VKSND tối cao trả lời kiến nghị cử tri

gửi trước kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV

 

1. Cử tri tỉnh Bắc Giang kiến nghị: Đề nghị các cơ quan chức năng xem xét, quy định thời hạn cụ thể mà Cơ quan điều tra bắt buộc phải ban hành quyết định trưng cầu giám định đối với nạn nhân bị xâm hại tình dục là 24 giờ (1 ngày) sau khi bị xâm hại; nhiều nhất là không để quá 72 giờ (3 ngày) theo khuyến cáo tại một số tài liệu chuyên sâu về lĩnh vực này. Thực tế hiện nay, vẫn căn cứ vào thời hạn điều tra nói chung của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Cụ thể: thời hạn điều tra không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng; không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng; không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng) là không phù hợp với các vụ việc về xâm hại tình dục.

Cần ban hành quy định cụ thể về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc đảm bảo không làm lộ lọt thông tin vụ việc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, danh dự, nhân phẩm cho nạn nhân.

Trả lời: Tại Văn bản số 48/VKSTC-V14 ngày 06/01/2020

1.1. Về kiến nghị liên quan đến trình tự, thủ tục giải quyết (trưng cầu giám định) gắn với loại việc cụ thể: pháp luật tố tụng hình sự không thể quy định trình tự, thủ tục riêng cho từng loại việc cụ thể, trong đó có các vụ việc, vụ án về xâm hại tình dục. Hơn nữa, trong nhiều trường hợp khi bị hại hoặc gia đình của bị hại đến tố giác, báo tin về tội phạm thì cũng đã quá thời điểm 24 giờ hoặc 72 giờ kể từ khi bị xâm hại. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tối cao sẽ lưu ý kiến nghị nêu trên của cử tri để tham gia ý kiến trong quá trình sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật có liên quan, có thể tính đến tính đặc thù trong việc giải quyết từng vụ án, vụ việc cụ thể, bảo đảm tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của con người, công dân.

1.2. Về kiến nghị ban hành quy định cụ thể về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc bảo đảm không làm lộ lọt thông tin vụ việc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, danh dự, nhân phâm cho nạn nhân: nạn nhân của những vụ việc xâm hại tình dục thường bị tổn thương không chỉ về thể chất mà còn cả về tinh thần, bị ám ảnh, sợ hãi, kỳ thị, đặc biệt là trẻ em gái nhỏ tuổi rất khó hòa nhập lại với cộng đồng; do đó những đối tượng này cần được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, giữ kín bí mật thông tin; quá trình giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em còn phải bảo đảm các quyền của trẻ em, người dưới 18 tuổi theo nguyên tắc “bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới l8 tuổi”. Pháp luật Việt Nam đã có nhiều quy định nhằm bảo đảm không làm lộ lọt thông tin vụ việc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, danh dự, nhân phẩm cho nạn nhân như các quy định mang tính nguyên tắc tại các điều 8, 11, 12 và 25 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng đã quy định “trường hợp cần giữ bí mật điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải yêu cầu người tham gia tố tụng không được tiết lộ bí mật điều tra”; “trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu của người tham gia tố tụng hoặc tự xét thấy cần thiết thì Hội đồng xét xử không công bố tài liệu có trong hồ sơ vụ án”.... Đặc biệt, lần đầu tiên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung quy định về việc bảo vệ người làm chứng, bị hại; theo đó, các biện pháp bảo vệ bao gồm: (1) Bố trí lực lượng, tiến hành các biện pháp nghiệp vụ, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ và các phương tiện khác để canh gác, bảo vệ; (2) Hạn chế việc đi lại, tiếp xúc của người được bảo vệ để bảo đảm an toàn cho họ; (3) Giữ bí mật và yêu cầu người khác giữ bí mật các thông tin liên quan đến người được bảo vệ; (4) Di chuyển, giữ bí mật chỗ ở, nơi làm việc, học tập; thay đổi tung tích, lý lịch, đặc điểm nhân dạng của người được bảo vệ, nếu được họ đồng ý; (5) Răn đe, cảnh cáo, vô hiệu hóa các hành vi xâm hại người được bảo vệ; ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi xâm hại theo quy định của pháp luật; (6) Các biện pháp bảo vệ khác theo quy định của pháp luật. Trong quá trình tiến hành tố tụng, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh thực hiện quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về hành vi, quyết định của mình. Người vi phạm pháp luật trong việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.

 

2. Cử tri tỉnh Hải Dương kiến nghị: Cử tri phản ánh về việc: thời gian qua tình trạng oan sai trong tố tụng hình sự ở Việt Nam ở mức đáng lo ngại; trên cả nước để xảy ra rất nhiều vụ án oan sai gây hậu quả nghiêm trọng; tình trạng tham ô, tham nhũng, vi phạm pháp luật đang diễn ra khá phổ biến. Do vậy, cử tri đề nghị tập trung, quyết liệt chỉ đạo các cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động các cơ quan tư pháp trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; phòng, chống oan, sai; trong hoạt động tố tụng hình sự; phòng chống vi phạm pháp luật và tội phạm; trong công tác của Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và công tác thi hành án...

Trả lời: Tại Văn bản số 49/VKSTC-V14 ngày 06/01/2020

Thời gian qua, công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; phòng, chống oan, sai trong hoạt động tố tụng hình sự được ngành Kiểm sát xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng nhất. Với nhận thức đó, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã, đang triển khai nhiều biện pháp để thực hiện tốt nhất nhiệm vụ này và thực tế đã đạt những kết quả đáng kể, nhất là sau khi Quốc hội ban hành Nghị quyết 37/2012/QH13 ngày 23/11/2012 về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án năm 2013 và Nghị quyết số 63/2013/QH13 ngày 27/11/2013 về tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Theo quy định của pháp luật thì việc để xảy ra oan, sai xảy ra ở bất kỳ giai đoạn nào trong quá trình tố tụng hình sự đều có liên quan đến trách nhiệm của Viện kiểm sát. Do vậy, trong năm 2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Hướng dẫn số 32/HD-VKSTC ngày 13/9/2019 hướng dẫn về công tác quản lý các trường hợp Viện kiểm sát truy tố, Tòa án xét xử tuyên bị cáo không phạm tội nhằm quản lý đầy đủ, xử lý kịp thời, đúng quy định của pháp luật các trường hợp Viện kiểm sát truy tố, Tòa án xét xử tuyên bị cáo không phạm tội, làm rõ nguyên nhân, xem xét và xử lý trách nhiệm đối với cá nhân, tập thể để xảy ra do lỗi chủ quan; phân tích, đánh giá các trường hợp Viện kiểm sát truy tố, Tòa án xét xử tuyên bị cáo không phạm tội để kháng nghị những trường hợp Tòa án xét xử không có căn cứ, rút kinh nghiệm nghiệp vụ và có biện pháp khắc phục, chấn chỉnh, phòng ngừa.

 

3. Cử tri tỉnh Tiền Giang kiến nghị: Kiến nghị nghiên cứu trình Quốc hội xem xét sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành theo hướng xử lý nghiêm các trường hợp lạm dụng và xâm hại tình dục trẻ em. Bởi, hiện nay, tình trạng này có chiều hướng gia tăng trong xã hội, tội phạm chủ yếu là người có mối quan hệ thân quen với nạn nhân và gia đình nạn nhân. Hậu quả để lại từ các vụ xâm hại này là rất nặng nề, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển tâm sinh lý của đứa trẻ sau này.

Trả lời: Tại Văn bản số 50 /VKSTC-V14 ngày 06/01/2020

Bộ luật Tố tụng hình sự chỉ quy định về trình tự, thủ tục trong tố tụng hình sự, việc xử lý hành vi phạm tội được quy định tại Bộ luật Hình sự. Do vậy, để xử lý nghiêm các trường hợp như phản ánh của cử tri thì cần xem xét sửa đổi các quy định của Bộ luật Hình sự.

Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cũng đã có nhiều sửa đổi, bổ sung liên quan đến việc xử lý các hành vi lạm dụng, xâm hại tình dục trẻ em. Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các điều 141, 142, 143, 144, 145, 146 và 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi đã quy định 03 nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội xâm hại tình dục gồm: (1) Tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự; (2) Áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm luân thường, đạo đức; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; lợi dụng nghề nghiệp, công việc; xâm hại người dưới 13 tuổi; (3) Áp dụng các hình phạt bổ sung cao nhất theo quy định của Bộ luật Hình sự và các đạo luật khác có liên quan. Trong trường hợp cần thiết có thể cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề liên quan đến người dưới 16 tuổi. Qua đó cũng đã góp phần nâng cao nhận thức của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc xử lý nghiêm các trường hợp lạm dụng và xâm hại tình dục trẻ em.

 

4. Cử tri TP. Hồ Chí Minh kiến nghị: Kiến nghị nghiên cứu, xem xét trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 60 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 theo định hướng mở rộng phạm vi ủy quyền cụ thể là người bị kiện là cơ quan, tổ chức hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức thì người bị kiện có thể ủy quyền cho cấp phó của mình hay trưởng các phòng, ban chuyên môn hoặc cán bộ, công chức trực tiếp tham mưu, xử lý vụ việc để tham gia tố tụng, bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giữa các đương sự khi tham gia tố tụng hành chính.

