thong bao
 
 
Trang chủ
 
thong baothong bao
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TIẾN TRÌNH CẢI CÁCH TƯ PHÁP


MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA VIỆN KIỂM SÁT THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP
 
BÙI ĐỨC LONG
Vụ trưởng Vụ 4 Viện kiểm sát nhân dân tối cao
 
Vấn đề chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của cơ quan Viện kiểm sát không phải bây giờ mới đặt ra. Thời điểm đặt ra bàn một cách quyết liệt, gay gắt nhất có lẽ cách đây khoảng trên 16 năm khi xây dựng Hiến pháp năm 1992. Đến năm 2002, với Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 thì chức năng, nhiệm vụ và tổ chức, bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân đã có một bước thay đổi. Ngay sau đó, dù Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân chưa thay đổi nhưng với sự ra đời của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 thì trên thực tế, phạm vi hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong lĩnh vực này đã thay đổi rất căn bản. Khi Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 xác định: “Nghiên cứu chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố, tăng cường trách nhiệm của Viện công tố trong hoạt động điều tra” thì vấn đề chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của Viện kiểm sát được đặt ra một cách cấp bách. Trong lịch sử xây dựng Nhà nước ta từ năm 1945 đến nay có lẽ cũng không có cơ quan Nhà nước nào mà mô hình tổ chức, chức năng, nhiệm vụ được đưa ra bàn thảo nhiều như cơ quan Viện kiểm sát.
 
 
 
(Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Trần Quốc Vượng, Phó Viện trưởng Dương Thanh Biểu
 trao Huân chương Lao động hạng Nhì của Đảng, Nhà nước tặng thưởng Vụ 4, Viện kiểm sát nhân dân tối cao)
 
