TÌM KIẾM VĂN BẢN PHÁP LUẬT


VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

TỐI CAO

 

Số: 13/HD-VKSTC

CỘNG H̉ÒA XĂ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Hà Nội, ngày 24 tháng  01 năm 2019

 

 

 

 

 

 

 

HƯỚNG DẪN

Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra,

kiểm sát xét xử sơ thẩm án an ninh năm 2019

 

Thực hiện Chỉ thị số 01/CT-VKSTC ngày 28/12/2018 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác của ngành Kiểm sát nhân dân năm 2019 và Kế hoạch số 01/KH-VKSTC ngày 01/01/2019 về công tác trọng tâm của Viện kiểm sát nhân dân tối cao năm 2019, Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án An ninh (Vụ 1) hướng dẫn Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Viện kiểm sát cấp tỉnh) một số nội dung trọng tâm công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử sơ thẩm (THQCT, KSĐT và KSXXST) các vụ án do Cơ quan An ninh điều tra (ANĐT) thụ lý điều tra cụ thể như sau:

1. Quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, của Quốc hội về công tác tư pháp; các chỉ thị công tác của Viện trưởng VKSND tối cao và Kế hoạch trọng tâm của VKSND tối cao năm 2019

 - Viện trưởng VKSND cấp tỉnh tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm các nội dung Nghị quyết Trung ương khóa XII về công tác tư pháp; Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 về “tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49/-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”; Kết luận số 05-KL/TW ngày 15/7/2016 về “tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị số 48-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới”; Chỉ thị số 26-CT/TW ngày 09/11/2018 của Bộ Chính trị (thay thế Chỉ thị số 15-CT/TW ngày 07/7/2007 của Bộ Chính trị về sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác điều tra, xử lý các vụ án và công tác bảo vệ Đảng); các Nghị quyết của Quốc hội về công tác tư pháp (Nghị quyết số 37, 63, 96, 111 của Quốc hội khóa 13, Nghị quyết số 41 của Quốc hội khóa 14).

- Tiếp tục thực hiện nghiêm các quy định của BLHS năm 2015, BLTTHS năm 2015, Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự; xác định rõ thẩm quyền điều tra, thẩm quyền giải quyết các vụ việc thuộc trách nhiệm của Cơ quan ANĐT; các quy định mới theo Luật quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017 liên quan đến việc giải quyết các vụ việc về vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ quy định tại các điều 304,305,306 BLHS năm 2015.

- Phối hợp với Vụ 1 VKSND tối cao thực hiện các nhiệm vụ Viện trưởng VKSND tối cao giao trong Kế hoạch công tác trọng tâm năm 2019 của VKSND tối cao, cụ thể:

+ Tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn Ngành về chuyên đề: “Thực trạng, giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả bản yêu cầu điều tra khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự”.

+ Xây dựng Chuyên đề “Thực trạng, giải pháp và những bài học kinh nghiệm rút ra qua công tác giải quyết tội phạm an ninh quốc gia trên địa bàn cả nước trong 02 năm 2017-2018”

+ Quản lý chuyên đề áp dụng các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam trong các giai đoạn điều tra, truy tố; định kỳ hàng Quý, 6 tháng, một năm xây dựng báo cáo phục vụ Viện trưởng Viện KSND tối cao báo cáo Quốc hội, phục vụ sơ kết, tổng kết công tác của Ngành và ban hành thông báo rút kinh nghiệm.

2. Công tác THQCT, kiểm sát nguồn tin về tội phạm, KSĐT, KSXX sơ thẩm các vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan An ninh điều tra

2.1. Quản lý tình hình vi phạm, tội phạm

Áp dụng hiệu quả các biện pháp để nắm chắc, quản lý, theo dõi tình hình vi phạm, tội phạm về an ninh quốc gia, các vụ việc về tiền giả, vũ khí, vật liệu nổ, làm lộ bí mật Nhà nước, xuất cảnh trái phép, tổ chức người khác trốn đi nước ngoài,...; phối hợp chặt chẽ với Cơ quan ANĐT và các cơ quan chức năng xử lý kịp thời, đúng pháp luật các vụ việc thuộc thẩm quyền, tránh để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, chống phá Đảng và Nhà nước.

