CÔNG TÁC KIỂM SÁT       Ngày 24/12/2019


 

Thông báo rút kinh nghiệm vụ án hình sự bị hủy án để điều tra lại

Thông qua công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử giám đốc thẩm vụ án Nguyễn Văn T, về tội “Trộm cắp tài sản” bị hủy án để điều tra lại do các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và áp dụng sai pháp luật, VKSND cấp cao tại Đà Nẵng ra Thông báo số 04/TB-VC2-V1 đến các VKSND tỉnh, thành phố nghiên cứu rút kinh nghiệm.

Tóm tắt nội dung vụ án

Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 14/6/2018, tại tiệm cầm đồ 284 (địa chỉ số 284 đường Dã Tượng, phường V, thành phố N, tỉnh K), Nguyễn Văn T quan sát thấy không có người trông coi, nên lẻn vào bên trong mở tủ kính, lấy ra 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 của ông Lê Văn Đ. Sau khi lấy được điện thoại, T ra ngoài định bỏ trốn thì bị ông Đ phát hiện và tri hô. Thấy vậy, T vứt điện thoại xuống đất bỏ chạy thì ông Đ đuổi theo bắt giữ được. Hai bên giằng co một lúc thì quần chúng nhân dân đến bắt giữ người cùng tang vật, đưa đến Công an phường V lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 228/HĐĐG ngày 19/6/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: 01 chiếc điện thoại Iphone 6 16Gb giá 2.561.000 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án

Tại Bản kết luận điều tra số 1948 ngày 26/7/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đề nghị truy tố Nguyễn Văn T tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015.

Tại Cáo trạng số 212/CT-VKSNDTPNT ngày 30/7/2018, Viện trưởng VKSND thành phố N truy tố Nguyễn Văn T tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 201/2018/HSST ngày 05/9/2018, TAND thành phố N áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 18/9/2018, bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 13/11/2018, bị cáo Nguyễn Văn T có đơn rút kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 14/11/2018, TAND tỉnh K ban hành Quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm số 41/2018/HSPT-QĐ.

Ngày 03/9/2019, Viện trưởng VKSND cấp cao tại Đà Nẵng ban hành Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 83/QĐ-VC2, nội dung: Bản kết luận giám định số 222/GĐTP/2019 ngày 26/4/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh K kết luận Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn D trong bản thống kê tiền án, tiền sự số 405040/2018/PV06 ngày 11/12/2018 của Phòng hồ sơ Công an tỉnh K là cùng một người.

Các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ căn cứ duy nhất vào lời khai của bị cáo (không có giấy tờ tùy thân nào) để lập hồ sơ, lý lịch, lập danh chỉ bản đối với bị cáo mà không tiến hành điều tra, xác minh làm rõ về đặc điểm nhân thân của bị cáo. Khi tra cứu tiền án, tiền sự của bị cáo cũng chỉ căn cứ danh bản mang tên Nguyễn Văn T (do đối tượng tự khai nhưng không đúng) mà không đối chiếu, tra cứu trên chỉ bản (không so sánh dấu vân tay), nên không phát hiện được chính xác họ tên thật và nhân thân của bị cáo. Dẫn đến xét xử vụ án sai về đặc điểm nhân thân và lý lịch tư pháp của bị cáo; do đó, Bản án hình sự sơ thẩm cũng áp dụng không đúng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 và bỏ lọt tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015, từ đó, quyết định hình phạt đối với bị cáo không xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, không phù hợp với nhân thân bị cáo.

Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 41/2018/HSPT-QĐ ngày 14/11/2018 của TAND tỉnh K là có căn cứ. Tuy nhiên, Bản án hình sự sơ thẩm số 201/2018/HSST ngày 05/9/2018 của TAND thành phố N, tỉnh K có hiệu lực từ quyết định này. Do đó, cần phải hủy quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm để điều tra lại. Đề nghị Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao tại Đà Nẵng xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 201/2018/HSST ngày 05/9/2018 của TAND thành phố N và Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 41/2018/HSPT-QĐ ngày 14/11/2018 để điều tra lại theo đúng quy định pháp luật.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 38/2019/HS-GĐT ngày 04/10/2019 của Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao tại Đà Nẵng quyết định:

- Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 83/QĐ-VC2 ngày 03/9/2019 của Viện trưởng VKSND cấp cao tại Đà Nẵng.

- Hủy toàn bộ Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 41/2018/HSPT-QĐ ngày 14/11/2018 của TAND tỉnh K và Bản án hình sự sơ thẩm số 201/2018/HSST ngày 05/9/2018 của TAND thành phố N tỉnh K để điều tra lại theo quy định pháp luật.

- Chuyển hồ sơ vụ án cho VKSND cấp cao tại Đà Nẵng để điều tra lại theo thủ tục chung.

Vấn đề cần rút kinh nghiệm

- Về chủ thể thực hiện hành vi phạm tội: Tại Bản kết luận giám định số 222/GĐTP/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh K kết luận: Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn D trong Bản thống kê tiền án, tiền sự số 405040/2018/PV06 ngày 11/12/2018 của Phòng hồ sơ Công an tỉnh K là cùng một người, xác định chỉ bản của Nguyễn Văn T hoàn toàn trùng khớp với chỉ bản của Nguyễn Văn D.

