đoạn 1976 - 1986

Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, thời kỳ này, ngành Kiểm sát được tổ chức và hoạt động trên phạm vi toàn quốc, có nhiệm vụ chung là bảo vệ pháp chế thống nhất. Nhưng do nhiệm vụ của cách mạng ở hai miền còn khác nhau nên công tác kiểm sát và hoạt động công tố ở mỗi miền cũng có những đặc điểm riêng. Viện kiểm sát các tỉnh phía Bắc tập trung làm tốt ba nhiệm vụ là bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa và chế độ quản lý kinh tế - xã hội chủ nghĩa; bảo vệ các quyền dân chủ của nhân dân; bảo vệ trật tự xã hội và an ninh chính trị. Viện kiểm sát các tỉnh phía Nam đã cùng với các ngành trong khối Nội chính trấn áp kịp thời, mạnh mẽ bọn phản cách mạng, bọn gián điệp, bọn phản động trong các tôn giáo và tư sản mại bản câu kết với đế quốc; trừng trị nghiêm khắc bọn cầm đầu các tổ chức vũ trang gây bạo loạn, bọn xúi giục, lừa đảo người trốn đi nước ngoài. Tập trung vào việc đấu tranh xoá bỏ giai cấp tư sản mại bản phản động đầu cơ, tích trữ, phá rối thị trường, chống các tệ nạn do xã hội cũ để lại. Tích cực phục vụ chủ trương, chính sách thống nhất tiền tệ, cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh và thực hiện cách mạng quan hệ sản xuất ở nông thôn, coi đó là nhiệm vụ hàng đầu để ổn định tình hình vùng mới giải phóng.

Công tác kiểm sát thời kỳ này được tiến hành trong bối cảnh nhiều vấn đề về đường lối, chính sách của Đảng chưa được thể chế hoá thành pháp luật; sự hiểu biết về pháp luật của cán bộ và nhân dân còn thấp, việc chấp hành còn nhiều thiếu sót, chưa nghiêm chỉnh và thống nhất. Cùng với các cơ quan tư pháp khác, hằng năm, ngành Kiểm sát lấy chủ trương, nghị quyết, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội làm căn cứ để ra chủ trương, nhiệm vụ và trọng tâm công tác cụ thể. Toàn ngành Kiểm sát đã chủ động, tích cực hơn trong việc thực hiện chức năng nhiệm vụ, góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, chú trọng phục vụ việc thực hiện kế hoạch nhà nước mà trọng tâm là nông nghiệp, lương thực, giao thông, vận tải, thương nghiệp...; đấu tranh phòng chống vi phạm và tội phạm, khắc phục các biểu hiện tiêu cực trong đời sống kinh tế - xã hội, khôi phục và giữ gìn kỷ cương xã hội, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, phục vụ an ninh, trật tự và củng cố quốc phòng, kịp thời và kiên quyết đưa ra truy tố, xét xử loại trọng tội, bảo vệ và phát huy quyền làm chủ tập thể của Nhân dân lao động. Đẩy mạnh xây dựng ngành Kiểm sát về các mặt tư tưởng, chính trị, tổ chức và đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, Kiểm sát viên.

Từ năm 1976 đến năm 1986 là giai đoạn cả nước tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh vừa hoà bình lại vừa có chiến tranh xảy ra ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc. Tổ chức, cán bộ và nhiệm vụ của Viện kiểm sát quân sự các cấp có sự thay đổi đáng kể. Sau khi Bộ Quốc phòng thành lập lại cơ quan Quân pháp trong Quân đội, giao công việc điều tra hình sự cho cơ quan Quân pháp, từ đó, hệ thống tổ chức Viện kiểm sát quân sự được kiện toàn theo yêu cầu mới. Năm 1976, một số Viện kiểm sát quân sự có sự thay đổi như: Viện kiểm sát quân sự Đoàn 559 đổi tên thành Viện kiểm sát quân sự Tổng cục Xây dựng kinh tế; Viện kiểm sát Quân khu 1 được thành lập trên cơ sở sáp nhập 2 Viện kiểm sát quân sự Quân khu Tây Bắc và Quân khu Việt Bắc; Viện kiểm sát quân sự Quân khu 3 thành lập trên cơ sở sáp nhập 2 Viện kiểm sát quân sự Quân khu Hữu Ngạn và Quân khu Tả Ngạn, đồng thời quyết định giải thể các Viện kiểm sát quân sự các Binh chủng: Thông tin, Công binh và Hóa học. 

Năm 1977, Bộ Tổng Tham mưu quyết định thành lập các Viện kiểm sát quân sự Bộ đội Biên phòng, Viện kiểm sát quân sự Binh đoàn 12, đồng thời tách Viện kiểm sát quân sự Quân chủng Phòng không - Không quân thành Viện kiểm sát quân sự Quân chủng Phòng không và Viện kiểm sát quân sự Quân chủng Không quân. Năm 1980, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 293/QĐ-QP giải thể Viện kiểm sát quân sự khu Trung ương và chuyển giao nhiệm vụ của Viện kiểm sát quân sự khu Trung ương cho Viện kiểm sát quân sự Trung ương đảm nhiệm. 

Đến cuối năm 1985, hệ thống Viện kiểm sát quân sự đã có 33 Viện và vẫn tổ chức theo hai cấp, trong đó có Viện kiểm sát quân sự Trung ương (Viện cấp thứ nhất) và 32 Viện kiểm sát quân sự cấp Quân khu, Quân đoàn, Quân chủng, binh chủng, Bộ Tư lệnh, các Tổng cục... (Viện cấp thứ 2).

