CÔNG TÁC KIỂM SÁT       Ngày 10/09/2018


 

Thông báo rút kinh nghiệm kiểm sát giải quyết vụ án 

“tranh chấp thành viên Công ty”

Thông qua công tác kiểm sát giải quyết vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm đối với vụ án kinh doanh thương mại, vừa qua, VKSND tối cao (Vụ 10) ra Thông báo số 214/TB-VKSTC đến VKSND cấp cao 1, 2,3; VKSND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương kinh nghiệm kiểm sát giải quyết vụ án “tranh chấp thành viên Công ty” xảy ra tại tỉnh B.  

Vụ án thứ nhất: Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 33/2015/KDTM-PT ngày 01/10/2015 do Tòa án nhân dân (TAND) cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết giữa nguyên đơn ông Nguyễn Văn Dương và bị đơn Lê Thị Hải.

Vụ án thứ hai: Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 34/2015/KDTM-PT ngày 01/10/2015 do TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết giữa nguyên đơn ông Nguyễn Minh Trí và bị đơn bà Lê Thị Hải.

Trong 02 vụ án này, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH V.T, đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Văn Dương - Giám đốc, những người đồng đại diện của Công ty tại thời điểm khởi kiện là bà Lê Thị Hải - Chủ tịch Hội đồng thành viên (HĐTV) Công ty, bà Lê Na - Thành viên HĐTV Công ty, ông Nguyễn Văn Dương - Thành viên HĐTV Công ty, ông Nguyễn Minh Trí - Thành viên HĐTV Công ty. Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn Dương và ông Nguyễn Văn Trí là ông Trần Duy Lượng.

Nội dung 02 vụ án:

Ngày 31/5/2011, bà Lê Thị Hải ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn Dương 2,5 tỷ đồng vốn góp tương đương với 10% vốn điều lệ và ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn Trí 2 tỷ đồng vốn góp tương đương 8% vốn điều lệ của bà tại Công ty TNHH V.T. Ông Dương, ông Trí trở thành thành viên Công ty V.T theo Giấy chứng nhận đăng ký thay đổi lần thứ 3 ngày 03/6/2011 số 3700626574 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh B cấp.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Dương đã chuyển đủ số tiền 2,5 tỷ đồng; ông Trí chuyển đủ số tiền 2 tỷ đồng cho bà Hải. Ông Dương, ông Trí cho rằng: Từ khi bà Hải nhận tiền chuyển nhượng vốn góp, bà Hải chưa thực hiện việc tạo ra giá trị của Công ty và không sử dụng vốn góp để thực hiện những cam kết đã thỏa thuận trong hợp đồng.

Ngày 25/7/2014, ông Dương khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Lê Thị Hải trả lại 2 tỷ đồng tiền vốn đã góp để ông Dương trực tiếp đứng ra thực hiện thủ tục bồi thường đất và tài sản trên đất cho các hộ dân trên đất thuộc dự án P và tiền lãi tạm tính từ ngày 30/6/2013 đến ngày 30/6/2014 là 165 triệu đồng. Tổng là  2,165 tỷ đồng. Còn 500 triệu đồng sẽ khởi kiện trong vụ án khác.

Cùng ngày, ông Trí khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Hải trả lại 2 tỷ đồng tiền vốn góp để ông Trí trực tiếp đứng ra thực hiện thủ tục bồi thường đất và tài sản trên đất cho các hộ dân trên đất thuộc dự án P và tiền lãi vi phạm hợp đồng tạm tính từ ngày 30/6/2013 đến ngày 30/6/2014 là 165 triệu đồng. Tổng là  2,165 tỷ đồng.  

Bà Hải xác nhận có ký hai hợp đồng chuyển nhượng vốn góp với ông Dương và ông Trí ngày 31/5/2011. Trước đó, Công ty V.T 3 lần thay đổi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, thay đổi vốn điều lệ và HĐTV từ 02 người ban đầu (bà Lê Thị Hải, bà Lê Na) lên 04 thành viên như hiện tại.

Ngày 25/6/2013, ông Dương nộp đơn xin thôi giữ chức vụ Giám đốc Công ty, chấm dứt tư cách người đại diện theo pháp luật. Ngày 30/6/2013, HĐTV Công ty V.T đã tổ chức họp và biểu quyết tỷ lệ 100% thông qua quyết định: “Ông Dương thôi chức Giám đốc kể từ ngày 25/6/2013” Đến nay, Công ty V.T chưa bổ nhiệm Giám đốc mới thay thế và làm thủ tục thay đổi đăng ký kinh doanh.

Bà Hải không đồng ý với yêu cầu hoàn trả tiền đã thanh toán để nhận chuyển nhượng vốn góp và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án:

Vụ án thứ nhất: Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 33/2015/KDTM-PT ngày 01/10/2015 của Tòa án nhân dân (TAND) cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định: “Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Dương, giữ nguyên bản án sơ thẩm, cụ thể: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Dương đối với bà Lê Thị Hải về việc yêu cầu trả lại 2 tỷ đồng tiền vốn góp và 165 triệu đồng tiền lãi.”

Vụ án thứ hai: Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 34/2015/KDTM-PT ngày 01/10/2015 của Tòa án nhân dân (TAND) cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định: “Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Minh Trí, giữ nguyên bản án sơ thẩm, cụ thể: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh Trí đối với bà Lê Thị Hải về việc yêu cầu trả lại 2 tỷ đồng tiền vốn góp và 165 triệu đồng tiền lãi.”