- Lý lịch người thực hiện hành vi phạm tội: Nguyễn Văn D, sinh năm 1982; nơi ĐKMCTT: 35/5 Tân Phước, Phước Long, thành phố N, tỉnh K; nghề nghiệp: Làm cửa sắt; trình độ học vấn: 04/12; họ tên cha: Nguyễn Văn C (đã chết); họ tên mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1927; tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2016/HSST ngày 26/2/2016 của TAND huyện C, tỉnh K xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt nhưng chưa đóng án phí; tiền sự: Không.

Nhân thân: Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng số 3917 ngày 15/11/1999 của UBND tỉnh K, thời hạn 24 tháng; chấp hành xong ngày 11/2/2002; Bản án hình sự sơ thẩm số 78 ngày 08/4/1999 của TAND thành phố N xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong bản án; Bản án hình sự phúc thẩm số 85 ngày 09/6/2009 của TAND tỉnh K xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt, chưa đóng án phí; Bản án hình sự sơ thẩm số 30 ngày 21/2/2011 của TAND thành phố N xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt, đóng án phí ngày 23/7/2018.

- Các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ căn cứ duy nhất vào lời khai của người thực hiện hành vi phạm tội (không có giấy tờ tùy thân nào) để lập hồ sơ, lý lịch, lập danh chỉ bản mà không tiến hành điều tra, xác minh làm rõ về đặc điểm nhân thân người phạm tội. Khi tra cứu tiền án, tiền sự cũng chỉ căn cứ danh bản mang tên Nguyễn Văn T (do đối tượng tự khai nhưng không đúng) mà không đối chiếu, tra cứu tên chỉ bản (không so sánh dấu vân tay) nên không phát hiện được chính xác họ tên thật người phạm tội.

Căn cứ kết luận giám định trên thì trong vụ án này, cơ quan tiến hành tố tụng điều tra, truy tố và xét xử đối với bị cáo Nguyễn Văn T là vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc xác định sự thật vụ án, xác định không đúng nhân thân người phạm tội, chưa xác định chính xác chủ thể của tội phạm. Lẽ ra bị cáo bị khởi tố, truy tố, xét xử trong vụ án là Nguyễn Văn D, việc cơ quan tiến hành tố tụng xác định bị cáo có nhân thân, lý lịch với tên gọi Nguyễn Văn T là không đúng.

- Hành vi khách quan của tội phạm: Lợi dụng sự sơ hở của ông Lê Văn Đ trong việc quản lý tài sản, hành vi lén lút mở tủ chiếm đoạt chiếc điện thoại Iphone 6 trị giá 2.561.000 đồng của Nguyễn Văn D có dấu hiệu tội “Trộm cắp tài sản”.

- Ngoài ra, quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, người phạm tội khai nhận khi bị chủ sở hữu tài sản phát hiện, bắt giữ thì sử dụng mũ bảo hiểm để đánh lại vào phần đầu của bị hại nhằm mục đích để chạy thoát thân (các bút lục 42, 43, 45, 47), các lời khai này phù hợp với lời khai của người bị hại (bút lục 36). Hành vi “hành hung để tẩu thoát” là tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 173 BLHS nhưng chưa được điều tra làm rõ.

- Trong vụ án này, Nguyễn Văn D thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản khi chưa được xóa án tích nhưng do cơ quan tiến hành tố tụng xác định không đúng nhân thân, lý lịch người phạm tội, xác định không đúng chủ thể của tội phạm nên áp dụng không đúng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và điểm s “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 và bỏ lọt tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52, chưa điều tra làm rõ hành vi “hành hung để tẩu thoát” để làm căn cứ truy tố, xét xử Nguyễn Văn D theo khoản 2 Điều 173 BLHS năm 2015, từ đó quyết định hình phạt không tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, không phù hợp với nhân thân người phạm tội.

Thanh Hằng

(Tổng hợp)

 


Ý KIẾN BẠN ĐỌC


Họ và tên
Nội dung góp ý
Mã xác thực :                     


CÁC TIN LIÊN QUAN ĐÃ ĐĂNG

Ban hành Quy chế xét, đề nghị công nhận sáng kiến trong ngành KSND

Bàn về quản lý thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động kinh doanh qua mạng xã hội

Nhận diện một số dạng tội phạm trong hoạt động Ngân hàng

Thông báo rút kinh nghiệm vụ án “Giết người”, “Cố ý gây thương tích” và “Che giấu tội phạm”

Một số kinh nghiệm trong công tác phối hợp với các cơ quan tư pháp giải quyết vụ án kinh tế, tham nhũng

Những thuận lợi và khó khăn, vướng mắc trong việc giải quyết các vụ án tham nhũng

Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng khoa học VKSND tối cao

Về giải quyết khiếu nại đối với quyết định chuyển vụ án dân sự

Bàn về ​tình tiết “đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm”

Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của VKSND tỉnh Vĩnh Phúc và sửa bản án sơ thẩm

Số lần truy nhập 45540283
Số người đang xem: 1783