CÔNG TÁC KIỂM SÁT       Ngày 24/04/2020


Thông báo rút kinh nghiệm

về vụ án hình sự bị huỷ để xét xử sơ thẩm lại

 

Thông qua công tác kiểm sát xét xử giám đốc thẩm vụ án Lê Thị T cùng đồng phạm, phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” bị huỷ án để xét xử sơ thẩm lại, VKSND cấp cao Đà Nẵng đã ban hành Thông báo rút kinh nghiệm để các Viện kiểm sát trong khu vực rút kinh nghiệm chung. Nội dung thông báo như sau:

1. Nội dung vụ án

Khoảng 12 giờ ngày 07/01/2018, Lê Thị T thuê Đào Duy V điều khiển xe ô tô biển kiểm soát “H” vận chuyển hành khách từ thành phố Đ lên huyện B và ngược lại. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, xe lên đến bến xe huyện B, V dừng xe ở đó rồi đi ăn uống và đi chơi. Tại đây, T mua một số hàng hoá đưa về thành phố Đ bán lại kiếm lời. Sau khi cất giấu toàn bộ số hàng hoá trên vào trong thùng xe, T gặp một người phụ nữ lạ mặt (không rõ nhân thân, địa chỉ) thuê chở 5.000 bao thuốc lá điếu hiệu Jet từ Km50 Quốc lộ A về thành phố Đ với giá cước 150.000 đồng, T đồng ý và cho nguời phụ nữ số điện thoại để liên lạc. Khoảng 19 giờ cùng ngày, Đào Duy V lái xe về thành phố Đ, trên đường đi, T nói với V đến Km50 Quốc lộ A thì V dừng xe để bốc 5.000 bao thuốc lá hiệu Jet, được đựng trong 10 bao gai màu xanh lên sau cốp xe. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, V điều khiển xe ô tô đến Km 25+300 Quốc lộ A thuộc địa phận xã T, huyện L, tỉnh Q thì bị lực lượng Công an huyện L phát hiện bắt quả tang, thu giữ 5.000 bao thuốc lá điếu hiệu Jet cùng toàn bộ số hàng hoá trên xe.

Tại Kết luận giám định số 128/C54C (DD4) ngày 02/3/2018, Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: 100 bao thuốc lá mang nhãn hiệu Jet được đựng trong 10 hộp giấy màu trắng, bên ngoài mỗi hộp có chữ SPECIAL BLEND, JET, FILTEKINGSCIGARTTES ký hiệu từ số 01 – 10 gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm nhãn hiệu Jet, được sản xuất tại nước ngoài.

2. Quá trình tố tụng

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2018/HSST ngày 17/8/2018 của Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Q đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Lê Thị T, Đào Duy V phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” áp dụng điểm b khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt: Bị cáo Lê Thị T: 308.000.000 đồng, Đào Duy V: 304.000.000 đồng.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 612.000.000 đồng các bị cáo nộp vào tài khoản tạm giữ số 3949xxxxx1 của Chi cục Thi hành án huyện L ngày 16/8/2018 để đảm bảo thi hành án.

 Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 4.900 bao thuốc là điếu hiệu Jet còn lại sau giám định và 10 bao gai màu xanh; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 150.000 đồng, số tiền này có tại tài khoản tạm giữ số 3949xxxxx2 tại Kho bạc Nhà nước huyện L nộp ngày 05/3/2018 (các vật chứng trên có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L theo biên bản giao vật chứng ngày 04/6/2018); trả lại cho bị cáo Đào Duy V 01 giấy phép lái xe hạng D (có tại hồ sơ vụ án).

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

- Kháng nghị số 1323/QĐ-VKS-P7 ngày 14/9/2018 của VKSND tỉnh Q kháng nghị toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm đề nghị TAND tỉnh Q xét xử vụ án theo hướng huỷ Bản án hình sự sơ thẩm để điều tra lại.

- Bản án hình sự phúc thẩm số 14/2018/HSPT ngày 21/11/2018 của TAND tỉnh Q tuyên không chấp nhận kháng nghị của VKSND tỉnh Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Ngày 03/9/2019, Viện trưởng VKSND cấp cao tại Đà Nẵng ra Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 85/QĐ-VC2 đề nghị TAND cấp cao tại Đà Nẵng huỷ Bản án hình sự phúc thẩm số 14/2018/HS-PT ngày 21/11/2018 của TAND tỉnh Q và Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2018/HSST ngày 17/8/2018 của TAND huyện L, tỉnh Q về phần hình phạt đối với các bị cáo Lê Thị T, Đào Duy V để xét xử sơ thẩm theo hướng không áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.

Chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Q để xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật.

3. Những vấn đề cần rút kinh nghiệm

Các bị cáo Lê Thi T, Đào Duy V bị xét xử về tội: “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ. Theo quy định tại khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù. Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo dưới khung hình phạt, tuyên hình phạt tiền là chưa đúng quy định của pháp luật.

Xét về nhân thân của bị cáo Lê Thị T, ngày 26/6/2012 bị Uỷ ban nhân dân tỉnh Q xử phạt vi phạm hành chính số tiền 50.000.000 đồng về hành vi “Vận chuyển hàng cấm”; ngày 05/11/2014, bị Uỷ ban nhân dân huyện H, tỉnh Q xử phạt vi phạm hành chính số tiền 52.500.000 đồng về hành vi “Vận chuyển lâm sản trái phép” và “Buôn bán hàng cấm”; bị cáo có 01 tiền sự ngày 21/8/2017, bị đội Kiểm soát Hải quan tỉnh Q ra Quyết định số 237/QĐ-KSHQ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan với số tiền 1.750.000 đồng về hành vi “Mua bán hàng hoá nhập khẩu không có chứng từ hợp pháp trong địa bàn hoạt động Hải quan”. Ngày 07/01/2018, bị cáo cùng bị cáo Đào Duy V thực hiện hành vi vận chuyển 5.000 bao thuốc lá hiệu Jet do nước ngoài sản xuất thì bị cáo còn thực hiện hành vi mua và vận chuyển các loại hàng hoá nhập lậu khác, vi phạm điểm i, khoản 1, Điều 17 Nghị định 185/2013/NĐ-CP về “Hành vi kinh doanh hàng hoá nhập lậu”. Uỷ ban nhân dân tỉnh Q đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 277/QĐ-XPVPHC ngày 06/12/2018 đối với Lê Thị T.

Đối với bị cáo Đào Duy V, ngày 31/01/2013, bị Phòng PC46 – Công an tỉnh Q xử phạt số tiền 5.500.000 đồng về hành vi “Vận chuyển hàng nhập lậu”. Bị cáo có một tiền sự ngày 02/4/2017, bị đội Kiểm soát Phòng chống ma tuý cục Hải quản tỉnh Q ra Quyết định số 44/QĐ-KSMT xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan với số tiền 1.750.000 đồng về hành vi “Mua bán hàng hoá nhập khẩu không có chứng từ hợp pháp trong địa bàn hoạt động Hải quan”.

Các bị cáo Lê Thị T và Đào Duy V có tiền sự, nhiều lần bị xử lý hành chính về hành vi vi phạm trật tự quản lý kinh doanh và gian lận thương mại Nhà nước, nhưng vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, là hành vi nguy hiểm hơn so với các hành vi đã bị xử phạt hành chính trước đó, nên không thể xem là ăn năn, hối cải. Các bị cáo chỉ đủ điều kiện được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhưng cấp sơ thẩm và phúc thẩm lại áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xét xử các bị cáo dưới khung hình phạt và áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo là không đúng quy định, không đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

Ngoài ra, trong vụ án Lê Thị T và anh Lê Văn H kết hôn từ năm 2003, nhưng đến tháng 11/2016, anh Hùng mới mua xe ô tô biển kiểm soát “H” nên chiếc xe ô tô này là tài sản chung của vợ chồng. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm nhận định “Chiếc xe ô tô là tài sản riêng của anh H, đăng ký quyền sở hữu mang tiên Lê Văn H, bị cáo T sử dụng vào việc phạm tội, anh H không biết; do đó, việc trả lại tài sản này cho chủ sở hữu của Cơ quan điều tra là đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét lại” là không có căn cứ pháp luật. Vì vậy, đề nghị TAND huyện L, tỉnh Q khi xét xử sơ thẩm lại thì xử lý vật chứng xe ô tô biển kiểm soát “H” theo đúng quy định pháp luật./

TL (tổng hợp)


Ý KIẾN BẠN ĐỌC


Họ và tên
Nội dung góp ý
Mã xác thực :                     


CÁC TIN LIÊN QUAN ĐÃ ĐĂNG

VKSND huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ ban hành kiến nghị vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra

Bàn về hoạt động kiểm sát việc áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt

Bài học cho các cô gái trẻ từ vụ án nữ sinh viên bị hiếp dâm

Rút kinh nghiệm vụ án "Tranh chấp quyền sử dụng đất"

Rút kinh nghiệm vụ án hình sự bị hủy án để xét xử lại

THÔNG BÁO: Kéo dài thời gian nhận bài thi viết “Chân dung cán bộ kiểm sát & Bản lĩnh Kiểm sát viên”

Thông báo rút kinh nghiệm giải quyết vụ án hành chính

Một số vướng mắc trong việc tách vụ án trong giai đoạn truy tố

Xử lý kịp thời, nghiêm minh những hành vi phạm tội liên quan đến công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19

Thông báo rút kinh nghiệm vụ án dân sự

Số lần truy nhập 47000404
Số người đang xem: 2516