Sau đó, ông Nguyễn Văn Dương và ông Nguyễn Minh Trí có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm với lý do: Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thay đổi lần thứ 3 ngày 03/6/2011 của Công ty V.T thể hiện rõ ông Nguyễn Văn Dương - Giám đốc là người đại diện theo pháp luật của Công ty nhưng Tòa án lại xác định tất cả các thành viên Công ty là người đồng đại diện theo pháp luật của Công ty là không đúng. Tòa án xác định “tranh chấp thành viên Công ty” để bác yêu cầu buộc bà Hải trả cho ông Dương số tiền 2,165 tỷ đồng, trả cho ông Trí số tiền 2,165 tỷ đồng là không có căn cứ.

Sau khi xem xét hồ sơ hai vụ án, VKSND tối cao thấy hai Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết là có căn cứ. Vì vậy, không có căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm như đơn đề nghị của ông Nguyễn Văn Dương và ông Nguyễn Minh Trí.

Một số vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Về tố tụng:

Tại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty TNHH V.T thay đổi lần thứ 3 số 3700626574 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh B cấp, người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Văn Dương - Giám đốc Công ty. Tuy nhiên, ngày 25/6/2013, ông Dương nộp đơn xin thôi chức vụ Giám đốc Công ty, chấm dứt tư cách người đại diện theo pháp luật. Ngày 30/6/2013, HĐTV Công ty V.T đã tổ chức họp và biểu quyết tỷ lệ 100% thông qua quyết định: “Ông Dương thôi chức Giám đốc kể từ ngày 25/6/2013” nhưng ông Dương vẫn chiếm giữ con dấu và không bàn giao lại cho Công ty. Do đó, đến nay, Công ty V.T chưa đòi lại được con dấu để làm thủ tục bổ nhiệm Giám đốc mới thay thế và làm thủ tục thay đổi đăng ký kinh doanh.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án căn cứ vào tình hình thực tế đã yêu cầu Công ty V.T tổ chức họp HĐTV để cử người đại diện Công ty tham gia tố tụng nhưng Công ty V.T không cử được. Do đó, căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký thay đổi lần thứ 3 ngày 03/6/2011 của Công ty V.T gồm 4 thành viên: Bà Lê Thị Hải, bà Lê Na, ông Nguyễn Văn Dương và ông Nguyễn Văn Trí, Tòa án đã xác định 04 thành viên là những người đồng đại diện của Công ty tham gia tố tụng là có căn cứ và không vi phạm thủ tục tố tụng.

Về nội dung:

Việc khởi kiện của ông Nguyễn Minh Trí và Nguyễn Văn Dương không được chấp nhận vì những lý do sau:

Thứ nhất, về vốn góp: Việc nhận chuyển nhượng vốn góp của ông Dương, ông Trí từ bà Hải đã được thực hiện theo đúng quy định tại Điều 44 Luật Doanh nghiệp năm 2005 (nay là Điều 53 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Ông Dương, ông Trí viện dẫn các quy định, thỏa thuận trong hợp đồng chuyển nhượng vốn góp để yêu cầu bà Hải trả lại các ông tiền vốn đã chuyển nhượng là không có cơ sở vì theo hợp đồng, ông Dương, ông Trí chỉ được nhận lại tiền chuyển nhượng khi bà Hải vi phạm các điều khoản trong hợp đồng.

Thứ hai, về tư cách thành viên Công ty: Trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng vốn góp, căn cứ Điều 26 Luật Doanh nghiệp năm 2005 (nay là Điều 32 Luật Doanh nghiệp năm 2014) bà Hải với tư cách Chủ tịch HĐTV - đại diện theo pháp luật của Công ty đã làm thông báo thay đổi doanh nghiệp gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh B. Ngày 03/6/2011, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh B cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 370062574 đăng ký thay đổi lần thứ 3. Theo đó, ông Dương, ông Trí đã trở thành thành viên Công ty V.T.

Thứ ba, sự định đoạt và sử dụng vốn góp: Ông Dương, ông Trí là thành viên của Công ty nên việc sử dụng và định đoạt phần vốn góp của ông Dương, ông Trí phải tuân thủ theo quy định tài Điều 41 đến 45 Luật Doanh nghiệp năm 2005 (nay là các Điều 50 đến 54 Luật Doanh nghiệp năm 2014) và theo Điều lệ Công ty.

Vì vậy, việc ông Trí, ông Dương đòi lại số tiền đã nhận chuyển nhượng từ bà Hải là không có cơ sở. Tòa án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm bác đơn khởi kiện của hai ông là có căn cứ.

Thanh Hằng

(Tổng hợp)

 


Ý KIẾN BẠN ĐỌC


Họ và tên
Nội dung góp ý
Mã xác thực :                     


CÁC TIN LIÊN QUAN ĐÃ ĐĂNG

Giải pháp tăng cường trách nhiệm, tính chủ động của Kiểm sát viên trong giải quyết án hình sự

Một số sai lầm cần tránh khi đề ra bản yêu cầu điều tra

Thông báo rút kinh nghiệm vụ án tranh chấp về yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu giữa ngân hàng E và Phòng công chứng

Một số lưu ý khi khám nghiệm hiện trường tai nạn giao thông đường bộ xảy ra ban đêm

Giải pháp hạn chế mức độ ẩn của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Một số kết quả công tác 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ trọng tâm công tác 6 tháng cuối năm 2018 của ngành KSND

Công tác tham mưu trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nhân dân

Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự

"Quyền im lặng" của bị cáo và những yêu cầu với Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự

Phân cấp quản lý, sử dụng tài sản công trong ngành Kiểm sát nhân dân

Số lần truy nhập 32383323
Số người đang xem: 1553