Trả lời: Tại Văn bản số 51/VKSTC-V14 ngày 06/01/2020

Khoản 3 Điều 60 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định:

“…Trường hợp người bị kiện là cơ quan, tổ chức hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức thì người bị kiện chỉ được ủy quyền cho cấp phó của mình đại diện. Người được ủy quyền phải tham gia vào quá trình giải quyết toàn bộ vụ án, thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người bị kiện theo quy định của Luật này”.

Quy định tại khoản 3 Điều 60 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 nhằm giải quyết vướng mắc của thực tế trong giải quyết các vụ án hành chính, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp là người bị kiện không ra tòa với tư cách của mình mà đều có văn bản ủy quyền cho cấp phó của mình (Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân) tham gia tố tụng hành chính, nhưng cấp phó cũng lại không tham gia tố tụng và có văn bản xin được xét xử vắng mặt, đa phần họ đều lấy lý do bận công việc, có trường hợp văn bản xin vắng mặt tất cả các buổi làm việc của Tòa án. Việc xin xét xử vắng mặt như vậy đã gây khó khăn rất nhiều cho công tác giải quyết án (như không làm rõ được các nội dung liên qua đến việc khởi kiện, không đối thoại trực tiếp để thỏa thuận được và trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện cũng phải được sự đồng ý của người bị kiện…); đó là những nguyên nhân gây kéo dài thời gian giải quyết vụ án và gây tốn kém thời gian, công sức và các chi phí cho việc giải quyết. Do đó, quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 nhằm giải quyết vướng mắc này trong thực tiễn.

Tuy nhiên, qua 03 năm thi hành Luật Tố tụng hành chính năm 2015, cử tri nhận thấy nội dung về ủy quyền trong tố tụng hành chính này còn nhiều vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, cần phải được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tối cao sẽ lưu ý kiến nghị nêu trên của cử tri để đề xuất cơ quan có thẩm quyền trong quá trình sửa đổi, bổ sung. Trường hợp cần thiết, cử tri có thể kiến nghị trực tiếp nội dung này đến Tòa án nhân dân tối cao.

 

5. Cử tri TP. Hồ Chí Minh kiến nghị: Kiến nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng thống nhất ở Tòa án nhân dân các cấp và Viện kiểm sát nhân dân các cấp về việc không yêu cầu cung cấp Phiếu Lý lịch tư pháp đối với cán bộ, công chức tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện trong các vụ án hành chính.

Trả lời: Tại Văn bản số 51/VKSTC-V14 ngày 06/01/2020

Cử tri thành phố Hồ Chí Minh cũng đã kiến nghị nội dung này và Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã có trả lời rõ tại Công văn số 3365/VKSTC-V14 ngày 13/8/2018 về việc trả lời kiến nghị của cử tri gửi tới Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIV, theo đó, nội dung kiến nghị đã được quy định cụ thể, rõ ràng tại điểm c khoản 2 Điều 61 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, cụ thể: (1) Cán bộ, công chức trong các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát, Thanh tra, Thi hành án; công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan trong ngành Công an không được làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong các vụ án hành chính; (2) Công dân Việt Nam (bao gồm cả cán bộ, công chức không thuộc trường hợp nêu trên) khi có đủ 04 điều kiện: (i) có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, (ii) có kiến thức pháp lý, (iii) chưa bị kết án hoặc bị kết án nhưng đã được xóa án tích, (iv) không thuộc trường hợp đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, thì được làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong các vụ án hành chính khi có yêu cầu của đương sự. Do đó, khi Tòa án nhân dân các cấp yêu cầu cán bộ, công chức tham gia tố tụng hành chính với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cung cấp Phiếu lý lịch tư pháp thì họ phải có nghĩa vụ cung cấp cho Tòa án nhân dân các cấp để làm cơ sở cho Tòa án xác định có đủ điều kiện làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong các vụ án hành chính hay không.

Viện kiểm sát nhân dân không có thẩm quyền hướng dẫn áp dụng thống nhất về việc không yêu cầu cung cấp Phiếu Lý lịch tư pháp trong các vụ án hành chính theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính. Trường hợp cần thiết, cử tri có thể kiến nghị trực tiếp nội dung này đến Tòa án nhân dân tối cao.

 

6. Cử tri tri TP. Hồ Chí Minh kiến nghị: Kiến nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành văn bản hướng dẫn hướng dẫn cho phép cán bộ, công chức công tác trong ngành thanh tra (bao gồm thanh tra nhà nước và thanh tra chuyên ngành) và ngành Công an được tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện và/hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị kiện.

Trả lời: Tại Văn bản số 51/VKSTC-V14 ngày 06/01/2020

Cử tri thành phố Hồ Chí Minh cũng đã kiến nghị nội dung này và Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã có trả lời rõ tại Công văn số 3365/VKSTC-V14 ngày 13/8/2018 về việc trả lời kiến nghị của cử tri gửi tới Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIV, theo đó, nội dung kiến nghị đã được quy định cụ thể, rõ ràng tại Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, cụ thể như sau:

(1) Về quy định người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện

- Đối với vụ án hành chính: khoản 7 Điều 60 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định “công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan trong ngành Công an không được làm người đại diện trong tố tụng hành chính, trừ trường hợp họ tham gia với tư cách là người đại diện cho cơ quan của họ hoặc với tư cách là người đại diện theo pháp luật”. Do đó, cán bộ, sĩ quan, hạ sĩ quan trong ngành Công an không được làm người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện, trừ trường hợp họ tham gia với tư cách là người đại diện cho cơ quan của họ; còn đối với cán bộ, công chức trong ngành Thanh tra thì có thể làm người đại diện theo ủy quyền nếu có đủ các điều kiện khác theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

- Đối với vụ án dân sự: khoản 4 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định người đại diện theo ủy quyền theo quy định của Bộ luật Dân sự là người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự. Theo đó, không có quy định cấm cán bộ, công chức công tác trong ngành Thanh tra và ngành Công an được tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện trong tố tụng dân sự.

(2) Về quy định người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị kiện

- Đối với vụ án hành chính: điểm c khoản 2 Điều 61 LTTHC năm 2015 quy định người không phải là cán bộ, công chức trong các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát, Thanh tra, Thi hành án; công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan trong ngành Công an thì được làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Do đó, cán bộ, công chức trong ngành Thanh tra, công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan trong ngành Công an không được làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện.

- Đối với vụ án dân sự: điểm d khoản 2 Điều 75 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định người không phải là công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan trong ngành Công an được làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Do đó, công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan trong ngành Công an thì không được làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện; còn cán bộ, công chức trong ngành Thanh tra thì được làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện nếu có đủ các điều kiện khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao không có thẩm quyền ban hành văn bản hướng dẫn Luật Tố tụng hành chính cho phép cán bộ, công chức công tác trong ngành thanh tra và ngành công an được tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị kiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật Tố tụng hành chính. Trường hợp cần thiết, cử tri có thể kiến nghị nội dung này trực tiếp đến Tòa án nhân dân tối cao.

 

7. Cử tri TP. Hồ Chí Minh kiến nghị: Kiến nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao tham mưu Chính phủ ban hành kế hoạch tổ chức tổng kết thi hành Luật Tố tụng hành chính và tổ chức nghiên cứu điều chỉnh toàn diện, sửa đổi, bổ sung trình tự, thủ tục tố tụng hành chính, thi hành án hành chính theo tinh thần xem xét người bị kiện, người phải thi hành án là cơ quan hành chính Nhà nước, là một tổ chức đặc biệt nên khi tham gia tố tụng hành chính, thi hành án hành chính phải bảo đảm theo những điều kiện, quy định đặc trưng của một tổ chức hành chính Nhà nước, có trình tự, thủ tục cho phù hợp với điều kiện thực tế của công tác quản lý hành chính Nhà nước, tránh việc đánh đồng cơ quan hành chính Nhà nước với các tổ chức, cá nhân khác, bảo đảm hài hòa thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính thường xuyên và nhiệm vụ tham gia tố tụng hành chính.

Trả lời: Tại Văn bản số 51/VKSTC-V14 ngày 06/01/2020

Đây là kiến nghị về tổng kết thi hành Luật Tố tụng hành chính và đề xuất nghiên cứu sửa đổi, bổ sung trình tự, thủ tục tố tụng hành chính, thi hành án hành chính thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân tối cao không có thẩm quyền giải quyết. Trường hợp cần thiết, cử tri có thể kiến nghị trực tiếp nội dung này đến Tòa án nhân dân tối cao.

 

8. Cử tri TP. Hồ Chí Minh kiến nghị: Đề nghị sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự quy định cụ thể cho phép Cơ quan điều tra được phép tiến hành một số hoạt động nghiệp vụ đặc thù riêng, đặc biệt để thu thập chứng cứ chứng minh đối với các tội phạm tình dục nói chung, tội phạm tình dục trẻ em nói riêng.