Sau khi Quốc hội ban hành Hiến pháp năm 1980 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981, ngày 21/12/1985, Hội đồng Nhà nước thông qua Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát quân sự gồm 4 Chương, 34 Điều. Đây là Pháp lệnh đầu tiên quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và hoạt động của các Viện kiểm sát quân sự. 

Theo Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát quân sự, hệ thống Viện kiểm sát quân sự được tổ chức thành 3 cấp: Viện kiểm sát quân sự Trung ương; các Viện kiểm sát quân sự Quân khu, Quân chủng, Tổng cục và cấp tương đương; Viện kiểm sát quân sự Quân đoàn, tỉnh và khu vực, hoạt động theo chế độ tập trung thống nhất. Sau hơn 25 năm kể từ khi thành lập, hệ thống tổ chức, bộ máy Viện kiểm sát quân sự đã được kiện toàn, phát triển trên phạm vi toàn quân, bảo đảm cho việc thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ theo luật định, góp phần phục vụ xây dựng Quân đội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

2.3. Đổi mới tổ chức và hoạt động, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đầu công cuộc đổi mới (1987 – 2001)

a. Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với ngành Kiểm sát trong những năm 1987 - 2001

Thực hiện các Nghị quyết của Đảng, của Quốc hội và chức năng, nhiệm vụ theo Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992, các Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981, năm 1992 và các văn bản pháp luật khác liên quan, Viện kiểm sát nhân dân phục vụ đắc lực các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội trong những năm đầu của công cuộc đổi mới đất nước.

Xuất phát từ những quan điểm cơ bản của Đảng về cải cách một bước bộ máy nhà nước, ngày 15/4/1992, Quốc hội khoá VIII kỳ họp thứ 11 đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992. Hiến pháp đã thể chế hoá đường lối đổi mới của Đảng và khẳng định rõ chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ, các cơ quan ngang bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm do luật định” (Điều 137).

Thể chế hoá đường lối đổi mới của Đảng, Hiến pháp năm 1992, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992 tiếp tục ghi nhận Viện kiểm sát nhân dân là một trong các cơ quan trong bộ máy nhà nước, có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố, được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong Ngành. Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng bằng những công tác: kiểm sát chung, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử, kiểm sát thi hành án, kiểm sát giam giữ, cải tạo, điều tra tội phạm trong những trường hợp do pháp luật quy định.

So với Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 có hai điểm mới cơ bản khi quy định về hệ thống Viện kiểm sát nhân dân: Một là, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương chịu trách nhiệm báo cáo trước Hội đồng nhân dân về tình hình thi hành pháp luật ở địa phương và trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân. Hai là, Ủy ban kiểm sát không còn là cơ quan tư vấn cho Viện trưởng nữa, mà có quyền thảo luận và quyết định theo đa số những vấn đề quan trọng về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân.

b. Ngành Kiểm sát triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong những năm 1987 - 2001

Quán triệt quan điểm đổi mới của Đảng tại các Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX và các nghị quyết khác của Trung ương, các nghị quyết của Quốc hội, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992, ngành Kiểm sát đã có sự đổi mới nhận thức về tổ chức bộ máy và thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân vẫn được giữ nguyên tổ chức ở ba cấp nhưng bộ máy làm việc và cán bộ ở từng cấp kiểm sát ngày càng được củng cố, tăng cường cả về số lượng và chất lượng. Công tác kiểm sát chung có nhiều đổi mới về phương thức kiểm sát như yêu cầu tự kiểm tra, cấp trên kiểm tra, thanh tra và chuyển kết quả cho Viện kiểm sát, nếu thấy không đạt yêu cầu thì mới trực tiếp kiểm sát hoặc chỉ trực tiếp kiểm sát hành vi sau khi đã xác định có vi phạm pháp luật. Toàn ngành Kiểm sát đã tập trung vào kiểm sát văn bản quy phạm pháp luật; đồng thời bám sát các nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước, tập trung kiểm sát các lĩnh vực kinh tế trọng điểm như đất đai, ngân hàng, xuất nhập khẩu. Đã yêu cầu thu hồi cho Nhà nước hàng trăm tỉ đồng, yêu cầu khởi tố và trực tiếp khởi tố nhiều vụ án hình sự, dân sự. Ban hành nhiều kiến nghị rất xác đáng với các bộ, ngành, với Chính phủ trong việc tăng cường chỉ đạo, chấn chỉnh, đưa hoạt động quản lý kinh tế - xã hội vào nền nếp. Viện kiểm sát các cấp đã phát hiện và kiến nghị sửa đổi, bãi bỏ đối với hàng nghìn văn bản quy phạm pháp luật có vi phạm, trong đó có cả văn bản của các bộ, ngành ở Trung ương, góp phần củng cố pháp chế trong xây dựng và thực hiện pháp luật.

Trong việc thực hiện chức năng công tố, Viện kiểm sát các cấp đã tập trung đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm lợi dụng cơ chế đổi mới kinh tế để xâm phạm tài sản của Nhà nước, các tội phạm nguy hiểm như ma túy, giết người, cướp tài sản và các tội phạm hoạt động theo kiểu “xã hội đen”; đồng thời tăng cường kiểm sát các hoạt động tư pháp, bảo đảm cho việc bắt, giam, giữ, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án tuân thủ pháp luật.  