Các thành phố trực thuộc Trung ương, các tỉnh có chung đường biên giới với nước ngoài, các địa phương tập trung nhiều khu công nghiệp, địa phương tiềm ẩn nguy cơ xảy ra điểm nóng, địa phương đã và đang xảy ra những vấn đề phức tạp về tôn giáo, an ninh nông thôn,...chú ý quản lý, theo dõi các vụ việc lợi dụng dân chủ, nhân quyền, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội,...để thực hiện các hành vi kêu gọi/tổ chức biểu tình trái phép, phá rối an ninh, hủy hoại tài sản, tuyên truyền xuyên tạc, hoạt động gián điệp, xâm phạm an ninh biên giới, buôn bán tiền giả, vũ khí, vật liệu nổ,...

Thông qua công tác, chủ động tham mưu, xin ý kiến chỉ đạo của Cấp ủy, lãnh đạo VKSND tối cao và phối hợp với chính quyền địa phương trong quá trình xử lý các vụ việc về an ninh, vụ việc khác được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm. Tăng cường kiến nghị các biện pháp phòng ngừa vi phạm, tội phạm theo quy định của pháp luật.

2.2. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

- Viện trưởng VKSND cấp tỉnh trực tiếp chỉ đạo công tác THQCT và kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; áp dụng đồng bộ các biện pháp để chống oan sai, bỏ lọt tội phạm ngay từ giai đoạn này; ban hành, thực hiện các cơ chế phối hợp để thực hiện đúng, hiệu quả chức năng, nhiệm vụ kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố; thực hiện nghiêm quy định mới của Bộ luật TTHS năm 2015 trong công tác THQCT, kiểm sát nguồn tin về tội phạm; quản lý, giám sát chặt chẽ việc thụ lý, tiến độ, kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm.

- Kiểm sát viên được phân công áp dụng đúng quy định của pháp luật, thực hiện nghiêm các thao tác nghiệp vụ, kiểm sát 100% các tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan ANĐT và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Kiên quyết yêu cầu khởi tố, ra quyết định khởi tố, hủy bỏ quyết định khởi tố/không khởi tố không có căn cứ, trái quy định của pháp luật của Cơ quan điều tra; việc tạm đình chỉ, phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố phải có căn cứ, đúng pháp luật; đảm bảo tỷ lệ giải quyết, các cuộc kiểm sát trực tiếp việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đạt chỉ tiêu nghiệp vụ của Ngành.

- Chủ động phối hợp, yêu cầu Cơ quan ANĐT thụ lý giải quyết các tin báo tội phạm phát hiện qua phương tiện thông tin đại chúng, các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia xảy ra trên không gian mạng Internet (nhất là sau khi Luật an ninh mạng có hiệu lực từ 01/01/2019). Đối với các địa phương có đường biên giới, cửa khẩu, Viện kiểm sát (VKS) chủ động phối hợp để nắm thông tin, thực hiện chức năng kiểm sát, chú ý các vụ gián điệp, xâm phạm an ninh biên giới, buôn bán, lưu hành tiền giả, vũ khí, vật liệu nổ, làm lộ bí mật Nhà nước, xuất/nhập cảnh trái phép, tổ chức người khác trốn đi nước ngoài,...;

- Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm của các Phòng nghiệp vụ An ninh Công an tỉnh được giao một số hoạt động điều tra ban đầu.

Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố khi phát hiện có vi pháp pháp luật nghiêm trọng hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà VKS đã yêu cầu nhưng không được khắc phục; thông qua công tác, tổng hợp vi phạm để kiến nghị, kháng nghị yêu cầu khắc phục.