Trả lời: Tại Văn bản số 51/VKSTC-V14 ngày 06/01/2020

Ngoài các biện pháp điều tra thông thường (hỏi cung, lấy lời khai...), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung các quy định về các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, gồm: ghi âm, ghi hình bí mật; nghe điện thoại bí mật; thu thập bí mật dữ liệu điện tử (Điều 223). Theo đó, các biện pháp này có thể được áp dụng đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tội phạm về tham nhũng, tội khủng bố, tội rửa tiền; tội phạm khác có tổ chức thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Do vậy, đối với những tội phạm tình dục nói chung, tội phạm tình dục trẻ em nói riêng có tổ chức thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể xem xét áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt nêu trên để thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án.

Ngoài ra, để bảo vệ đối tượng là người bị hại dưới 18 tuổi bị xâm hại tình dục, bị bạo hành hoặc bị mua bán, Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 về phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi cũng đã quy định rõ “Đối với vụ án, vụ việc có người bị hại dưới 18 tuổi bị xâm hại tình dục, bị bạo hành hoặc bị mua bán thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải phối hợp chặt chẽ với nhau và phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan ngay từ khi phát hiện nguồn tin về tội phạm; khẩn trương kiểm tra, xác minh, thu thập chứng cứ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, bảo đảm giải quyết vụ án, vụ việc nhanh chóng, kịp thời, trong thời gian ngắn nhất”.

 

9. Cử tri tỉnh Trà Vinh kiến nghị:

(1) Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân cần có quy định thời gian cụ thể về việc xem xét, giải quyết, trả lời bằng văn bản đối với kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân và quy định chế tài nếu cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan không trả lời kiến nghị của Viện kiểm sát (bổ sung vào Điều 5 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân) để tổ chức thực hiện được thuận lợi hơn.

(2) Tại khoản 1 Điều 95 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân có quy định: “Kiểm sát viên, Điều tra viên, Kiểm tra viên có thang bậc lương riêng”, tuy nhiên, đến nay vẫn chưa áp dụng, đề nghị sớm áp dụng thực hiện.

Trả lời: Tại Văn bản số 52 /VKSTC-V14 ngày 06/01/2020

(1) Kiến nghị vừa là quyền vừa là trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.

Tại Điều 5 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm xem xét, giải quyết, trả lời kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật”. Đồng thời, trong các quy định về từng lĩnh vực công tác tại Chương II Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 cũng đã quy định về việc thực hiện quyền kiến nghị và trách nhiệm thực hiện kiến nghị của Viện kiểm sát.

Thủ tục thực hiện quyền kiến nghị và trách nhiệm thực hiện kiến nghị của các cơ quan có liên quan đã được quy định cụ thể, đầy đủ, chặt chẽ hơn trong các văn bản luật chuyên ngành như Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Thi hành án hình sự, Luật Thi hành án dân sự và hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành các luật nêu trên. Do đó, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân chỉ quy định quyền kiến nghị chung cho tất cả các lĩnh vực công tác kiểm sát, tùy thuộc vào từng loại kiến nghị, có những kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có thể trả lời ngay, có những kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cần phải xem xét, giải quyết và thực hiện trong thời hạn nhất định tùy thuộc vào loại kiến nghị nên việc ấn định thời hạn chung trong Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân là khó khả thi.

Đối với những trường hợp pháp luật đã quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thực hiện kiến nghị của Viện kiểm sát nhưng các cơ quan, tổ chức, cá nhân vẫn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì Viện kiểm sát đã kiến nghị có thể tiếp tục kiến nghị hoặc báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên để Viện kiểm sát cấp trên kiến nghị.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao ghi nhận kiến nghị nêu trên của cử tri để nghiên cứu, đề xuất trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và các văn bản luật chuyên ngành có liên quan, bảo đảm quy định đầy đủ và chặt chẽ hơn.

 (2) Về vấn đề này, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã có Báo cáo số 197/BC-VKSTC ngày 01/01/2019 về việc xây dựng bảng lương đối với các chức vụ lãnh đạo quản lý, bảng lương chức danh tư pháp và phụ cấp theo nghề đối với cán bộ ngành Kiểm sát nhân dân gửi Ban Chỉ đạo Trung ương về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công và Bộ Nội vụ.

 

10. Cử tri tỉnh Trà Vinh kiến nghị: Đề nghị tăng mức chi trực nghiệp vụ ngày nghỉ, ngày lễ, tết đối với cán bộ, công chức, người lao động của ngành Kiểm sát đúng với mức quy định của Bộ luật Lao động, vì mức chi hiện hành quá thấp (ngày 20.000 đồng, đêm 30.000 đồng).

Trả lời: Tại Văn bản số 52 /VKSTC-V14 ngày 06/01/2020

Tại Công văn số 5026/VKSTC-C3 ngày 24/10/2019 gửi Bộ Tài chính về đề nghị ban hành Thông tư chi đặc thù cho hoạt động điều tra trong ngành Kiểm sát nhân dân thay thế Thông tư số 148/2011/TT-BTC, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã đề nghị đưa nội dung chi trực nghiệp vụ, trực ban hình sự vào Thông tư. Đồng thời, đề nghị tăng mức chi bồi dưỡng trực nghiệp vụ từ 20.000 đồng lên 60.000 đồng/người/ca ngày và từ 30.000 đồng lên 100.000 đồng/người/ca đêm.

Tuy nhiên, tại thời điểm hiện nay, Chính phủ đang chỉ đạo các bộ, ngành liên quan xây dựng đề án cải cách tổng thể chế độ tiền lương cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động. Theo đó, không ban hành các chế độ chính sách làm phát sinh tăng chi ngân sách khi không có nguồn kinh phí đảm bảo.

 

11. Cử tri tỉnh Trà Vinh kiến nghị: Đề nghị tiếp tục thực hiện kinh phí đặc thù đối với ngành Kiểm sát để thực hiện tốt nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Trả lời: Tại Văn bản số 52 /VKSTC-V14 ngày 06/01/2020

Năm 2019, ngành Kiểm sát đã được Chính phủ quan tâm cấp bổ sung kinh phí đặc thù ngoài định mức chi thường xuyên 145 tỷ đồng/302 tỷ đồng dự toán đề nghị. Căn cứ nguồn kinh phí được giao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã phân bổ cho cho các đơn vị để thực hiện nhiệm vụ tăng thêm theo quy định mới của pháp luật; thực hiện chi mua sắm tài sản cấp bách phục vụ nhiệm vụ tăng thêm và các nhiệm vụ chi hoạt động nghiệp vụ khác của toàn Ngành. Tuy nhiên, với số kinh phí này chưa thể đáp ứng yêu cầu tối thiểu thực hiện nhiệm vụ tăng thêm theo quy định mới của pháp luật. Năm 2020 và những năm tiếp theo, Viện kiểm sát nhân dân tối cao sẽ tiếp tục đề nghị Chính phủ và các bộ, ngành chức năng bổ sung kinh phí để triển khai thực hiện.

Để giải quyết những khó khăn về kinh phí và cơ sở vật chất, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã triển khai xây dựng Đề án “Tăng cường năng lực Cơ quan điều tra và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động điều tra” trình Thủ tướng Chính phủ và Đề án “Bảo đảm kinh phí cho hoạt động đặc thù ngành Kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ” trình Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phê duyệt làm căn cứ xây dựng dự toán hàng năm.

 

12. Cử tri tỉnh Trà Vinh kiến nghị: Đề nghị cần thực hiện chế độ phụ cấp độc hại đối với công chức, Kiểm sát viên ngành Kiểm sát làm công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam.

Trả lời: Tại Văn bản số 52 /VKSTC-V14 ngày 06/01/2020

Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã phối hợp với Bộ Tài chính khảo sát thực tế tại một số trại giam, xây dựng chế độ phụ cấp đặc thù cho Kiểm sát viên làm nhiệm vụ kiểm sát tại nơi giam giữ, trình Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, tại thời điểm hiện nay, Chính phủ đang chỉ đạo các bộ, ngành liên quan xây dựng đề án cải cách tổng thể chế độ tiền lương cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động. Theo đó, không ban hành các chế độ chính sách làm phát sinh tăng chi ngân sách khi không có nguồn kinh phí đảm bảo.

 

13. Cử tri tỉnh Trà Vinh kiến nghị: Quy định tại Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về các biện pháp ngăn chặn còn chung chung, khó thực hiện. Cử tri kiến nghị cần phải quy định cụ thể tội nào thì được nộp tiền khắc phục để thay thế biện pháp tạm giam nhằm giúp cho cơ quan thi hành pháp luật thực hiện dễ dàng hơn.

Trả lời: Tại Văn bản số 52 /VKSTC-V14 ngày 06/01/2020

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không quy định cụ thể tội nào thì có thể được áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm mà dựa trên tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo để bảo đảm tính công bằng và phù hợp, thống nhất với các quy định về căn cứ tạm giam tại Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (tạm giam có thể áp dụng đối với cả bị can, bị cáo về tội phạm ít nghiêm trọng). Căn cứ này đã được quy định cụ thể hơn tại khoản 2 Điều 7 Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 07/8/2018 quy định chi tiết trình tự, thủ tục, mức tiền đặt, việc tạm giữ, hoàn trả, tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền đã đặt để bảo đảm (sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 06/2018), trong đó quy định một số trường hợp cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng không được áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm đối với bị can, bị cáo. Ngoài ra, Thông tư liên tịch số 06/2018 cũng quy định cụ thể mức tiền tối thiểu mà bị can, bị cáo phải đặt để bảo đảm đối với từng loại tội (Điều 4). Do vậy, cũng sẽ thuận lợi hơn trong quá trình thực hiện.