Từ năm 1987 đến năm 2001 là giai đoạn ngành Kiểm sát quân sự có những thay đổi vượt bậc. Ngày 12/12/1987, Đảng ủy quân sự Trung ương đã ban hành Quy chế 365/ĐUQSTW về sự lãnh đạo của Đảng ủy các cấp đối với Viện kiểm sát quân sự và Tòa án quân sự. Sau khi Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát quân sự năm 1985 được ban hành, Ban Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương có Nghị quyết số 325/ĐUQSTW ngày 03/11/1987 về việc chuyển giao chức năng và tổ chức của cơ quan làm công tác điều tra hình sự, các trại giam quân sự cho Viện kiểm sát quân sự Trung ương đảm nhiệm. 

Trong thời gian này, hệ thống Viện kiểm sát quân sự được tổ chức thành 3 cấp, gồm 35 đơn vị với tổng biên chế 605 người. Viện kiểm sát quân sự Trung ương (Viện cấp thứ nhất) được tổ chức thành 6 Phòng. Viện kiểm sát quân sự cấp thứ hai gồm 9 Viện. Viện kiểm sát quân sự khu vực (Viện cấp thứ ba) đặt ở một số Quân đoàn và tỉnh, gồm 25 Viện.   

Từ năm 1989 đến năm 1992, hệ thống Viện kiểm sát quân sự trong Quân đội tiếp tục được tổ chức theo 3 cấp, gồm 85 đơn vị Viện: Viện kiểm sát quân sự Trung ương (cấp thứ nhất); 18 đơn vị Viện kiểm sát quân sự cấp thứ 2 và 66 đơn vị Viện kiểm sát quân sự cấp thứ 3. Từ năm 1993 đến 1997, hệ thống Viện kiểm sát quân sự có tổng số 90 đơn vị, bao gồm: Viện kiểm sát quân sự Trung ương (Viện cấp thứ nhất), 20 Viện kiểm sát quân sự Quân khu, Quân đoàn, Quân chủng, Bộ đội Biên phòng và Tổng cục (Viện cấp thứ hai) và 69 Viện kiểm sát quân sự tỉnh, khu vực (Viện cấp thứ ba). Từ năm 1998 đến 2001, hệ thống Viện kiểm sát quân sự có 65 đơn vị, bao gồm: Viện kiểm sát quân sự Trung ương, 18 Viện kiểm sát quân sự cấp thứ hai và 46 Viện kiểm sát quân sự cấp thứ ba. 

2.4. Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động, thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước (2002 – 2010)

a. Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với ngành Kiểm sát trong những năm 2002 – 2010

Thực hiện các nghị quyết của Đảng và Quốc hội, nhất là Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 và các văn bản pháp luật khác liên quan, Viện kiểm sát nhân dân tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động, góp phần tích cực vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Bước sang những năm đầu của thế kỷ XXI, trong bối cảnh tình hình đất nước và quốc tế có nhiều khó khăn, thách thức, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, đất nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng. Nền kinh tế có bước chuyển biến tích cực, tiếp tục phát triển và ổn định. Một số lĩnh vực văn hoá, xã hội có tiến bộ. Quốc phòng, an ninh, trật tự được củng cố; độc lập, chủ quyền của đất nước được giữ vững. Vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế được nâng lên. Tuy nhiên, tình hình kinh tế - xã hội còn nhiều yếu kém, gặp nhiều khó khăn. Lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều vấn đề bức xúc, đáng lo ngại.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã tổng kết 15 năm đổi mới và có những chủ trương quan trọng về cải cách bộ máy nhà nước, cải cách tư pháp. Nghị quyết Đại hội IX nêu rõ: Phải cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cơ quan và cán bộ tư pháp trong công tác điều tra, bắt, giam, giữ, xét xử, thi hành án, không để xảy ra những trường hợp oan, sai. Viện kiểm sát nhân dân thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Tiếp đó, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã ra kết luận về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992, trong đó nêu rõ: “Cần sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân theo hướng Viện kiểm sát nhân dân chỉ thực hiện quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, không thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, tổ chức và cá nhân”.

Thể chế hoá chủ trương, quan điểm cải cách bộ máy nhà nước của Đảng, Quốc hội khoá X đã thông qua Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992. Theo đó, tiếp tục khẳng định Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhưng thu hẹp phạm vi chức năng kiểm sát là chỉ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp, không thực hiện công tác kiểm sát trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội (kiểm sát chung).

Để tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ trong công tác tư pháp, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, đã nhấn mạnh đến trách nhiệm của Viện kiểm sát trong thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp. Nghị quyết nêu rõ: “Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp. Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng khi thi hành nhiệm vụ. Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác...”[4].

Thể chế hoá các quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp, cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 1992; sửa đổi, bổ sung năm 2001, Quốc hội đã thông qua Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002. Theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002: Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ bằng 6 công tác sau (Điều 3):

“1. Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

2. Điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp;

3. Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự;

4. Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật;

5. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của Toà án nhân dân;

6. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù”.