- Đảm bảo yêu cầu pháp luật và chính trị trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm. Khi giải quyết các vụ việc về an ninh quốc gia; vụ việc liên quan đến chính sách dân tộc, tôn giáo, quan hệ đối ngoại; vụ việc được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm, thì phối hợp liên ngành thống nhất biện pháp giải quyết, khi cần thiết phải báo cáo xin ý kiến Cấp ủy địa phương và lãnh đạo VKSND tối cao, thực hiện cơ chế thỉnh thị theo Quy chế của Ngành.

2.3. Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm

- Tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm Chỉ thị số 06/CT-VKSTC ngày 06/12/2013 của Viện trưởng VKSND tối cao về “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm”, Chỉ thị số 04/CT-VKSTC ngày 10/7/2015 của Viện trưởng Viện KSND tối cao về “Tăng cường các biện pháp phòng chống oan sai và nâng cao trách nhiệm trong giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự”. Chỉ đạo các đơn vị áp dụng đồng bộ các giải pháp để nâng cao hơn nữa chất lượng công tác, phấn đấu đạt và vượt các chỉ tiêu nghiệp vụ của Ngành, của Quốc hội giao.

- Đề cao trách nhiệm, bám sát, nắm chắc quá trình điều tra; chủ động,kịp thời đề ra yêu cầu điều tra có chất lượng để Cơ quan điều tra tiến hành điều tra đúng hướng, toàn diện. Tăng cường bản lĩnh nghề nghiệp, kiên quyết thực hiện đúng quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS; bảo đảm các quyết định, phê chuẩn của VKS có căn cứ, đúng pháp luật. Tăng cường kiểm sát việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can nhằm tránh oan, sai, chống bỏ lọt tội phạm. Phối hợp với Cơ quan ANĐT đẩy nhanh tiến độ điều tra các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia, các vụ án nhạy cảm về chính trị được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm. Nâng cao chất lượng, tỷ lệ giải quyết án; hạn chế việc gia hạn thời hạn điều tra; giảm tỷ lệ án trả hồ sơ điều tra bổ sung, án bị hủy để điều tra lại có lỗi của Kiểm sát viên. Không để xảy ra trường hợp phải đình chỉ điều tra do bị can không phạm tội, đình chỉ điều tra trái pháp luật dẫn đến bỏ lọt tội phạm hoặc VKS truy tố, Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội. Viện trưởng VKSND cấp tỉnh phải quản lý chặt chẽ, đánh giá từng vụ án, bị can đình chỉ điều tra do không phạm tội, đình chỉ miễn trách nhiệm hình sự; đối với những vụ án có dấu hiệu oan sai, Viện trưởng phải trực tiếp chỉ đạo giải quyết.

Đối với các vụ án về tham nhũng, kinh tế do Cơ quan ANĐT cấp tỉnh thụ lý giải quyết cần chủ động đề ra các yêu cầu xác minh, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản… để thu hồi tối đa tài sản cho Nhà nước; đồng thời phối hợp chặt chẽ, đôn đốc Cơ quan điều tra thực hiện.

- Kiểm sát viên phải xây dựng kế hoạch kiểm sát điều tra; trường hợp vụ án có nhiều Kiểm sát viên tham gia, phải phân công nhiệm vụ cụ thể, dự kiến các hoạt động của VKS tác động đến hoạt động điều tra, thời gian thực hiện đối với từng thành viên. Lãnh đạo đơn vị thường xuyên kiểm tra tiến độ thực hiện để đôn đốc, nhắc nhở, giải quyết các khó khăn, vướng mắc. Kiểm sát viên tham gia 100% các hoạt động khám xét, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, thực nghiệm điều tra theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2015. Tăng cường trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra của VKS theo quy định của pháp luật, nhất là hoạt động hỏi cung, lấy lời khai; đặc biệt là các vụ án về an ninh chính trị, các trường hợp khi xét phê chuẩn lệnh, quyết định của CQĐT thấy tài liệu, chứng cứ chưa bảo đảm; có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, quá trình điều tra có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc khi quyết định truy tố thấy tài liệu, chứng cứ chưa vững chắc.