 

14. Cử tri tỉnh Trà Vinh kiến nghị: Đề nghị tăng biên chế Kiểm sát viên trung cấp đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện theo hướng Viện trưởng, Phó Viện trưởng là Kiểm sát viên trung cấp, không phân biệt như hiện nay.

Trả lời: Tại Văn bản số 52 /VKSTC-V14 ngày 06/01/2020

Trên cơ sở số lượng Kiểm sát viên các ngạch được Ủy ban thường vụ Quốc hội giao cho ngành Kiểm sát nhân dân (Nghị quyết số 522e/NQ-UBTVQH13 ngày 16/8/2012), Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã quyết định phân bổ chỉ tiêu Kiểm sát viên trung cấp cho đối tượng là Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện. Tuy nhiên, do số lượng Kiểm sát viên trung cấp được giao cho toàn Ngành không nhiều, nên chỉ đáp ứng phân bổ đối tượng là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện (100%) và Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân một số huyện có số lượng án hình sự, dân sự, hành chính, kinh doanh thương mại giải quyết hàng năm lớn. Số lượng chỉ tiêu Kiểm sát viên các ngạch đã được phân bổ hết cho các cấp kiểm sát nên không còn chỉ tiêu Kiểm sát viên trung cấp để phân bổ 100% Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện. Mặt khác, từ năm 2012 đến nay, Ủy ban Thường vụ Quốc hội không giao thêm chỉ tiêu Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp cho Viện kiểm sát nhân dân mặc dù theo quy định của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Viện kiểm sát nhân dân được giao tăng thêm nhiều nhiệm vụ, nhất là trong công tác tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; trong lĩnh vực giải quyết án dân sự, hành chính và điều tra án xâm phạm hoạt động tư pháp… Hiện nay, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã và đang trình cấp có thẩm quyền phê duyệt xong đề án vị trí việc làm để làm cơ sở cho Bộ Chính trị, Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định về biên chế, chỉ tiêu Kiểm sát viên các ngạch của Viện kiểm sát nhân dân trong thời gian tới nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị, Viện kiểm sát nhân dân các cấp theo luật định.

 

15. Cử tri tỉnh Thanh Hóa kiến nghị: Cử tri ngành Kiểm sát đề nghị tăng cường biên chế cho ngành Kiểm sát nhân dân ở địa phương để đáp ứng yêu cầu trong công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, khi tội phạm ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp.

Trả lời: Tại Văn bản số 53/VKSTC-V14 ngày 06/01/2020

Thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/04/2015 của Bộ Chính trị về tinh giảm biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; Kết luận số 17-KL/TW ngày 11/9/2017 của Bộ Chính trị về tình hình thực hiện biên chế, tinh giảm biên chế của các tổ chức trong hệ thống chính trị năm 2015-2016, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp giai đoạn 2017-2021; Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục đổi mới, sắp xếp bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, ngành Kiểm sát nhân dân phải thực hiện tinh giản tối thiểu 10% (1.586 biên chế) đã được Ủy ban thường vụ Quốc hội giao. Đồng thời, ngày 23/11/2018, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 2230/QĐ-BTC về việc giao dự toán thu, chi ngân sách nhà nước năm 2019 cho ngành Kiểm sát nhân dân, theo đó đã cắt giảm 91 tỷ đồng tương đương 515 biên chế. Ngày 14/5/2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 190/QĐ-VKSTC về việc điều chỉnh biên chế cho các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh. Trong những năm tới sẽ vẫn phải tiếp tục thực hiện chủ trương tinh giảm biên chế toàn Ngành theo quy định của Đảng, Nhà nước. Trước tình hình biên chế khó khăn nói trên và trước yêu cầu thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nhân dân, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã yêu cầu các đơn vị, Viện kiểm sát nhân dân các cấp căn cứ vào tình hình vi phạm và tội phạm thực tế của từng đơn vị, địa phương để bố trí, sắp xếp, sử dụng có hiệu quả số biên chế hiện có, đáp ứng yêu cầu công tác.

 

16. Cử tri tỉnh Thanh Hóa kiến nghị: Đề nghị sửa đổi quy định của pháp luật về thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 475 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo hướng tăng thời hạn giải quyết cho Viện kiểm sát.

Trả lời: Tại Văn bản số 53/VKSTC-V14 ngày 06/01/2020

Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, kịp thời xem xét, xử lý, đối với các quyết định, hành vi tố tụng trái pháp luật, khoản 1 Điều 475 và các quy định khác của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu thường là 07 ngày và thời hạn giải quyết lần hai là 03 ngày là hợp lý, đòi hỏi cơ quan giải quyết khiếu nại, người giải quyết khiếu nại cần nhanh chóng xem xét, giải quyết.

Đây là kiến nghị đề nghị sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 mới có hiệu lực từ 01/01/2018 nên việc xem xét sửa đổi, bổ sung cần phải có ý kiến của cơ quan có thẩm quyền. Hơn nữa, đây là kiến nghị xuất phát từ thực tiễn nên cần có quá trình tổng kết thực tiễn mới có căn cứ sửa đổi.

 

17. Cử tri tỉnh Bến Tre kiến nghị: Theo quy định tại khoản 5 Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự thì Viện kiểm sát thực hiện việc đóng dấu bút lục “đối với các biên bản về hoạt động điều tra, thu thập tài liệu liên quan đến vụ án do Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chuyển đến mà Kiểm sát viên không trực tiếp kiểm sát ...”, hiện nay có 03 quan điểm như sau:

- Quan điểm thứ nhất: chỉ thực hiện đóng dấu bút lục vào biên bản, tài liệu điều tra mà Kiểm sát viên không tham gia, phát sinh sau khi đã khởi tố vụ án hình sự. Quan điểm này cho rằng về việc đóng dấu bút lục quy định tại khoản 5 Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự là cơ chế pháp lý để buộc Cơ quan điều tra phải có trách nhiệm chuyển giao cho Viện kiểm sát biên bản, tài liệu mà Kiểm sát viên không tham gia để Kiểm sát viên chủ động bám sát tiến độ điều tra và kịp thời đề ra yêu cầu điều tra nhằm thực hiện tốt chức năng kiểm sát và thực hành quyền công tố đối với vụ án.

- Quan điểm thứ hai: căn cứ điểm a và điểm b Điều 35 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 thì Kiểm sát viên phải đóng dấu bút lục của Viện kiểm sát vào tất cả các biên bản, tài liệu điều tra mà Cơ quan điều tra thu thập trong giai đoạn xác minh, giải quyết tin báo, khi Cơ quan điều tra chuyển các biên bản, tài liệu này qua Viện kiểm sát để Viện kiểm sát kiểm sát căn cứ khởi tố vụ án hình sự, xem xét phê chuẩn các lệnh, quyết định do Cơ quan điều tra đề nghị. Như vậy, tất cả các biên bản, tài liệu điều tra đều được đóng dấu bút lục của Viện kiểm sát để thể hiện việc Kiểm sát viên kiểm sát tiến độ điều tra, theo dõi những tài liệu nào đã được lập trong hồ sơ kiểm sát.

- Quan điểm thứ ba: trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày lập biên bản, thu thập tài liệu liên quan trong quá trình xác minh, giải quyết tin báo thì Điều tra viên phải chuyển các biên bản, tài liệu mà Kiểm sát viên không tham gia cho Viện kiểm sát. Kiểm sát viên đóng dấu bút lục của Viện kiểm sát vào các biên bản, tài liệu này để bám sát tiến độ thu thập tài liệu, xác minh giải quyết tin báo cho đến khi Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự.

Trả lời: Tại Văn bản số 54/VKSTC-V14 ngày 0601/2020

Theo quy định tại khoản 5 Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì “Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày lập biên bản về hoạt động điều tra, thu thập, nhận được tài liệu liên quan đến vụ án mà Kiểm sát viên không trực tiếp kiểm sát theo quy định của Bộ luật này thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm chuyển biên bản, tài liệu này cho Viện kiểm sát để kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án”. Điểm a khoản 1 Điều 35 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định “Trước khi chuyển cho Viện kiểm sát biên bản, tài liệu về hoạt động điều tra mà Viện kiểm sát không trực tiếp kiểm sát, biên bản, tài liệu điều tra để Viện kiểm sát kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án hoặc hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát xét phê chuẩn lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra thì Điều tra viên phải thống kê đầy đủ tên biên bản, tài liệu, ghi số thứ tự trong bản thống kê biên bản, tài liệu và đóng dấu bút lục của Cơ quan điều tra (nhưng chưa đánh số bút lục) vào góc trên bên phải của từng trang biên bản, tài liệu”. Như vậy, Viện kiểm sát thực hiện việc đóng dấu bút lục theo quy định tại khoản 5 Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đối với các biên bản, tài liệu thu thập được từ khi khởi tố vụ án hình sự. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không quy định việc đóng dấu bút lục vào các biên bản, tài liệu có Kiểm sát viên tham gia. Do vậy, Viện kiểm sát phải thực hiện đúng quy định của Bộ luật này.

