CÔNG TÁC KIỂM SÁT       Ngày 13/06/2019


 

VKSND tối cao hướng dẫn về kiểm sát hồ sơ xét miễn nghĩa vụ thi hành án

Vừa qua, VKSND tối cao ban hành Văn bản số 2415/VKSTC-V11 hướng dẫn một số nội dung liên quan đến việc kiểm sát hồ sơ xét miễn nghĩa vụ thi hành án đối với người bị kết án phạt tiền thuộc diện miễn chấp hành hình phạt theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.

Trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015, liên quan đến việc kiểm sát hồ sơ xét miễn nghĩa vụ thi hành án dân sự các đối tượng là người bị kết án phạt tiền thuộc diện được miễn chấp hành hình phạt tiền được quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 12 Nghị quyết trên của VKSND các cấp còn nhiều lúng túng, vướng mắc, chưa thống nhất.

Theo Văn bản số 2415/VKSTC-V11, sau khi trao đổi, thống nhất với các đơn vị có liên quan thuộc VKSND tối cao và Tổng cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp, VKSND tối cao (Vụ 11) hướng dẫn như sau:

Thứ nhất, cơ quan chủ trì thực hiện việc rà soát các đối tượng là người bị kết án phạt tiền thuộc diện miễn chấp hành hình phạt tiền (cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung) để ban hành văn bản đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét việc miễn:

Điểm d và điểm đ khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 quy định: “... trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt”.

Khoản 1 Điều 62 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 quy định về hồ sơ xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước: “Cơ quan Thi hành án dân sự lập hồ sơ đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án. Hồ sơ bao gồm các tài liệu sau: Văn bản đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án của Thủ trưởng cơ quan THADS hoặc của Viện trưởng Viện kiểm sát trong trường hợp đề nghị xét miễn, giảm khoản tiền phạt”.

Điểm e mục 3 Công văn số 256/TANDTC-PC ngày 31/7/2017 của TAND tối cao hướng dẫn thi hành khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 nêu trên: “Đối với người bị xử phạt bằng các hình thức khác đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, đang được hoãn chấp hành hình phạt hoặc chưa chấp hành hình phạt, thì Chánh án TAND cấp huyện, Chánh án Tòa án quân sự khu vực nơi người đó cư trú hoặc làm việc ra quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại hoặc miễn chấp hành toàn bộ hình phạt theo đề nghị của Viện trưởng VKSND cấp huyện, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự khu vực nơi người đó cư trú hoặc làm việc”.

Căn cứ các quy định nêu trên thì Viện kiểm sát là cơ quan chủ trì thực hiện việc rà soát các trường hợp người bị kết án phạt tiền thuộc diện miễn chấp hành hình phạt tiền, sau đó yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự lập hồ sơ đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét việc miễn chấp hành hình phạt đối với các trường hợp đó trên cơ sở yêu cầu của Viện trưởng Viện kiểm sát.

Riêng các vấn đề khác như trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trả lại tài sản, xử lý vật chứng, án phí, lệ phí Tòa án, tịch thu sung quỹ nhà nước... thì người được miễn chấp hành hình phạt tiền vẫn phải thi hành án.

Thứ hai, đối với những khoản tiền mà người bị kết án phạt tiền đã thi hành được một phần: Điểm d và điểm đ khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 quy định “... trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại ...”.

Quy định của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội nêu trên là thể hiện chính sách hình sự mới nhân đạo của Nhà nước, người phải thi hành án đã chấp hành được một phần hình phạt tiền thì sẽ được miễn phần hình phạt tiền còn lại và sẽ không được hoàn trả lại phần hình phạt tiền đã thi hành.

Xem toàn bộ Văn bản số 2415/VKSTC-V11 tại đây.

Hải Dương

 


Ý KIẾN BẠN ĐỌC


Họ và tên
Nội dung góp ý
Mã xác thực :                     


CÁC TIN LIÊN QUAN ĐÃ ĐĂNG

Những vấn đề cần lưu ý trong việc giải quyết các vụ án ma túy

Một số trao đổi về nhiệm vụ công tác của bộ phận thụ lý án hình sự trong ngành Kiểm sát nhân dân

Thông báo rút kinh nghiệm vụ án “Tranh chấp đòi lại đất cho ở nhờ”

Xác định lãi phạt chậm trả trong hợp đồng tín dụng còn nhiều vướng mắc, bất cập

Triển khai Tháng hành động phòng, chống ma túy năm 2019

Vướng mắc về áp dụng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường hiệt hại hoặc khắc phục hậu quả”

Quy định viện dẫn và việc xác định cấu thành tội phạm của Bộ luật Hình sự còn nhiều bất cập

Thông báo rút kinh nghiệm vụ án “Tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn”

Ban hành Quy định về tiếp nhận, phân loại, thụ lý, xử lý và giải quyết đơn đề nghị xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm

Những vướng mắc từ thực tiễn trong việc xử lý đối với vật chứng là vũ khí quân dụng, vật liệu nổ công nghiệp

Số lần truy nhập 38925814
Số người đang xem: 1889