- Thực hiện nghiêm quy định tại khoản 5, Điều 88 Bộ luật TTHS năm 2015, yêu cầu CQĐT chuyển đầy đủ, đúng thời hạn các tài liệu điều tra cho VKS; Kiểm sát viên phải nghiêm túc thực hiện việc đóng dấu bút lục, sao lưu các tài liệu đó theo đúng quy định. Xây dựng hồ sơ kiểm sát đúng quy định của Viện trưởng VKSND tối cao. Việc xây dựng cáo trạng, văn bản pháp lý khác trong các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia cần lưu ý viết ngắn gọn, tránh phân tích dài dòng, hạn chế trích dẫn nguyên văn các nội dung của kết luận giám định, nội dung tài liệu bí mật Nhà nước, tránh việc các đối tượng lợi dụng để tuyên truyền, xuyên tạc tại phiên tòa.

- Kiểm sát chặt chẽ việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2015; không để xảy ra việc lạm dụng biện pháp bắt, giam, giữ. Quản lý chặt chẽ thời hạn điều tra, truy tố, tạm giữ, tạm giam; không để xảy ra việc quá hạn tạm giữ, tạm giam hoặc tạm giữ, tạm giam không có lệnh. Tuyệt đối không để xảy ra vi phạm Điều 377 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Quản lý và kiểm sát chặt chẽ các vụ án, bị can đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra. Viện trưởng trực tiếp xem xét, quyết định các trường hợp đình chỉ điều tra do không phạm tội, đình chỉ điều tra miễn trách nhiệm hình sự; các vụ án, bị can đã tạm đình chỉ điều tra phải được phục hồi điều tra ngay sau khi có căn cứ. Thực hiện nghiêm Chỉ thị số 06/CT-VKSTC ngày 02/10/2017 của Viện trưởng VKSND tối cao về tăng cường trách nhiệm của VKSND trong việc theo dõi, quản lý, giải quyết các vụ án hình sự tạm đình chỉ.

Đối với các vụ án về vũ khí, vật liệu nổ đã khởi tố theo BLHS năm 1999 đang có vướng mắc (nhất là vũ khí tự chế), trong khi chờ cơ quan chức năng hướng dẫn thực hiện, VKS phối hợp với cơ quan tố tụng địa phương quyết định giải quyết theo thẩm quyền, thực hiện hướng dẫn của Vụ 1 VKSND tối cao tại Công văn số 3498/VKSTC-V1 ngày 21/8/2018 về giải quyết các vụ án liên quan đến vũ khí quân dụng; trường hợp cần thiết, thì thỉnh thị VKSND tối cao (Vụ 1) theo Quy chế của Ngành.

- Tăng cường phối hợp liên ngành trong công tác giải quyết án. Chủ động báo cáo, tham mưu Cấp ủy địa phương chỉ đạo đường lối giải quyết các vụ án an ninh theo Chỉ thị  số 26 của Bộ Chính trị; đảm bảo việc giải quyết đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, không để xảy ra vi phạm, sai sót để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, kích động, ảnh hưởng đến uy tín của ngành Kiểm sát. Quá trình giải quyết vụ án, phải làm rõ hành vi, động cơ, mục đích phạm tội; thế lực đứng sau chỉ đạo, cung cấp tiền, phương tiện; chủ động yêu cầu giám định tài liệu, thu thập chứng cứ vật chất (tài liệu, dữ liệu điện tử,...) để chứng minh tội phạm; nghiên cứu kỹ hồ sơ, thống nhất việc khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn (diện, đối tượng,...).

Đối với các vụ án có yếu tố nước ngoài, cần nghiên cứu, thực hiện và yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện đúng những quy định tại các Công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia, các quy định của pháp luật Việt Nam về việc giải quyết các vụ án có yếu tố nước ngoài, không để xảy ra sai sót, vi phạm dẫn đến khiếu kiện Nhà nước Việt Nam. Trường hợp cần tương trợ tư pháp thì thực hiện theo nội dung, quy trình, thủ tục tương trợ tư pháp về hình sự; nội dung yêu cầu tương trợ tư pháp phải cụ thể, rõ ràng, phục vụ tốt việc giải quyết vụ án.