 

18. Cử tri tỉnh Bến Tre kiến nghị: Thời hạn tạm giữ trong trường hợp bắt người phạm tội quả tang tính từ thời gian nào? Ví dụ: Lúc 20 giờ ngày 01/01/2019, lực lượng Cảnh sát điều tra kiểm tra phát hiện A có hành vi tàng trữ chất màu trắng nghi là ma túy và A khai chất màu trắng là Heroine của A cất giấu để sử dụng nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Biên bản ghi thời gian bắt đầu hồi 21 giờ ngày 01/01/2019 và kết thúc lúc 22 giờ cùng ngày. Sau khi kết thúc biên bản bắt người phạm tội quả tang Cơ quan điều tra đưa đối tượng A thi hành lệnh khám xét khẩn cấp tại nơi ở của A, đến 02 giờ ngày 02/01/2019 Cơ quan điều tra đưa A về trụ sở làm việc. Sau khi trưng cầu giám định, đến 08 giờ ngày 02/01/2019 Cơ quan điều tra nhận được Kết luận giám định xác định chất màu trắng là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 01 gam nên ra Quyết định tạm giữ đối với A và giao Quyết định tạm giữ cho A lúc 09 giờ cùng ngày. Theo ví dụ trên thì thời hạn tạm giữ đối với A bắt đầu tính từ thời gian nào cho đúng?

- Quan điểm thứ nhất: tính từ thời điểm kết thúc biên bản bắt người phạm tội quả tang, tức tính kể từ 22 giờ ngày 01/01/2019.

- Quan điểm thứ hai: xác định thời gian tạm giữ tính kể từ 09 giờ ngày 02/01/2019 (tức là thời điểm Cơ quan điều tra giao Quyết định tạm giữ cho A).

- Quan điểm thứ ba: tính từ thời điểm Cơ quan điều tra đưa A về trụ sở làm việc (kể từ 02 giờ ngày 02/01/2019).

Trả lời: Tại Văn bản số 54/VKSTC-V14 ngày 0601/2020

Khoản 1 Điều 118 BLTTHS năm 2015 quy định: thời hạn tạm giữ không quá 03 ngày kể từ khi Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt hoặc áp giải người bị giữ, người bị bắt về trụ sở của mình hoặc kể từ khi Cơ quan điều tra ra quyết định tạm giữ người phạm tội tự thú, đầu thú. Như vậy, theo quy định này thì trường hợp Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiếp nhận người bị giữ, người bị bắt từ cá nhân, cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật thì thời hạn tạm giữ kể từ khi tiếp nhận. Trường hợp Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã và thi hành lệnh khám xét khẩn cấp, sau đó mới đưa về trụ sở thì thời hạn tạm giữ tính từ khi áp giải người bị giữ, người bị bắt đó về đến trụ sở Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

 

19. Cử tri tỉnh Bến Tre kiến nghị: Cơ quan điều tra cấp huyện ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và chuyển Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn Quyết định khởi tố bị can đối với các vụ án ngay từ đầu xác định được là thuộc thẩm quyền điều tra cấp tỉnh. Như vậy, việc Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện phê chuẩn Quyết định khởi tố bị can phạm tội thuộc thẩm quyền điều tra của cấp tỉnh thì có bị xem vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hay không? Hiện nay còn nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau.           

Trả lời: Tại Văn bản số 54/VKSTC-V14 ngày 06/01/2020

Theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 22/12/2017 quy định việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì việc điều tra, truy tố không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật được coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Do đó, việc Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện phê chuẩn quyết định khởi tố bị can trong các vụ án ngay từ đầu xác định được là thuộc thẩm quyền điều tra của cấp tỉnh thì bị coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Cơ quan điều tra cấp huyện cần đề nghị Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện ra quyết định chuyển vụ án cho Cơ quan điều tra cấp tỉnh điều tra, giải quyết theo thẩm quyền.

 

20. Cử tri tỉnh Bến Tre kiến nghị: Đọc, ghi chép bản sao tài liệu là quyền cơ bản của bị can được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì bị can có quyền “đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa kể từ khi kết thúc điều tra khi có yêu cầu”; khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số 02/2018/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BQP ngày 01/02/2018 quy định “Thời gian cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội được đọc, ghi chép tài liệu mỗi lần không quá 03 giờ, trong 01 ngày không quá 02 lần” nhưng không quy định cụ thể thời điểm bắt đầu tiến hành và thời điểm kết thúc (thời hạn) thực hiện quyền trên. Pháp luật chưa quy định về thời hạn cho bị can đọc, sao chép tài liệu đã gây ra khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án bởi vì theo quy định tại khoản 1 Điều 240 Bộ luật Tố tụng hình sự, Viện kiểm sát phải ra quyết định truy tố bị can trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng (30 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng), trong khi đó, thời gian bị can đọc, sao chép hồ sơ có thể chiếm gần hết thời hạn để truy tố, Kiểm sát viên có rất ít thời gian để nghiên cứu án và hoàn thành thủ tục để truy tố bị can. Ví dụ: Trường hợp bị can phạm tội ít nghiêm trọng, sau khi Cơ quan điều tra kết thúc điều tra, chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát, bị can yêu cầu được đọc, sao chép hồ sơ, thời hạn đọc, sao chép là 20 ngày, mỗi ngày 02 lần, mỗi lần 03 giờ thì tổng thời gian bị can thực hiện là 120 giờ, cộng thêm thời gian Kiểm sát viên làm thủ tục giao, nhận hồ sơ, thời gian đi, đến nơi bị can đọc, sao chép tài liệu thì thời gian để Kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ, hoàn thành thủ tục để truy tố bị can gần như là không còn.

Trả lời: Tại Văn bản số 54/VKSTC-V14 ngày 06/01/2020

Đọc, ghi chép bản sao tài liệu quy định tại điểm i khoản 2 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là quyền của bị can nhằm bảo đảm quyền tự bào chữa của bị can theo quy định tại khoản 4 Điều 31 Hiến pháp năm 2013. Tuy nhiên, để bảo đảm thời hạn tố tụng, Thông tư liên tịch số 02/2018/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BQP ngày 01/02/2018 quy định về trình tự, thủ tục, thời hạn, địa điểm bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa (sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 02/2018) đã điều chỉnh vấn đề này. Cụ thể, Điều 2 Thông tư liên tịch số 02/2018 quy định khi áp dụng quyền này phải tuân thủ “Việc cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu đã được số hóa phải bảo đảm các yêu cầu về giữ bí mật theo quy định của pháp luật, không gây cản trở và bảo đảm thời hạn của hoạt động điều tra, truy tố, xét xử”. Ngoài ra, khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch số 02/2018 quy định đối với nội dung văn bản yêu cầu được đọc, ghi chép tài liệu của bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội phải nêu rõ các tài liệu cần đọc, ghi chép để cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét, giải quyết. Theo khoản 2 Điều 6 Thông tư liên tịch 02/2018, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi nhận được yêu cầu đọc, ghi chép tài liệu phải căn cứ vào quy định về thời hạn tố tụng và các tài liệu cần đọc, ghi chép, chuẩn bị ngay bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa và thông báo bằng văn bản, trong đó ghi rõ địa điểm, khoảng thời gian hợp lý để bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội có thể đọc, ghi chép tài liệu, tránh trường hợp kéo dài, vượt quá thời hạn tố tụng.

 

21. Cử tri tỉnh Bến Tre kiến nghị: Việc ra các quyết định tố tụng để xác định thời hạn điều tra vụ án hình sự: Cơ quan điều tra khởi tố vụ án “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, sau đó đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra lần thứ nhất 03 tháng và Viện kiểm sát đồng ý. Quá trình điều tra đã làm rõ vụ án trên thuộc khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự (tổng thời hạn điều tra là 08 tháng). Vụ án trên đã điều tra được 06 tháng (do lúc đầu xác định vụ án trên thuộc khoản 2 Điều 134). Vậy có ra quyết định gia hạn thời hạn điều tra thêm 02 tháng nữa không hay đến hết thời hạn 08 tháng nếu chưa xác định được bị can thì tạm đình chỉ? Vì vụ án thuộc khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự thì thẩm quyền gia hạn của Viện kiểm sát cấp huyện chỉ 01 lần.

Trả lời: Tại Văn bản số 54/VKSTC-V14 ngày 06/01/2020

Căn cứ Điều 31 Thông tư liên tịch số 04/2018, chậm nhất 10 ngày đối với vụ án ít nghiêm trọng và nghiêm trọng, trước khi hết thời hạn điều tra vụ án, Điều tra viên và Kiểm sát viên phải phối hợp để đánh giá toàn bộ chứng cứ, tài liệu và các thủ tục tố tụng của vụ án, nếu thấy cần phải tiếp tục điều tra khi xác định vụ án thuộc vào khung hình phạt nặng hơn trong cùng một điều luật thì lập biên bản thống nhất nội dung đánh giá chứng cứ, tài liệu và lưu hồ sơ nghiệp vụ của Cơ quan điều tra, hồ sơ kiểm sát để làm căn cứ xác định thời hạn điều tra của vụ án theo khung hình phạt nặng hơn trong cùng một tội phạm. Nếu hết thời hạn điều tra theo khung hình phạt nặng hơn trong cùng một tội phạm nhưng chưa xác định được bị can thì Điều tra viên, Kiểm sát viên phải báo cáo Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát để ra quyết định tạm đình chỉ điều tra. Viện kiểm sát sẽ không ra quyết định gia hạn thời hạn điều tra trong trường hợp này. Nếu hết thời hạn điều tra theo khung hình phạt nặng hơn trong cùng một tội phạm nhưng thấy cần phải tiếp tục điều tra thì báo cáo Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát để gia hạn thời hạn điều tra theo khung hình phạt nặng hơn trong cùng một tội phạm.