So với các Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, 1981 và 1992, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 đã có sự điều chỉnh đáng kể chức năng của Viện kiểm sát. Kể từ đây, Viện kiểm sát không thực hiện công tác kiểm sát chung để tập trung làm tốt chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Lần đầu tiên, Luật đã phân định rõ phạm vi, nội dung của chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp (các Điều 13, 14, 17 và 18). Có thể nói, đây là bước thay đổi lớn nhất về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát kể từ ngày thành lập Viện kiểm sát nhân dân (1960). Căn cứ quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã thu gọn đầu mối Cơ quan điều tra ở Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố; chỉ còn lại Cục Điều tra ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Thể chế hoá quan điểm của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong tình hình mới, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, đặt ra yêu cầu cao hơn đối với Kiểm sát viên. Để có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên, ngoài tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, thì phải có trình độ Cử nhân luật, đã được đào tạo về nghiệp vụ kiểm sát, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và có thời gian làm công tác thực tiễn theo quy định của Pháp lệnh này (Điều 2). Đây là cơ sở pháp lý quan trọng, tác động mạnh mẽ đến việc nâng cao trình độ pháp lý và chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên. Trong giai đoạn này, từ năm 2002 thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 25/01/2002 của Bộ Chính trị về luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã triển khai việc luân chuyển cán bộ về các địa phương để đào tạo, bồi dưỡng dự nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Cùng với Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã có những thay đổi mới về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong hoạt động tố tụng hình sự, đặc biệt là trách nhiệm phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và trách nhiệm thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã thu hẹp đáng kể phạm vi tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát nhân dân trên cơ sở đề cao nguyên tắc đương sự tự định đoạt và nguyên tắc đương sự tự chứng minh: đã bỏ quyền khởi tố dân sự của Viện kiểm sát nhân dân được luật định trong suốt 44 năm qua kể từ khi thành lập (1960-2004); Viện kiểm sát nhân dân không tham gia 100% phiên tòa sơ thẩm mà chỉ tham gia phiên tòa khi có khiếu nại của đương sự về thu thập chứng cứ của Tòa án; tập trung vào kiểm sát các bản án, quyết định của Tòa án; tham gia 100% các phiên tòa giám đốc thẩm dân sự. Căn cứ quy định mới của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã sắp xếp lực lượng làm công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự ở Viện kiểm sát các cấp. Điểm đặc biệt đáng lưu ý là Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã tăng đáng kể thẩm quyền cho các cơ quan tư pháp cấp huyện (gấp hơn 2 lần so với những năm trước đó). Viện kiểm sát cấp huyện có quyền truy tố các tội phạm có mức hình phạt đến 15 năm tù và kiểm sát việc giải quyết của Tòa án đối với phần lớn các vụ việc dân sự.

Để tiếp tục đẩy mạnh quá trình cải cách tư pháp, ngày 02/6/2005 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó nêu rõ: “Trước mắt Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Tòa án[5].

b. Ngành Kiểm sát triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong những năm 2002 - 2010

Quán triệt quan điểm đổi mới và nội dung cải cách tư pháp được thể hiện trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng; thực hiện các quy định mới của pháp luật, các nghị quyết của Quốc hội, ngành Kiểm sát nhân dân đã có những bước chuyển mạnh mẽ về tổ chức và hoạt động. Viện kiểm sát các cấp đã có nhiều biện pháp đổi mới trong thực hành quyền công tố, đấu tranh chống làm oan người vô tội và bỏ lọt tội phạm. Phối hợp chặt chẽ hơn với các cơ quan tư pháp, đưa ra truy tố, xét xử được nhiều vụ án lớn, đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia, tham nhũng, ma túy, các tội phạm nguy hiểm xâm phạm trật tự, trị an. Tăng cường kiểm sát các hoạt động tư pháp, phát hiện và ban hành được nhiều kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu các cơ quan hữu quan khắc phục các vi phạm pháp luật. Đã chú trọng xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên giữ gìn phẩm chất đạo đức, đặc biệt là việc nâng cao tiêu chuẩn về trình độ pháp lý của đội ngũ Kiểm sát viên để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Đến năm 2010, đã có 98% số Kiểm sát viên trong toàn Ngành có trình độ Cử nhân luật và được đào tạo cơ bản về nghiệp vụ kiểm sát.

Từ năm 2002 đến 2010, thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Quốc phòng và Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự Trung ương đã phối hợp với các cơ quan chức năng trong và ngoài Quân đội nghiên cứu, xây dựng đề án trình Ủy ban thường vụ Quốc hội ra các Nghị quyết 384, 385, 386/NQ-UBTVQH 11 ngày 17/3/2003 phê chuẩn tổ chức, sắp xếp lại hệ thống các Viện kiểm sát quân sự. Hệ thống Viện kiểm sát quân sự vẫn được tổ chức theo 3 cấp, gồm Viện kiểm sát quân sự Trung ương; 16 Viện kiểm sát quân sự Quân khu, Quân chủng, Bộ đội Biên phòng, cơ quan Bộ Quốc phòng và các Quân đoàn; 34 Viện kiểm sát quân sự khu vực. 