Theo lộ trình cải cách tư pháp mà Nghị quyết số 49 đặt ra là 15 năm, trong đó có những việc đến năm 2010 phải hoàn thành. Mặc dù vậy, trước khi có Nghị quyết số 49 thì cải cách tư pháp đã diễn ra khá sôi động, quyết liệt, nhất là từ khi triển khai Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị mà Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương đã tổ chức tổng kết 4 năm thực hiện. Theo đánh giá của Nghị quyết số 49 thì cải cách tư pháp tuy đã đạt được một số kết quả bước đầu, nhưng công tác tư pháp còn bộc lộ nhiều hạn chế: Chính sách hình sự; chế định pháp luật dân sự và pháp luật về tố tụng tư pháp còn nhiều bất cập, chậm được sửa đổi, bổ sung; tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ cơ chế hoạt động của các cơ quan tư pháp còn bất hợp lý.v.v. Điều đáng nói là trong những chủ trương hoặc xác định mục đích của từng thời điểm trong tiến trình cải cách tư pháp có điểm chúng ta tính toán chưa sát, đặt ra mục tiêu cụ thể chưa lường hết những khó khăn cho nên tổ chức thực hiện chưa đạt hoặc không đạt được so với yêu cầu hoặc chất lượng thấp. Vì vậy, để thực hiện Nghị quyết số 49, chúng tôi cho rằng vấn đề xác định lộ trình và các mục tiêu trong lộ trình từ nay đến năm 2020 là rất quan trọng. Mặt khác, cải cách tư pháp còn phải đảm bảo tính đồng bộ và phù hợp với cải cách bộ máy Nhà nước nói chung, cải cách kinh tế, cải cách hành chính… Mặt khác, cải cách tư pháp phải tốt hơn, hiệu quả hơn chứ không phải cải cách chỉ là sự thay đổi tên gọi, chỉ là chuyển chỗ này sang chỗ khác. Thực tế đã cho thấy có những việc Nhà nước nào cũng phải làm nhưng khi chúng ta không giao cho cơ quan đang thực hiện nữa mà cũng không giao cho cơ quan khác hoặc giao không phù hợp nên có những lúc “bỏ trống trận địa”. Với mong muốn như vậy, chúng tôi tin rằng công cuộc cải cách nói chung, cải cách tư pháp nói riêng ở nước ta sẽ tiếp tục thu được kết quả cao hơn.
Bàn về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát sau năm 2010, theo chúng tôi cần thống nhất một số vấn đề sau:
Thứ nhất, cần quán triệt và nắm vững quan điểm chỉ đạo về chiến lược cải cách tư pháp đã nêu trong Nghị quyết số 49. Đây không phải là sách vở, mà nội dung của những quan điểm đó giúp chúng ta có phương hướng, cơ sở xác định lộ trình, bước đi và có cơ sở phương pháp luận đúng khi tiếp cận từng vấn đề cụ thể. Đó là:
- Cải cách tư pháp phải đặt dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Đảng, bảo đảm sự ổn định chính trị, giữ vững bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quyền lực của Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
- Cải cách tư pháp phải xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc; gắn với đổi mới công tác lập pháp, cải cách hành chính.
- Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội trong quá trình cải cách tư pháp. Các cơ quan tư pháp, cơ quan bổ trợ tư pháp phải đặt dưới sự giám sát của các cơ quan dân cử và nhân dân.
- Cải cách tư pháp phải kế thừa truyền thống pháp lý dân tộc, những thành tựu đã đạt được của nền tư pháp xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với hoàn cảnh nước ta và yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế; đáp ứng được xu thế phát triển của xã hội trong tương lai.
- Cải cách tư pháp phải được tiến hành khẩn trương, đồng bộ có trọng tâm, trọng điểm với những bước đi vững chắc.
Thứ hai, cần tổ chức tổng kết hoạt động thực hiện chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp từ khi Viện công tố được thành lập vào năm 1958, tiền thân của Viện kiểm sát. Bản thân sự ra đời của Viện công tố ở nước ta năm 1958 cho thấy một bước tiến quan trọng của nền tư pháp cách mạng. Với chức năng, nhiệm vụ của Viện công tố năm 1958 cũng có rất nhiều điểm tương đồng với Viện công tố một số nước hiện nay. Trong tổng kết cần chỉ rõ trong tổ chức bộ máy và chức năng công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp thì nội dung gì chồng chéo, vấn đề gì không hợp lý, không hiệu quả, nội dung gì do Luật quy định chưa rõ, chưa cụ thể khó thực hiện, nội dung gì có rồi nhưng không thực hiện được, kém hiệu quả… hoặc là chỉ cần tổng kết 5 năm thực hiện Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 để làm rõ một số vấn đề nêu trên và đưa ra mô hình của Viện kiểm sát với chức năng, nhiệm vụ rõ ràng, không chồng chéo, dễ thực hiện và đem lại hiệu quả trong thực tiễn.
Thứ ba, nghiên cứu, tham khảo mô hình Viện kiểm sát, Viện công tố ở một số nước hoạt động có hiệu quả, có sự tổ chức đồng bộ với hệ thống cơ quan Toà án, Cơ quan điều tra mà sự vận hành của các cơ quan này thuận lợi, ở đó có nền tư pháp trong sạch, dân chủ, vững mạnh, nghiêm minh và hiện đại.