 

22. Cử tri tỉnh Bến Tre kiến nghị: Đề nghị có văn bản hướng dẫn áp dụng khoản 2 Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trả lời: Tại Văn bản số 54/VKSTC-V14 ngày 06/01/2020

Ngày 29/8/2018, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã có Công văn số 3652/VKSTC-V14 gửi Tòa án nhân dân tối cao đề nghị Tòa án nhân dân tối cao ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, trong đó có đề nghị hướng dẫn thế nào là “có dấu hiệu bỏ trốn” và “có dấu hiệu tiếp tục phạm tội” quy định tại khoản 2 Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bởi thẩm quyền hướng dẫn áp dụng pháp luật thuộc về Tòa án nhân dân tối cao. Trường hợp cần thiết, cử tri có thể kiến nghị trực tiếp nội dung này đến Tòa án nhân dân tối cao.

 

23. Cử tri tỉnh Bến Tre kiến nghị: Điều 114 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định những việc cần làm ngay sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người hoặc nhận người bị giữ, bị bắt: “1. Sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người hoặc nhận người bị giữ, bị bắt, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn 12 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt…”. Trường hợp không ra quyết định tạm giữ thì ra quyết định trả tự do hay lập biên bản trả tự do cho người bị bắt vì điều luật chỉ nêu “trả tự do cho người bị bắt”?

Trả lời: Tại Văn bản số 54 /VKSTC-V14 ngày 06/01/2020

Theo quy định tại khoản 1 Điều 114 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra là cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt. Căn cứ Mẫu số 48 ban hành kèm theo Thông tư số 61/2017/TT-BCA ngày 14/12/2017 quy định biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về điều tra hình sự của Bộ Công an, trường hợp không ra quyết định tạm giữ thì người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải ra Quyết định trả tự do cho người bị bắt.

 

24. Cử tri tỉnh Bến Tre kiến nghị: Khó khăn trong việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú: Theo quy định tại khoản 4 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị can là không quá thời hạn điều tra, khi Cơ quan điều tra ra lệnh cấm bị can đi khỏi nơi cư trú hết thời hạn điều tra, án kết thúc điều tra, nhưng theo quy định tại Điều 232 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thời hạn 02 ngày khi kết thúc điều tra thì Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát truy tố, vậy thời hạn 02 ngày này cơ quan nào ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị can. Cũng trong thời gian này nếu bị can không có mặt tại địa phương, phạm tội mới hoặc có vấn đề gì khác thì cơ quan nào có trách nhiệm. Do đó cần có hướng dẫn cụ thể hơn nội dung này.

Trả lời: Tại Văn bản số 54/VKSTC-V14 ngày 06/01/2020

Điều 31 Thông tư liên tịch số 04/2018 quy định: “Chậm nhất 10 ngày đối với vụ án ít nghiêm trọng và nghiêm trọng, 15 ngày đối với vụ án rất nghiêm trọng, 20 ngày đối với vụ án đặc biệt nghiêm trọng trước khi kết thúc điều tra hoặc hết thời hạn điều tra vụ án, Điều tra viên và Kiểm sát viên phải phối hợp để đánh giá toàn bộ chứng cứ, tài liệu và các thủ tục tố tụng của vụ án, nếu thấy có đủ căn cứ kết thúc điều tra thì thống nhất để Điều tra viên báo cáo Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra kết thúc điều tra vụ án; nếu thấy cần phải tiếp tục điều tra thì báo cáo Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát để gia hạn thời hạn điều tra, tạm giam bị can theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự”. Như vậy, trước khi kết thúc điều tra hoặc trước khi hết thời hạn điều tra, Điều tra viên và Kiểm sát viên phải phối hợp đánh giá các thủ tục tố tụng của vụ án, trong đó, có việc áp dụng biện pháp ngăn chặn. Trường hợp cần thiết, để bảo đảm tính liên tục của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với bị can, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cần phối hợp để việc giao nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra được thực hiện khi vẫn còn thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn, trong đó có biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú nêu trên.

 

25. Cử tri tỉnh Bến Tre kiến nghị: Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự thì kết luận giám định, định giá tài sản là nguồn chứng cứ để chứng minh trong tố tụng hình sự mà cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải thu thập để làm cơ sở chứng minh trong tội cố ý gây thương tích. Kết luận giám định là một trong những căn cứ quan trọng để xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể (theo tỷ lệ %); hay nói cách khác, kết luận giám định pháp y về thương tích là một trong những nguồn chứng cứ bắt buộc phải có trong vụ án cố ý gây thương tích để xác định cấu thành cơ bản, cấu thành tăng nặng của tội phạm này. Theo quy định tại Điều 206 Bộ luật Tố tụng hình sự về các trường hợp phải bắt buộc trưng cầu giám định thì có trường hợp tại khoản 4 “tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động” thuộc trường hợp phải bắt buộc trưng cầu giám định; nếu người được cơ quan trưng cầu giám định đã ra quyết định trưng cầu giám định để xác định tỷ lệ tổn thương về cơ thể nhưng người bị hại từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì sẽ bị dẫn giải theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuy nhiên, hiện nay việc dẫn giải người bị hại trong trường hợp trên đến cơ quan giám định gặp nhiều khó khăn do bị hại không hợp tác nhưng hiện nay vẫn chưa có quy định nào hướng dẫn chi tiết quy trình dẫn giải người bị hại đến cơ quan giám định trong trường hợp bị hại không hợp tác và kiên quyết từ chối thậm chí chống cự. Ngoài ra, nhiều trường hợp bị hại bỏ đi khỏi nơi cư trú không xác định được họ đang ở đâu thì không thể tiến hành giám định thương tật của họ được nhưng thời gian họ trốn tránh này vẫn tính vào thời hạn giải quyết vụ án (không thuộc trường hợp tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo Điều 148 Bộ luật Tố tụng hình sự và cũng không thuộc trường hợp tạm đình chỉ điều tra, truy tố, xét xử theo quy định tại các điều 229, 247 và 281 Bộ luật Tố tụng hình sự) dẫn đến nhiều vụ án không thể giải quyết được do không thể tiến hành giám định thương tật của bị hại  để làm căn cứ giải quyết vụ án. Do đó, liên ngành Tư pháp Trung ương cần có hướng dẫn chi tiết cụ thể về quy trình dẫn giải người bị hại phục vụ giám định, trong đó cần có quy định mở theo hướng nếu người bị hại cố tình trốn tránh từ chối giám định, giám định lại thì vụ án tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm (nếu ở giai đoạn tố giác, tin báo) và tạm đình chỉ điều tra, truy tố, xét xử (nếu ở giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử).

Trả lời: Tại Văn bản số 54/VKSTC-V14 ngày 06/01/2020

Đây là kiến nghị đề nghị hướng dẫn về quy trình dẫn giải người bị hại. Bộ Công an đang chủ trì xây dựng Thông tư quy định thực hiện nhiệm vụ bắt, áp giải, dẫn giải của lực lượng làm nhiệm vụ hỗ trợ tư pháp trong Công an nhân dân. Viện kiểm sát nhân dân tối cao sẽ lưu ý đề xuất nêu trên của cử tri trong quá trình tham gia ý kiến đối với dự thảo Thông tư của Bộ Công an. Trường hợp cần thiết, cử tri có thể kiến nghị trực tiếp nội dung này đến Bộ trưởng Bộ Công an. Đối với đề xuất của cử tri “có quy định mở theo hướng nếu người bị hại cố tình trốn tránh từ chối giám định, giám định lại thì vụ án tạm đình chỉ” có liên quan đến các trường hợp tạm đình chỉ quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, do đó, cần phải được xem xét thận trọng để bảo đảm sự thống nhất của văn bản hướng dẫn luật với văn bản luật.

 

26. Cử tri tỉnh Bến Tre kiến nghị: Nhiều vụ án Cố ý gây thương tích mà kết luận giám định còn chưa cụ thể, rõ ràng gây khó khăn trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử như: Kết luận giám định tính tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể bao gồm cả vết mổ, vết lưu dẫn vào vết thương. Như vậy, cơ quan tiến hành tố tụng phải giải quyết vụ án căn cứ vào thương tích thực thể (do bị can gây ra) hay tính luôn cả vết mổ, vết lưu dẫn (do bác sĩ gây ra).

Trả lời: Tại Văn bản số 54/VKSTC-V14 ngày 06/01/2020

Đây là kiến nghị liên quan đến việc xác định tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể trong các kết luận giám định có bao gồm tỷ lệ tổn thương do vết mổ, vết lưu dẫn vào vết thương hay không, thuộc trách nhiệm giải quyết của Bộ Y tế. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân tối cao sẽ lưu ý kiến nghị nêu trên của cử tri để đề xuất cơ quan có thẩm quyền giải quyết nếu được xin ý kiến. Trường hợp cần thiết, cử tri có thể kiến nghị trực tiếp nội dung này đến Bộ Y tế.