2.5. Kiện toàn chức năng, nhiệm vụ, hoàn thiện thể chế, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền tư pháp trong sạch, vững mạnh (năm 2011 đến 2015)

a. Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với ngành Kiểm sát từ năm 2011 đến năm 2015

Quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội về những nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 2011-2015, đặc biệt là những chủ trương của Đảng và Nhà nước về Chiến lược Cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, trong đó có việc giữ nguyên chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân; từ năm 2011 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã có nhiều biện pháp chỉ đạo toàn Ngành tiếp tục nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, kiểm sát chặt chẽ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra; nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa; đổi mới công tác điều tra của Cơ quan điều tra thuộc Viện kiểm sát; thực hiện hiệu quả quyền hạn, trách nhiệm trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, các vụ án hành chính và các việc khác theo quy định của pháp luật; chú trọng công tác nghiên cứu khoa học và xây dựng pháp luật; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ; mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế; tiếp tục thực hiện có hiệu quả cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với việc rèn luyện 5 đức tính của người cán bộ Kiểm sát: “Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn”. Tập trung thực hiện đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng các đề án về cải cách tư pháp; đảm bảo các điều kiện về trụ sở làm việc, trang thiết bị, phương tiện phục vụ công tác.

Sau khi Quốc hội khóa XIII thông qua Hiến pháp năm 2013, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã trình Quốc hội thông qua Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân sửa đổi, bổ sung (Luật 63/2014/QH13 ngày 24/11/2014).  Về cơ bản Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 tiếp tục kế thừa những quy định còn phù hợp của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, song có những điểm mới cơ bản sau:

Thứ nhất, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 khẳng định rõ hơn vị trí của Viện kiểm sát nhân dân là thiết chế Hiến định trong bộ máy nhà nước, có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân (Điều 2).

Thứ hai, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định rõ phạm vi, nội dung, mục đích của từng chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Về chức năng thực hành quyền công tố, đã quy định cụ thể: Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp: Luật năm 2014 đã quy định chặt chẽ hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; kiểm sát trong giai đoạn truy tố; kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp và kiểm sát hoạt động tương trợ tư pháp.

Thứ ba, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã làm rõ nội dung các khâu công tác và bổ sung quy định về các công tác phục vụ thực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân. Cụ thể: Luật năm 2014 đã phân định lại một cách rõ ràng, hợp lý, cụ thể các khâu công tác thực hiện chức năng, quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong từng khâu công tác và bổ sung quy định phân biệt rõ các công tác phục vụ thực hiện chức năng, như: thống kê tội phạm; nghiên cứu khoa học; xây dựng pháp luật; đào tạo, bồi dưỡng; hợp tác quốc tế; phổ biến, giáo dục pháp luật.

Thứ tư, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã mở rộng thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân cả về loại tội và chủ thể thực hiện tội phạm. Theo Luật năm 2014, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương không chỉ điều tra các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà còn điều tra các tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan Thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp.

Thứ năm, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã phân định các trường hợp Viện kiểm sát nhân dân thực hiện quyền kháng nghị hoặc quyền kiến nghị.

Thứ sáu, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã làm rõ hơn nội dung nguyên tắc “tập trung thống nhất lãnh đạo trong Ngành”và làm rõ “khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân” theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013; làm rõ mối quan hệ giữa Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới và ngược lại thông qua các quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân các cấp.

Thứ bảy, về tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân: Luật năm 2014 quy định có 04 cấp (Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện); trong đó Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là cấp kiểm sát mới, có nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp cao. Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao gồm có Ủy ban kiểm sát, Văn phòng, các Viện và đơn vị tương đương. Về tổ chức bộ máy Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện: Theo Luật năm 2014, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện gồm có Văn phòng và các Phòng, những nơi chưa đủ điều kiện thành lập Phòng thì có các bộ phận công tác và bộ máy giúp việc.

Thứ tám, về Ủy ban kiểm sát: Theo Luật năm 2014, Ủy ban Kiểm sát được thành lập cả ở Viện kiểm sát nhân dân cấp cao. Ở Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực không tổ chức Ủy ban Kiểm sát. Luật năm 2014 tiếp tục quy định Ủy ban Kiểm sát có quyền quyết định những vấn đề quan trọng về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân. Riêng đối với các vụ án, vụ việc, Ủy ban Kiểm sát chỉ có vai trò tư vấn theo đề nghị của Viện trưởng. Luật năm 2014 bổ sung thẩm quyền cho Ủy ban kiểm sát xét tuyển người có đủ điều kiện dự thi vào các ngạch Kiểm sát viên. Luật năm 2014 còn quy định rõ khi quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền, Ủy ban Kiểm sát phải ban hành nghị quyết (Luật hiện hành không quy định rõ vấn đề này).

Thứ chín, về Kiểm sát viên và Kiểm tra viên: Luật năm 2014 quy định có 04 ngạch (Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp). Quy định tiêu chuẩn bổ nhiệm Kiểm sát viên cao cấp tương ứng với tiêu chuẩn bổ nhiệm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao hiện nay và nâng cao tiêu chuẩn bổ nhiệm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Về số lượng Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Luật năm 2014 quy định không quá 19 người. Về nhiệm kỳ Kiểm sát viên: Luật năm 2014 quy định: Kiểm sát viên được bổ nhiệm lần đầu có thời hạn là 05 năm, trường hợp được bổ nhiệm lại hoặc nâng ngạch thì thời hạn là 10 năm. Về cơ chế tuyển chọn Kiểm sát viên: Luật năm 2014 quy định: Áp dụng hình thức thi tuyển vào các ngạch Kiểm sát viên sơ cấp, trung cấp, cao cấp. Hội đồng thi được tổ chức ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao, do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao làm Chủ tịch, các ủy viên gồm đại diện lãnh đạo nhiều cơ quan (Điều 87). Không áp dụng hình thức thi tuyển vào ngạch đối với Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Luật năm 2014 quy định Kiểm tra viên là chức danh tư pháp, được bổ nhiệm để giúp Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo sự phân công của Viện trưởng. Kiểm tra viên có 03 ngạch như hiện nay (Kiểm tra viên, Kiểm tra viên chính, Kiểm tra viên cao cấp). Tiêu chuẩn bổ nhiệm, điều kiện nâng ngạch Kiểm tra viên do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định.

Thứ mười, về Viện kiểm sát quân sự: Luật năm 2014 quy định hệ thống Viện kiểm sát quân sự không tổ chức theo bốn cấp như trước mà tổ chức theo ba cấp gồm: Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Viện kiểm sát quân sự Quân khu và tương đương, Viện kiểm sát quân sự khu vực. Luật đã phân định rõ trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Tư lệnh Quân khu và tương đương trong việc điều động, luân chuyển, biệt phái Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, quân nhân khác, công chức, viên chức của Viện kiểm sát quân sự. Cụ thể: Bộ trưởng Bộ Quốc phòng điều động, luân chuyển giữa các Viện kiểm sát quân sự không cùng quân khu và tương đương sau khi thống nhất với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Tư lệnh quân khu và tương đương điều động, luân chuyển giữa các Viện kiểm sát quân sự trực thuộc quân khu và tương đương sau khi thống nhất với Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương.

Thứ mười một, về bảo đảm hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân: Luật năm 2014 quy định rõ trong trường hợp Chính phủ và Viện kiểm sát nhân dân tối cao không thống nhất về dự toán kinh phí hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiến nghị Quốc hội xem xét, quyết định. Kinh phí hoạt động của Viện kiểm sát quân sự do Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương lập dự toán báo cáo Bộ Quốc phòng để đề nghị Chính phủ trình Quốc hội quyết định, không phải phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao như hiện nay. Luật năm 2014 quy định: Ưu tiên đầu tư xây dựng trụ sở, trang thiết bị nâng cao năng lực hoạt động. Luật năm 2014 đã bổ sung các quy định: Kiểm sát viên, Điều tra viên, Kiểm tra viên có thang, bậc lương riêng, chế độ phụ cấp đặc thù và phụ cấp khác; chính sách khuyến khích, tạo điều kiện phát triển nguồn nhân lực phục vụ ngành Kiểm sát nhân dân; bảo đảm kinh phí cho công tác đào tạo, bồi dưỡng; ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức, viên chức của Viện kiểm sát nhân dân là người dân tộc thiểu số hoặc công tác tại miền núi, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Quy định về khen thưởng, xử lý vi phạm, tạo cơ sở pháp lý để Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành các hình thức khen thưởng đặc thù của ngành Kiểm sát.

Thứ mười hai, về cơ chế kiểm soát, giám sát đối với Viện kiểm sát nhân dân: Luật hiện hành: Luật năm 2014 quy định: Cơ chế kiểm soát trở lại của Cơ quan điều tra, Tòa án, Cơ quan thi hành án và các cơ quan khác có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp đối với việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân và quy định rõ các thiết chế giám sát bằng hình thức dân chủ đại diện gồm có Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân; quy định cơ chế giám sát thông qua dân chủ trực tiếp và các tổ chức chính trị - xã hội.

Ngoài ra, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 còn quy định về ngày truyền thống, phù hiệu của Viện kiểm sát nhân dân.

b. Ngành Kiểm sát triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ từ năm 2011 đến năm 2015

Năm 2011, Ban Cán sự Đảng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Chương trình trọng tâm công tác cải cách tư pháp của ngành Kiểm sát nhân dân; tổ chức sơ kết 05 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức Hội nghị toàn ngành Kiểm sát về công tác tổ chức, cán bộ nhằm quán triệt đến đội ngũ lãnh đạo chủ chốt trong Ngành những chủ trương của Đảng và quy định của Nhà nước liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn mới.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát các cấp tiếp tục hoàn thiện hệ thống quy chế tổ chức hoạt động và quy chế nghiệp vụ theo hướng đề cao trách nhiệm của lãnh đạo, Kiểm sát viên Viện kiểm sát các cấp; xây dựng, ban hành nhiều quy chế nghiệp vụ; phối hợp xây dựng, ban hành quy chế phối hợp công tác giữa Viện kiểm sát với các cơ quan hữu quan, nhất là các cơ quan tư pháp như đã phối hợp xây dựng, ban hành Quy chế phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao với Văn phòng Chủ tịch nước; Quy chế phối hợp giữa các Vụ nghiệp vụ Viện kiểm sát nhân dân tối cao với Cơ quan điều tra, Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Bộ Công an...

Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã chỉ đạo Viện kiểm sát các cấp tiếp tục hoàn thiện hệ thống quy chế trong các lĩnh vực công tác, theo hướng nâng cao trách nhiệm của Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc và Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp. Quan tâm nghiên cứu, nâng cao chất lượng các đề tài khoa học, chuyên đề nghiệp vụ; tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo; tổng kết kinh nghiệm thực tiễn; hướng dẫn, chỉ đạo và giải quyết kịp thời những vướng mắc của Viện kiểm sát cấp dưới trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ động phối hợp với Bộ Công an và Liên đoàn Luật sư Việt Nam xây dựng các quy chế phối hợp nhằm tăng cường quan hệ phối hợp trong công tác, tạo điều kiện hỗ trợ nhau giải quyết tốt nhiệm vụ, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của mỗi cơ quan.