Thứ tư, đồng thời với việc xác định mô hình tổ chức, chức năng, nhiệm vụ cũng cần xác định các điều kiện để đảm bảo Viện kiểm sát có thể hoạt động chỉ tuân theo pháp luật trong Nhà nước pháp quyền, không phải chịu sự ảnh hưởng, chi phối nào dẫn đến làm sai pháp luật.
Qua thực tiễn thực hiện chức năng thực hành công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp những năm qua và nghiên cứu mô hình tổ chức hoạt động của Viện công tố nhiều nước, chúng tôi xin đề xuất một số vấn đề sau:
1. Về tên gọi và vị trí của Viện kiểm sát trong bộ máy Nhà nước
- Về tên gọi: Thực tế vấn đề tên gọi là Viện công tố ở nước ta cũng đã xuất hiện từ trước năm 1960. Đến năm 1960, mới xuất hiện tên gọi là Viện kiểm sát nhân dân. Tuy nhiên, nhìn vào chức năng Viện công tố ở nước ta năm 1958, thì tên gọi này chưa bao quát hết vì thực tế nó còn bao hàm cả hoạt động “ngoài công tố”. Tham khảo chức năng của Viện công tố của một số nước thì cũng không hoàn toàn như vậy. ở Liên Xô cũ và là Liên bang Nga hiện nay sử dụng cùng một từ procuratura nhưng có trường hợp dịch là Viện kiểm sát, trường hợp khác lại dịch là Viện công tố. Theo chúng tôi nên gọi là Viện kiểm sát là phù hợp với chức năng cũng như truyền thống ở Việt Nam từ năm 1960 đến nay.
- Về vị trí của cơ quan Viện kiểm sát trong bộ máy Nhà nước:
Vấn đề xác định vị trí của Viện kiểm sát trong bộ máy Nhà nước ta đã xuất hiện các ý kiến khác nhau nhưng tập trung lại có 2 loại ý kiến: Một là, trực thuộc Quốc hội; hai là trực thuộc Chính phủ. Trên thế giới vấn đề này cũng không hoàn toàn thống nhất mà tuỳ thuộc vào các yếu tố chính trị, xã hội, truyền thống lịch sử, văn hoá, pháp luật… khi xây dựng cơ quan Viện kiểm sát/ Viện công tố ở mỗi nước. Song có điểm chung là dù tổ chức cơ quan Công tố thuộc Quốc hội hay Chính phủ cũng luôn hướng tới sự độc lập của cơ quan này với tư cách là một trong những cơ quan tư pháp. ở nước ta đây là vấn đề có tính truyền thống trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước gần nửa thế kỷ qua. Theo mô hình tổ chức Viện kiểm sát Liên bang Nga, Viện kiểm sát Trung Quốc, chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia này cũng như truyền thống Việt Nam thì việc xác định vị trí của Viện kiểm sát như hiện nay là phù hợp.
2. Về chức năng và nhiệm vụ của Viện kiểm sát
Vấn đề này chúng tôi hoàn toàn tán thành với ý kiến cho rằng, thực hành quyền công tố không chỉ là chức năng duy nhất của cơ quan Công tố. Ngoài chức năng thực hành quyền công tố, cơ quan Công tố còn tham gia ở mức độ nhất định các hoạt động trên lĩnh vực dân sự, hành chính, thương mại, giam giữ, cải tạo; có nước Viện công tố ra quyết định thi hành án hình sự. ở nhiều nước, Viện công tố còn có chức năng giám sát việc tuân theo pháp luật.
Nghiên cứu lịch sử Viện công tố ở nước ta vào trước năm 1960 cho thấy cơ quan Công tố không chỉ thực hành quyền công tố mà còn giám sát các hoạt động tư pháp; cơ quan Công tố không chỉ thực hiện chức năng, nhiệm vụ trên lĩnh vực hình sự mà còn cả lĩnh vực dân sự, thi hành án, giam giữ, cải tạo; có vai trò quan trọng trong quá trình điều tra vụ án hình sự mà khi cần thiết còn trực tiếp tiến hành điều tra hoặc một số hoạt động điều tra…
Thực hiện Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và yêu cầu cải cách tư pháp, qua gần 6 năm thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân đã được khẳng định trong bộ máy Nhà nước cũng như trong các cơ quan tư pháp. Vì vậy, việc xác định chức năng của Viện kiểm sát nhân dân là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp là phù hợp.
3. Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát
Trước yêu cầu cải cách tư pháp, cải cách Viện kiểm sát thực chất là tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp là đòi hỏi vừa thường xuyên lại vừa cấp thiết. Theo chúng tôi, để cải cách tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát có hiệu quả cần nghiên cứu và xử lý một số vấn đề sau:
- Xác định cụ thể việc Viện kiểm sát được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức Toà án nhân dân theo Nghị quyết số 49 gồm những vấn đề gì? Có phải nhất thiết ở đâu có Toà án là ở đó có Viện kiểm sát không?
- Xác định rõ địa vị của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, quan hệ giữa công tố và điều tra. Trong tố tụng hình sự cần làm rõ các vấn đề:
+ Vai trò của Viện kiểm sát trong việc nắm, xử lý thông tin về tội phạm.
+ Phân biệt rõ quan hệ hành chính và quan hệ tố tụng.
+ Làm rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm các chức danh pháp lý trong tố tụng hình sự.
- Xác định rõ phạm vi hoạt động của Viện kiểm sát trong kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự cũng như dân sự, hành chính, thương mại…