 

27. Cử tri tỉnh Bến Tre kiến nghị: Tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định các tội khởi tố theo yêu cầu của người bị hại chủ yếu thuộc nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người (các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156) và một tội thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (Điều 226 Bộ luật Hình sự). Việc Bộ luật Tố tụng hình sự quy định như vậy là chưa hợp lý và chưa bảo vệ triệt để quyền và lợi ích hợp pháp của công dân cũng như chưa bảo đảm tốt quyền con người trong tố tụng hình sự vì có sự phân biệt, bất bình đẳng giữa các nhóm tội khi điều luật quy định chỉ một số nhóm tội chủ yếu là các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người. Trong khi đó, một số tội khác như các tội xâm phạm quyền sở hữu, các tội về vi phạm giao thông cũng cần quy định trong khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 vì người bị hại trong những tội này có muốn xử lý người thực hiện hành vi phạm tội đối với họ hay không là quyền của họ và điều này gắn với nhu cầu của họ có muốn yêu cầu khởi tố hay không hay cần một phương thức giải quyết khác phi hình sự. Chẳng hạn như: “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự trong thực tế nhiều trường hợp người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại không muốn Cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền xử lý hình sự người phạm tội vì họ là người thân trong gia đình hoặc những người khác mà họ không muốn những người này bị xử lý hình sự. Ví dụ: Con điều khiển xe ô tô chở bố, mẹ…vi phạm luật giao thông đường bộ gây tai nạn và hành vi của người con đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015. Trong trường hợp này cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền vẫn xử lý hình sự đối với hành vi gây tai nạn của người con và tiến hành khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi nêu trên mặc dù bố, mẹ của người đó hoàn toàn không muốn con của mình bị xử lý hình sự. Hay trường hợp con cái trộm cắp tài sản của bố mẹ mà đủ định lượng hoặc đủ yếu tố cấu thành khác cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì vẫn bị khởi tố hình sự đối với con của họ mặc dù bố, mẹ không mong muốn điều đó; do vậy, tuy lợi ích của người bị hại trong các trường hợp này bị xâm phạm nhưng khi họ cảm thấy không có “nhu cầu” được bảo vệ bởi luật hình sự thì họ có quyền lựa chọn một cơ chế giải quyết khác phi hình sự bằng hình thức không yêu cầu khởi tố vụ án thì xét thấy quyền của người bị hại trong các trường hợp này là chính đáng đồng thời bảo đảm tính nhân văn hơn của chính sách pháp luật hình sự. Bên cạnh đó, việc khởi tố theo yêu cầu của người bị hại đối với một số tội thuộc nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người như tội hiếp dâm, tội cưỡng dâm cũng cần sửa đổi theo hướng không cần khởi tố theo yêu cầu của người bị hại mà các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền cần tiến hành khởi tố vụ án hình sự ngay khi có đủ căn cứ khởi tố vụ án hình sự vì những người bị hại trong các tội này thường bị xâm hại nhưng họ thường có tâm lý ngại tố cáo đối tượng thực hiện hành vi tội phạm vì một mặt họ sợ bị ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình, mặc cảm với người thân, bạn bè, xã hội; mặt khác, họ thường bị đối tượng thực hiện hành vi đe dọa nên có tâm lý e dè không muốn tố cáo, không muốn yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền khởi tố vụ án. Đặc biệt, những bị hại là người có nhược điểm về thể chất, tinh thần là những người thường bị xâm hại nhiều nhất vì các đối tượng thực hiện hành vi phạm tội hiếp dâm, cưỡng dâm thường lợi dụng sự thiểu năng của các bị hại này mà xâm hại vì khả năng bị tố cáo sẽ thấp hơn do đặc điểm về thể chất, tinh thần của họ bị hạn chế; ngoài ra, người đại diện hợp pháp của những người bị hại là người có nhược điểm về thể chất tinh thần cũng dễ bị tác động bởi các yếu tố như lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần từ những đối tượng thực hiện hành vi phạm tội làm họ không muốn tố cáo mà chỉ muốn thương lượng tự giải quyết. Hiện nay, vấn đề xâm phạm tình dục xảy ra ngày càng nhiều và tính chất nguy hiểm ngày càng cao gây ảnh hưởng nặng nề về sức khỏe, tâm lý của người bị hại. Để bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người bị hại và tăng cường tính răn đe của pháp luật cũng như chống bỏ loạt tội phạm thì đối với nhóm tội phạm này, trong đó có tội hiếp dâm và tội cưỡng dâm, Bộ luật Tố tụng hình sự cần loại bỏ hai tội này ra khỏi các tội phải khởi tố chỉ khi có yêu cầu của người bị hại.

Trả lời: Tại Văn bản số 54/VKSTC-V14 ngày 06/01/2020

Đây là kiến nghị đề nghị sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 mới có hiệu lực từ 01/01/2018 nên việc xem xét sửa đổi, bổ sung cần phải có ý kiến của cơ quan có thẩm quyền. Hơn nữa, đây là kiến nghị xuất phát từ thực tiễn nên cần có quá trình tổng kết thực tiễn mới có căn cứ sửa đổi.

 

28. Cử tri tỉnh Bến Tre kiến nghị: Khó khăn, vướng mắc trong áp dụng quy định trường hợp tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Theo khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định trường hợp tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố: “1. Hết thời hạn quy định tại Điều 147 của Bộ luật này, cơ quan có thẩm quyền giải quyết quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố khi thuộc một trong các trường hợp: a) Đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa có kết quả; b) Đã yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án nhưng chưa có kết quả”. Như vậy, vụ việc chỉ thuộc một trong hai trường hợp quy định nêu trên mới đủ căn cứ tạm đình chỉ việc giải quyết. Trong thực tiễn phát sinh trường hợp đương sự trong vụ việc đi khỏi địa phương, Cơ quan điều tra không làm việc được mà hết thời hạn giải quyết tin báo hoặc tố giác về tội phạm đó, nhưng không đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự hoặc không khởi tố vụ án hình sự thì phải giải quyết như thế nào? Do đó, đề xuất bổ sung Điều 148 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo hướng bổ sung thêm căn cứ để tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố nêu trên.

Trả lời: Tại Văn bản số 54/VKSTC-V14 ngày 06/01/2020

Đây là kiến nghị đề nghị sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 mới có hiệu lực từ 01/01/2018 nên việc xem xét sửa đổi, bổ sung cần phải có ý kiến của cơ quan có thẩm quyền. Hơn nữa, đây là kiến nghị xuất phát từ thực tiễn nên cần có quá trình tổng kết thực tiễn mới có căn cứ sửa đổi.

 

29. Cử tri tỉnh Bến Tre kiến nghị: Vướng mắc về quy định tham gia phiên tòa của Kiểm sát viên: Theo quy định tại khoản 1 Điều 232, khoản 1 Điều 296, khoản 1 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì: Kiểm sát viên được phân công tham gia phiên tòa, phiên họp (sơ thẩm hoặc phúc thẩm) mà vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành việc xét xử, không hoãn phiên tòa, trừ trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị phúc thẩm. Quy định này gây khó khăn trong công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự, vì việc phân công Kiểm sát viên kiểm sát giải quyết vụ án và tham gia phiên tòa được thực hiện khi Tòa án gửi thông báo thụ lý vụ án, hơn nữa quyết định đưa vụ án ra xét xử thời gian nào là do Thẩm phán chủ động quyết định nên thực tế xảy nhiều trường hợp một Kiểm sát viên có 02 hoặc nhiều vụ án cùng lên lịch xét xử cùng một thời điểm, hoặc cũng có trường hợp tuy lịch xét xử Tòa án lên không trùng nhưng do vụ án kéo dài nhiều ngày dẫn đến trùng với thời gian xét xử của vụ án khác mà không có Kiểm sát viên dự khuyết hoặc đến ngày xét xử Kiểm sát viên được phân công vì trở ngại khách quan mà không thể tham gia phiên tòa, trong những trường hợp này Kiểm sát viên không tham gia được phiên tòa, việc ra quyết định thay đổi Kiểm sát viên tham gia phiên tòa không thực hiện được, không gửi kịp cho đương sự để họ thực hiện quyền đề nghị thay đổi Kiểm sát viên… Do đó, Viện kiểm sát không thực hiện được việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sẽ ảnh hưởng đến chất lượng phiên tòa.