Các đơn vị trong toàn ngành Kiểm sát nhân dân tiếp tục kiện toàn công tác tổ chức đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Năm 2012, toàn ngành Kiểm sát nhân dân tích cực triển khai nghiêm túc, hiệu quả cuộc vận động xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên “Vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh; kỷ cương và trách nhiệm” gắn với việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; đồng thời, triển khai, tổ chức thi tuyển chọn Kiểm sát viên giỏi, Điều tra viên giỏi, Kiểm sát viên tiêu biểu, Điều tra viên tiêu biểu trong toàn Ngành lần thứ 2 để biểu dương và nhân rộng các điển hình tiên tiến.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ đạo toàn Ngành triển khai thực hiện các Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội về một số vấn đề quan trọng liên quan đến ngành Kiểm sát nhân dân (Các Nghị quyết số 522b, 522c, 522d, 522e ngày 16/8/2012 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về: Trang phục đối với cán bộ, công chức, viên chức ngành Kiểm sát và Giấy chứng minh Kiểm sát viên; về việc cử Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao làm thành viên Ủy ban Kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao; phê chuẩn, việc điều chỉnh, bổ sung nhiệm vụ và đổi tên một số đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao; bổ sung biên chế và số lượng Kiểm sát viên).

Từ năm 2012, toàn Ngành tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 và Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW về cải cách tư pháp; tổ chức tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992 trong toàn Ngành và xây dựng Báo cáo đề xuất về những nội dung sửa đổi trong Hiến pháp có liên quan đến chế định Viện kiểm sát nhân dân cho phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; đồng thời ban hành Chương trình trọng tâm công tác cải cách tư pháp của ngành Kiểm sát nhân dân giai đoạn 2011-2016, để triển khai thực hiện thống nhất, hiệu quả trong toàn Ngành. Viện kiểm sát các cấp tiếp tục kiện toàn bộ máy tổ chức, cán bộ để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ. Sau khi Luật tố tụng hành chính được ban hành, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã quyết định thành lập Phòng kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, lao động, kinh doanh thương mại tại các Viện kiểm sát địa phương. Thành lập đơn vị cấp Phòng của một số đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao; đồng thời, chia tách, điều chỉnh công việc một số lĩnh vực chuyên môn, đảm bảo phân công công tác theo hướng chuyên sâu, thực hiện hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của Ngành6; quan tâm bố trí đủ số lượng, tăng cường chất lượng cán bộ làm công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, hành chính, kinh doanh thương mại, thi hành án đảm bảo thực hiện tốt các quy định của mới của pháp luật... Kiện toàn Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các đơn vị nghiệp vụ và Viện kiểm sát địa phương; triển khai thực hiện Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 (sửa đổi, bổ sung)[6].   

Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã tích cực nghiên cứu, đề nghị và được Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết về việc tăng biên chế và số lượng Kiểm sát viên, Điều tra viên của Viện kiểm sát nhân dân; tăng số lượng thành viên Ủy ban Kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao; điều chỉnh, bổ sung nhiệm vụ và đổi tên một số đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao; trình Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn việc điều chỉnh, bổ sung nhiệm vụ và đổi tên một số đơn vị (Vụ 4 thành Vụ Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự, Vụ 10 thành Vụ Kiểm sát thi hành án dân sự, Cục Thống kê tội phạm thành Cục Thống kê tội phạm và Công nghệ thông tin, Vụ Hợp tác quốc tế thành Vụ Hợp tác quốc tế và Tương trợ tư pháp về hình sự và Ban Thanh tra thành Thanh tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao) và tăng biên chế cho ngành Kiểm sát nhân dân lên 15.860 người.

Viện kiểm sát các cấp cơ bản đã hoàn thành việc rà soát, bổ sung quy hoạch cán bộ lãnh đạo giai đoạn 2011-2015 và giai đoạn 2016-2020; quan tâm thực hiện luân chuyển để tạo nguồn cán bộ lãnh đạo gắn với thực hiện chiến lược cán bộ của toàn Ngành; chuyển đổi, sắp xếp vị trí công tác thuộc các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã có Chỉ thị về công tác thống kê và công nghệ thông tin trong ngành Kiểm sát nhân dân và chỉ đạo Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, thành phố thành lập Phòng Thống kê và Công nghệ thông tin ở các Viện kiểm sát địa phương.