- Việc truy tố phải đảm bảo đúng thời hạn, tội danh, khung hình phạt, không truy tố oan, sai, bỏ lọt tội phạm. Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn truy tố phải thực hiện đúng quy định tại khoản 1, Điều 236 Bộ luật TTHS năm 2015, không để xảy ra sai sót dẫn đến xâm phạm quyền con người, quyền công dân, nhất là với các đối tượng có nhân thân đặc biệt (người nước ngoài, nhân sỹ, trí thức, chức sắc tôn giáo,...). Trường hợp cần thiết, trước khi truy tố, Viện kiểm sát phối hợp với cơ quan tố tụng địa phương báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo của Cấp ủy đại phương và lãnh đạo VKSND tối cao.

- Tăng cường chỉ đạo công tác THQCT, KSXX sơ thẩm vụ án. Kiểm sát viên được phân công phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, quy trình nghiệp vụ; chuẩn bị kỹ dự thảo luận tội, đề cương thẩm vấn, dự kiến tình huống tranh tụng tại phiên tòa để thực hiện đúng, đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong công tác này. Khi xét xử các vụ án về an ninh, Viện kiểm sát chủ động phối hợp với cơ quan Công an, Tòa án để chuẩn bị tốt Kế hoạch xét xử, lựa chọn thời điểm xét xử, đáp ứng yêu cầu pháp luật và chính trị. Trước khi tham gia phiên tòa, Kiểm sát viên báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Viện. Thông qua việc việc xét xử tại phiên tòa, Kiểm sát viên làm rõ nội dung  cáo trạng truy tố, phản bác lại luận điệu tuyên truyền chống Nhà nước (nếu có), phát huy tính giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm. Sau khi xét xử phải kiểm sát chặt chẽ bản án để kiến nghị, kháng nghị khi có căn cứ.

Đối với các vụ án do Vụ 1 VKSND tối cao phân công Viện kiểm sát cấp dưới THQCT và KSXX sơ thẩm, Lãnh đạo VKS địa phương phải có ý kiến thống nhất với Lãnh đạo Vụ 1 về đường lối xét xử. Kiểm sát viên cấp tỉnh được phân công phối hợp với Kiểm sát viên được VKSND tối cao biệt phái chuẩn bị kỹ hồ sơ, tài liệu, xây dựng kế hoạch xét hỏi, tranh tụng. Lãnh đạo Vụ, lãnh đạo VKS địa phương phối hợp chỉ đạo, kiểm tra việc Kiểm sát viên xây dựng kế hoạch xét hỏi, tranh tụng, nhất là những vụ án bị cáo kêu oan, vụ án có nhiều bị cáo, phạm nhiều tội, có nhiều người bào chữa, coi đây là giải pháp quan trọng đảm bảo giải quyết tốt vụ án trong quá trình xét xử, nâng cao trách nhiệm, năng lực, trình độ của Kiểm sát viên.

- Thông qua công tác kiểm sát, tăng cường kiến nghị khắc phục vi phạm trong quá trình tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và quá trình điều tra của Cơ quan ANĐT, quá trình xét xử của Tòa án. Tổng hợp vi phạm pháp luật, sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý nhà nước; tìm ra nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm để kiến nghị phòng ngừa. Trong đó, chú trọng kiến nghị phòng ngừa việc để lộ lọt những thông tin, tài liệu mật liên quan đến an ninh quốc gia; những thiếu sót trong quá trình quản lý, xử lý vụ việc để các thế lực thù địch lợi dụng, kích động chống đối; những vi phạm trong công tác quản lý làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an toàn xã hội; những lĩnh vực dễ phát sinh tội phạm tham nhũng.