Trả lời: Tại Văn bản số 54/VKSTC-V14 ngày 06/01/2020

Hiện nay, Viện kiểm sát nhân dân các cấp luôn quán triệt Kiểm sát viên cần phối hợp chặt chẽ với Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, nhất là thống nhất trong việc lên lịch xét xử cho phù hợp. Khi được phân công kiểm sát việc giải quyết vụ án dân sự, Kiểm sát viên cần phải sắp xếp thời gian, bố trí công việc phù hợp để bảo đảm hiệu quả trong công tác. Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện quy định về sự tham gia phiên tòa của Kiểm sát viên trong Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn còn những vướng mắc, bất cập. Viện kiểm sát nhân dân tối cao ghi nhận kiến nghị nêu trên của cử tri và sẽ đề xuất cơ quan có thẩm quyền trong quá trình tổng kết, sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

 

30. Cử tri tỉnh Bến Tre kiến nghị: Quy định về kháng nghị quá hạn của Viện kiểm sát: Theo quy định tại khoản 3 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì: “Khi Tòa án nhận được quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát mà quyết định kháng nghị đó đã quá thời hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu Viện kiểm sát giải thích bằng văn bản và nêu rõ lý do”. Tuy vậy, Bộ luật Tố tụng dân sự lại không quy định khi đã hết thời hạn nhưng vì lí do khách quan, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị hay không? Nếu Bộ luật Tố tụng dân sự quy định Viện kiểm sát có quyền kháng nghị khi đã hết thời hạn trong trường hợp vì lí do, trở ngại khách quan thì quy định như trên là hợp lý. Nếu quy định đã hết thời hạn Viện kiểm sát không có quyền kháng nghị thì quy định như trên là không cần thiết, sẽ nảy sinh nhiều khó khăn, bất cập trong quá trình giải quyết vụ án.

Trả lời: Tại Văn bản số 54/VKSTC-V14 ngày 06/01/2020

Điều 16 Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016 quy định việc phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân trong việc thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự đã hướng dẫn như sau: “Trường hợp tính đến ngày, tháng, năm ghi trên quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát mà đã quá thời hạn kháng nghị theo quy định tại các điều 280, 322, 372, 442, 446, 450 và 461 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án cấp sơ thẩm nhận được kháng nghị có văn bản yêu cầu Viện kiểm sát đã kháng nghị giải thích lý do kháng nghị quá hạn. Văn bản giải thích lý do kháng nghị quá hạn của Viện kiểm sát được gửi cho Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu”. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, Viện kiểm sát các cấp cần bảo đảm thực hiện đúng các quy định về thời hạn tố tụng, tránh tình trạng kháng nghị quá hạn.

 

31. Cử tri tỉnh Bến Tre kiến nghị: Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 được áp dụng nay đã hơn 10 năm đã bộc lộ nhiều hạn chế như còn nhiều điều trong luật quy định chưa rõ ràng đã gây khó khăn cho việc áp dụng pháp luật. Về vấn đề xã hội hoá trong thi hành án cũng chưa được luật quy định cụ thể về lĩnh vực nào được xã hội hoá và lĩnh vực nào không được xã hội hoá... Điển hình như tại khoản 2 Điều 12 Luật Thi hành án dân sự quy định: “2. Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Toà án, Cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan trong việc thi hành án dân sự…”. Căn cứ vào quy định trên thì ngoài Viện kiểm sát kiểm sát việc tổ chức thi hành án dân sự của Cơ quan thi hành án dân sự ra, Viện kiểm sát còn có chức năng kiểm sát các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động thi hành án dân sự. Trên thực tế áp dụng quy định này, trong thời gian qua, Viện kiểm sát chỉ kiểm sát đối với cơ quan thi hành án trong việc tổ chức thi hành án, còn đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động thi hành án là cơ quan nào trong Luật thi hành án dân sự chưa quy định cụ thể cho Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát và trách nhiệm của cơ quan đó phải chấp hành việc kiểm sát của Viện kiểm sát. Theo quy định tại khoản 7 Điều 28 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi kiểm sát thi hành án dân sự, thi hành án hành chính. Khoản 7 quy định khi tiến hành kiểm sát thi hành án dân sự thì Viện kiểm sát có quyền “Kiến nghị Tòa án, Cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và cấp dưới, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong việc thi hành án”. Thực tế áp dụng quy định này thì Viện kiểm sát chỉ ban hành kiến nghị, yêu cầu khắc phục vi phạm đối với cơ quan Toà án và Cơ quan thi hành án trong hoạt động kiểm sát của mình, còn đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trong thi hành án thì Viện kiểm sát cũng chưa ban hành được kiến nghị nào đối với các chủ thể này do chưa tiến hành hoạt động kiểm sát. Mặc dù, pháp luật đã quy định cho Viện kiểm sát có quyền này. Điều này đã dẫn đến hiệu quả công tác kiểm sát của đơn vị bị hạn chế. Do đó, hệ thống pháp luật liên quan công tác thi hành án dân sự cần quy định cụ thể rõ ràng chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan có trách nhiệm trong thi hành án.

Trả lời: Tại Văn bản số 54/VKSTC-V14 ngày 06/01/2020

Đây là kiến nghị đề nghị sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2008. Tuy nhiên, việc xem xét sửa đổi, bổ sung cần phải có ý kiến của cơ quan có thẩm quyền. Viện kiểm sát nhân dân tối cao sẽ lưu ý kiến nghị nêu trên của cử tri để tham gia ý kiến trong quá trình cơ quan có thẩm quyền tiến hành tổng kết, sửa đổi, bổ sung luật. Trường hợp cần thiết, cử tri có thể kiến nghị trực tiếp nội dung này đến Bộ Tư pháp.

 

32. Cử tri tỉnh Bến Tre kiến nghị: Trong lĩnh vực khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp vẫn còn tồn tại một số hạn chế, vướng mắc cần được khắc phục trong thời gian tới, cụ thể như:

(1) Công tác tiếp nhận, phân loại, xử lý các đơn kiến nghị, phản ánh, yêu cầu, đề nghị (trừ đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm),… phát sinh ngày càng nhiều. Tuy nhiên, các quy phạm pháp luật chưa quy định rõ ràng về thời hạn, thời hiệu, quy trình phân loại, xử lý đơn… dẫn đến khó khăn, thiếu tính thống nhất trong quá trình phân loại, xử lý các loại đơn này.

(2) Về thời hạn giải quyết khiếu nại quy định tại các điều 475, 476 và 477 Bộ luật Tố tụng hình sự: Thực tiễn khi giải quyết và kiểm sát việc giải quyết đơn khiếu nại trong lĩnh vực tố tụng hình sự cho thấy, thời hạn giải quyết khiếu nại của các cơ quan có thẩm quyền quy định tại các điều luật nêu trên lần lượt là 07 ngày và 15 ngày kể từ ngày tiếp nhận (tùy trường hợp) vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý, gây khó khăn, cản trở trong việc giải quyết chính xác, toàn diện nội dung đơn khiếu nại. Trong khi đó, Luật Khiếu nại quy định: Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý. Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý. Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý. Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 70 ngày, kể từ ngày thụ lý. Trong giải quyết các đơn khiếu nại trong lĩnh vực tố tụng hình sự nêu trên, thời hạn giải quyết khiếu nại được quy định chỉ được đảm bảo khi tiếp nhận các vụ việc giản đơn, ít hoặc không cần có hoạt động kiểm tra, xác minh để ban hành quyết định giải quyết khiếu nại. Việc quy định thời hạn giải quyết khiếu nại tương đối ngắn so với Luật Khiếu nại; không quy định việc có thể gia hạn đối với các vụ việc phức tạp, hay nới rộng thời gian giải quyết đơn đối với những nơi vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn; tính thời hạn kể từ ngày tiếp nhận chứ không tính kể từ ngày thụ lý như trên sẽ khó đảm bảo thời hạn giải quyết theo luật định, nhất là các vụ việc khiếu nại phức tạp có nhiều nội dung cần kiểm tra, xác minh, phải tiến hành đối thoại, kiểm tra, thu thập, các tài liệu, chứng cứ (yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ; giám định hoặc trả lời, làm rõ kết quả giám định,…) để làm căn cứ việc giải quyết.

Trả lời: Tại Văn bản số 54/VKSTC-V14 ngày 06/01/2020

(1) Đối với đơn kiến nghị, phản ánh: trong các đơn kiến nghị, phản ánh, thường thì công dân chỉ nêu ý kiến, quan điểm của mình về những vấn đề liên quan đến việc thực hiện chủ trương, chính sách pháp luật, công tác quản lý trong các lĩnh vực đời sống xã hội, không đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền phải giải quyết và trả lời họ. Trên cơ sở kiến nghị, phản ánh của công dân, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền sẽ xem xét, tiếp thu và điều chỉnh chủ trương, chính sách pháp luật, chủ động sửa chữa, hoàn thiện…cho phù hợp. Việc điều chỉnh theo ý kiến, nguyện vọng của công dân là thể hiện trách nhiệm đối với xã hội của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đối với đơn kiến nghị, phản ánh của công dân nên việc xây dựng quy trình xử lý, giải quyết loại đơn này không đặt ra. 

Đối với đơn yêu cầu, đề nghị: pháp luật tố tụng trong lĩnh vực tương ứng đã quy định người có quyền yêu cầu, đề nghị và cơ quan có thẩm quyền giải quyết; cơ quan có thẩm quyền sẽ giải quyết khi người có quyền yêu cầu, đề nghị đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật; thời hạn giải quyết theo thời hạn tố tụng tương ứng.

(2) Về thời hạn giải quyết đơn khiếu nại trong tố tụng hình sự: đây là kiến nghị liên quan đến việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 mới có hiệu lực từ 01/01/2018 nên việc xem xét sửa đổi, bổ sung cần phải có ý kiến của cơ quan có thẩm quyền. Hơn nữa, đây là kiến nghị xuất phát từ thực tiễn nên cần phải có quá trình tổng kết thực tiễn mới có căn cứ sửa đổi.

 

Số lần truy nhập 47208938
Số người đang xem: 1620