Năm 2013, toàn Ngành thực hiện nhiều biện pháp đổi mới công tác quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra, tự kiểm tra trong nội bộ; chỉ đạo Viện kiểm sát các cấp tập trung nghiên cứu, hoàn thiện các đề án về tổ chức, bộ máy, biên chế, cơ cấu đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên; đồng thời, thực hiện mạnh mẽ, toàn diện nhiều biện pháp nhằm tuyển dụng đủ số lượng, bảo đảm chất lượng biên chế được giao, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên. Viện kiểm sát các cấp cơ bản đã quan tâm thực hiện luân chuyển cán bộ lãnh đạo quản lý, góp phần tạo nguồn cán bộ lãnh đạo gắn với thực hiện Chiến lược cán bộ của Ngành và quy hoạch lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân các cấp giai đoạn 2010-2015. Xây dựng, thực hiện kế hoạch luân chuyển, chuyển đổi vị trí công tác giữa các đơn vị, bổ sung quy hoạch lãnh đạo cấp Vụ thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao; chú trọng công tác nhận xét đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm và luân chuyển lãnh đạo cấp phòng và Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh giữ chức vụ Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện phục vụ việc tăng thẩm quyền.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã chủ động nghiên cứu, đề xuất và được Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn quyết định đổi tên, thành lập mới một số đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao; tổ chức bộ máy theo lĩnh vực chuyên sâu nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của Ngành (Thành lập Vụ Thi đua - Khen thưởng; thành lập Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trên cơ sở Cục Điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao). Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã tích cực, chủ động phối hợp với các ban, ngành mở nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng; tăng cường hợp tác quốc tế, cử cán bộ đi học ở nước ngoài..., nhằm nâng cao trình độ, năng lực công tác, đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn hóa cán bộ và hội nhập quốc tế. Đặc biệt năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định thành lập Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, tuyển sinh và tổ chức khai giảng Khóa 1 Cử nhân Luật chuyên ngành Kiểm sát năm 2013. Tổ chức lớp “Bồi dưỡng kiến thức quản lý, chỉ đạo điều hành” cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố đạt kết quả tốt.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao tiếp tục nghiên cứu, xây dựng Đề án đổi mới, cải cách chế độ tiền lương và chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức, viên chức trong Ngành theo yêu cầu cải cách tư pháp để trình cơ quan có thẩm quyền. Cũng trong năm 2013 đã thành lập bổ sung đơn vị cấp phòng của các Viện kiểm sát phúc thẩm 1, 2, 3 và Vụ 7, thành lập các phòng thuộc Vụ 10. Chia tách phòng 5 thành các phòng 5 và 12 của 04 đơn vị; tách Văn phòng Tổng hợp và Thống kê tội phạm thành 02 phòng độc lập của 17 đơn vị; đổi tên Phòng 4, Phòng 10, Văn phòng Tổng hợp và Thống kê tội phạm của 63 Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; thành lập mới 04 Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện.

Năm 2014, ngành Kiểm sát nhân dân tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 49-NQ/TW, Kết luận số 79-KL/TW và Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Ngay sau khi Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW về cải cách tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã xây dựng Kế hoạch số 08-KH/BCS ngày 09/5/2014 và tổ chức Hội nghị quán triệt, triển khai các nhiệm vụ của Viện kiểm sát đảm bảo triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả trong toàn Ngành. Toàn ngành Kiểm sát nhân dân đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp nhằm tăng cường trách nhiệm công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; trong đó đã xác định: “Tăng cường các biện pháp chống oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm” là một trong ba nhiệm vụ trọng tâm. Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã chỉ đạo toàn Ngành thực hiện những nội dung đột phá nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác; đồng thời, ban hành Chỉ thị số 06/CT-VKSTC về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác.  

Năm 2015 là năm toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thi đua thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và tổ chức đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII; là năm, ngành Kiểm sát nhân dân triển khai thực hiện Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, tiếp tục phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ theo chỉ thị, nghị quyết của Đảng, của Quốc hội về công tác tư pháp và kỷ niệm 55 năm ngày thành lập Ngành. Để hoàn thành nhiệm vụ chính trị trên, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xác định nhiệm vụ trọng tâm của ngành Kiểm sát nhân dân trong năm 2015 là: “Thực hiện hiệu quả chủ trương cải cách tư pháp; đẩy mạnh công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế; tăng cường công tác xây dựng Đảng, xây dựng Ngành; nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp”[7]. Đồng thời, chỉ thị toàn Ngành tiếp tục quán triệt chủ trương “Đổi mới, chất lượng, kỷ cương, hướng về cơ sở” và tập trung thực hiện và tăng cường công tác xây dựng Đảng, xây dựng Ngành đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.



[1] Nghị định số 256-TTg ngày 01/7/1959 của Thủ tướng Chính phủ về nhiệm vụ và tổ chức Viện Công tố Trung ương và hệ thống Viện Công tố

[2] Ý kiến phát biểu của đồng chí Trường Chinh, Uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội tại Hội nghị kiểm điểm công tác 6 tháng đầu năm và nghiên cứu, quán triệt Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, ngày 02/8/1960.

[3] Ngày 07/8/2009 Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã có Quyết định số 2628/QĐ-BQP công nhận ngày 12/5/1961 là ngày truyền thống của ngành Kiểm sát quân sự.

[4] Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Sự lãnh đạo của Đảng đối với ngành Kiểm sát nhân dân, Sđd - Trang 220-221, 224-225).

[5] Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Sự lãnh đạo của Đảng đối với ngành Kiểm sát nhân dân, Sđd - Trang 284-285.

6Thành lập bổ sung đơn vị cấp phòng thuộc Vụ 5 và các Viện kiểm sát phúc thẩm 1,2,3; phân công lại nhiệm vụ của Vụ 5 và Vụ 12 thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thành lập bộ phận công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự tại TP. Hồ Chí Minh; chia tách thành Phòng 5 và Phòng 12 của 14 Viện kiểm sát cấp tỉnh thành hai phòng độc lập

 

[7] Chỉ thị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về nhiệm vụ công tác kiểm sát năm 2015. 

 

Số lần truy nhập 31957561
Số người đang xem: 921