3. Công tác quản lý, hướng dẫn, chỉ đạo và kiểm tra nghiệp vụ đối với Viện kiểm sát cấp huyện

Chỉ đạo VKS cấp huyện phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng nắm chắc diễn biến tình hình an ninh chính trị trên địa bàn. Yêu cầu VKS cấp huyện thực hiện nghiêm chế độ báo cáo theo quy định của Ngành để chỉ đạo kịp thời. Tăng cường trả lời thỉnh thị, hướng dẫn nghiệp vụ, kiểm tra văn bản pháp lý của VKS cấp huyện. Đối với những vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, dư luận xã hội quan tâm hoặc có nguy cơ xảy ra điểm nóng, Lãnh đạo VKS cấp tỉnh trực tiếp hướng dẫn, chỉ đạo giải quyết.

Thông qua công tác hướng dẫn, chỉ đạo VKS cấp huyện, Phòng nghiệp vụ kịp thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc, những vi phạm, thiếu sót trong công tác nghiệp vụ để ban hành văn bản hướng dẫn, thông báo rút kinh nghiệm hoặc tham mưu cho Lãnh đạo VKS cấp tỉnh đánh giá nguyên nhân, tổng kết thực tiễn để tổ chức tập huấn chuyên sâu; tham mưu kiểm tra nghiệp vụ theo kế hoạch của Phòng, của VKSND tỉnh, bảo đảm chất lượng trong công tác kiểm tra nghiệp vụ.

4. Chế độ thông tin, báo cáo

- Chấp hành nghiêm chế độ thông tin, báo cáo theo Quyết định số 279/QĐ-VKSTC ngày 01/8/2017 của Viện trưởng VKSND tối cao về chế độ thông tin, báo cáo và quản lý công tác trong ngành Kiểm sát nhân dân. Hàng tháng, VKSND cấp tỉnh phải báo cáo đầy đủ, kịp thời số lượng các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia và các vụ án về tội phạm khác do Cơ quan ANĐT Công an cấp tỉnh thụ lý điều tra. Khi báo cáo tổng hợp gửi về Vụ 1, cần tách số liệu các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia và các vụ án về tội phạm khác để Vụ 1 theo dõi, quản lý, kịp thời báo cáo Lãnh đạo VKSND tối cao.

- VKSND cấp tỉnh chủ động thực hiện, phối hợp với Vụ 1 VKSND tối cao để thực hiện các nhiệm vụ được giao trong Kế hoạch công tác trọng tâm năm 2019 (đã nêu ở Mục 1 Hướng dẫn này) ; Vụ 1 sẽ có kế hoạch cụ thể đối với từng nhiệm vụ để triển khai thực hiện trong toàn Ngành.

5. Tổ chức thực hiện

Trên cơ sở Chỉ thị số 01/CT-VKSTC ngày 28/12/2018 về công tác của ngành Kiểm sát nhân dân năm 2019, Kế hoạch số 01/KH-VKSTC ngày   01/01/2019 của Viện trưởng VKSND tối cao về nhiệm vụ công tác trọng tâm năm 2019 và Hướng dẫn này, Phòng nghiệp vụ Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh xây dựng Chương trình công tác của đơn vị mình, hướng dẫn VKS cấp huyện để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. Trong quá trình tổ chức thực hiện, nếu có khó khăn vướng mắc, đề nghị báo cáo kịp thời về VKSND tối cao (Vụ 1) để chỉ đạo giải quyết./.     

 

 Nơi nhận:

- Đ/c Viện trưởng VKSNDTC (để báo cáo);

- Đ/c Bùi Mạnh Cường, PVT (để báo cáo);

- VKSND các tỉnh, TP trực thuộc TW

  (để thực hiện);

- Văn phòng VKSND tối cao (để theo dõi);

- Các đ/c Lănh đạo Vụ;

- Các Phòng thuộc Vụ;

- Lưu VT, P1+P3 (Vụ 1).    

 TL.VIỆN TRƯỞNG

VỤ TRƯỞNG VỤ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA ÁN AN NINH

 

 

(Đã ký)

 

 

Lê Đức Xuân

 

Phụ lục kèm theo tải về tại đây

 

 

 

 

 

 

 

Số lần truy nhập 42518569
Số người đang xem: 3190