Trên cơ sở đó xác định tổ chức, bộ máy của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát và chiến lược cán bộ trong tiến trình cải cách tư pháp cho phù hợp.
Trước mắt chúng tôi xin đề xuất:
- Trong lĩnh vực hình sự: Theo chúng tôi, mô hình của Viện kiểm sát hiện nay thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động điều tra, hoạt động truy tố và kiểm sát xét xử hình sự về cơ bản là phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm ở nước ta và cũng tương đồng với chức năng, nhiệm vụ của Viện công tố của nhiều nước trên thế giới. Song để thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của Viện công tố trong thời gian tới, chúng tôi xin đề nghị cần hoàn thiện các quy định về Viện công tố/ Viện kiểm sát ở một số điểm sau:
+ Viện công tố/ Viện kiểm sát phải là cơ quan chịu trách nhiệm trong việc nắm, quản lý, xử lý thông tin về tin báo, tố giác tội phạm. Có thể nói về mặt này chúng tôi cho rằng, những quy định về vai trò của Viện kiểm sát trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988 phù hợp và có hiệu quả hơn Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003.
+ Quy định cụ thể quyền và trách nhiệm của Viện công tố/ Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra. Trong các tài liệu gần đây thì có lúc dùng “công tố chỉ đạo điều tra”, có lúc thì “công tố gắn với điều tra”, có chỗ dùng “tăng cường trách nhiệm của công tố đối với điều tra”… Nếu quy định như hiện nay thì rất khó khăn trong thực hiện, nhìn vào Viện kiểm sát thì thấy trách nhiệm, thấy nghĩa vụ bồi thường nếu xảy ra oan. Sẽ rất khó chấp nhận khi Cơ quan điều tra ra lệnh nhưng xảy ra oan thì Viện kiểm sát bồi thường, còn người ra lệnh vô can; khi Viện kiểm sát yêu cầu điều tra mà không được đáp ứng, đáp ứng không đầy đủ thì Viện kiểm sát cũng bó tay… chưa kể đến việc các cơ quan bổ trợ tư pháp không đáp ứng yêu cầu của Viện kiểm sát về thời gian, về chất lượng giám định, về Luật sư trong những trường hợp pháp luật quy định…
+ Về các quy định khác trong hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử hình sự chúng tôi thấy cơ bản không có vấn đề gì lớn. Song cần quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan, người tiến hành tố tụng có thể phối hợp trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan, mỗi Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán.
- Trong lĩnh vực tố tụng dân sự về cơ bản tôn trọng nguyên tắc tự định đoạt của các bên đương sự và vai trò của Toà án là chủ yếu. Tuy nhiên, cũng có nước thì Viện kiểm sát (Viện công tố) cũng có vai trò nhất định trong tố tụng dân sự. ở nước ta theo chúng tôi trong giai đoạn hiện nay cũng cần tiếp tục giao cho Viện kiểm sát (Viện công tố) một phạm vi nhất định trong tố tụng dân sự như liên quan đến việc bảo vệ tài sản Nhà nước; tài sản công cộng; những vụ tranh chấp đất đai; những việc phức tạp có giá trị tài sản nhất định. Hoặc nghiên cứu vai trò của Viện kiểm sát Trung Quốc trong tố tụng dân sự để tham khảo.
- Trong lĩnh vực thi hành án: Qua nghiên cứu chức năng của Viện kiểm sát/ Viện công tố một số nước thì Viện công tố có vai trò quan trọng trong thi hành án nhất là thi hành án hình sự. ở nước ta, tiếp thu truyền thống lập pháp hơn nửa thế kỷ qua và tham khảo kinh nghiệm một số nước cho thấy chức năng kiểm sát thi hành án của Viện kiểm sát trong cả hình sự và dân sự là cần thiết. Trong thi hành án hình sự, Viện kiểm sát thực hiện kiểm sát tất cả việc thi hành các bản án, quyết định về hình sự, với lập luận Viện kiểm sát (Viện công tố) là cơ quan đưa người phạm tội ra Toà thì phải có trách nhiệm cho đến khi thi hành án xong. Trong thi hành án dân sự, thì phạm vi hẹp hơn, chỉ kiểm sát thi hành án các bản án, quyết định về tham nhũng; tịch thu tài sản sung công quỹ Nhà nước; tài sản là bất động sản; tài sản có giá trị lớn. Chúng tôi cho rằng như thế là phù hợp.
- Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát (Viện công tố) chúng tôi cho rằng cần thiết phải tồn tại nhưng phải tổ chức lại, phạm vi hoạt động phải điều chỉnh mới có hiệu quả./.
 






VIDEO

Đề nghị download media để chạy
Viện trưởng VKSND tối cao khai mạc Hội nghị trực tuyến về góp ý sửa đổi dự thảo Hiến pháp











Liên kết

Số lần truy nhập 6721832

Trang chủ Liên hệ Góp ý Về đầu trang


Trang thông tin điện tử của Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trụ sở : số 44 - Lý Thường Kiệt - Hà Nội; Điện thoại : 04.8255058-332; Fax : 04.8255400

Giấy phép số 294/GP-BC ngày 09/07/2007 của Cục Báo chí Bộ Văn hoá thông tin

Người chịu trách nhiệm : Nguyễn Việt Hùng, Chánh Văn phòng VKSNDTC

© Viện kiểm sát nhân dân tối cao thiết kế và giữ bản quyền.

Mong bạn đọc góp ý kiến, phê bình. Thư điện tử liên hệ: