Bài viết phân tích những bất cập, hạn chế trong việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp và xây dựng cơ chế hướng dẫn, giải thích pháp luật thống nhất, nhằm nâng cao hiệu quả xét xử và bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân.
Trong nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người, Tội “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025 (BLHS 2015) là một trong những tội danh có số lượng thụ lý, xét xử cao tại Tòa án nhân dân các cấp.
Mặc dù khung pháp lý đã ngày càng được hoàn thiện. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử thời gian qua vẫn có nhiều quan điểm khác nhau, thậm chí thiếu thống nhất trong một số phán quyết của Tòa án; ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
1. Một số vướng mắc, bất cập
1.1. Về định tội danh
Để định Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác cần phải đảm bảo các yếu tố: (1) Về tính nguy hiểm cho xã hội; (2) Về tính có lỗi; (3) Về tính trái pháp luật hình sự và tính phải chịu hình phạt. Tuy nhiên, trong thực tiễn định tội danh đối với Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác vẫn gặp nhiều vướng mắc. Điển hình là khó khăn trong việc phân định ranh giới pháp lý giữa tội danh này với Tội giết người (thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt). Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ sự tương đồng về nhiều dấu hiệu pháp lý giữa hai tội danh, cụ thể: Đều được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý; có sự trùng lặp về hành vi khách quan (sử dụng vũ lực tác động vật lý lên cơ thể nạn nhân như đâm, chém, đánh...) và đều dẫn đến hậu quả là những tổn thương nghiêm trọng về sức khỏe của bị hại.
Việc phân biệt giữa hành vi cố ý gây thương tích và hành vi giết người trong trường hợp phạm tội chưa đạt, trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự hiện nay, thường được đặt trong mối liên hệ với Án lệ số 47/2021/AL của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao về xác định tội danh khi người phạm tội sử dụng hung khí nguy hiểm tác động vào vùng trọng yếu trên cơ thể bị hại. Theo nội dung hướng dẫn tại Công văn số 100/TANDTC-PC ngày 13/6/2023 của TAND tối cao, việc áp dụng án lệ nêu trên không chỉ dừng lại ở việc xác định người phạm tội đã sử dụng hung khí nguy hiểm tấn công vào vùng trọng yếu của cơ thể bị hại, mà còn đòi hỏi phải đánh giá một cách toàn diện, khách quan toàn bộ tài liệu, chứng cứ của vụ án. Cụ thể, cần xem xét các yếu tố phản ánh tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi, cơ chế hình thành thương tích, mức độ quyết liệt khi thực hiện hành vi, cũng như vị trí mà người phạm tội hướng tới khi tấn công. Trên cơ sở đó, các cơ quan tiến hành tố tụng phải làm rõ yếu tố lỗi, đặc biệt là ý thức chủ quan của bị cáo đối với hậu quả chết người, nhằm xác định liệu người này có chủ đích tước đoạt tính mạng của bị hại hay không. Đồng thời, cần đánh giá các biểu hiện thể hiện tính chất côn đồ, hung hãn, coi thường tính mạng người khác; trong đó, việc bị hại không tử vong phải được xác định là nằm ngoài ý thức và mong muốn của người thực hiện hành vi.
Tuy nhiên, vẫn có quan điểm cho rằng chỉ cần có căn cứ về việc sử dụng hung khí nguy hiểm tấn công vào vùng trọng yếu của cơ thể bị hại là đủ để suy đoán ý thức tước đoạt tính mạng, từ đó áp dụng án lệ để khởi tố, truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội giết người. Cách tiếp cận này chưa bảo đảm yêu cầu đánh giá toàn diện chứng cứ, khi bỏ qua các yếu tố có ý nghĩa quan trọng như nguyên nhân, mâu thuẫn giữa các bên, cường độ và diễn biến hành vi tấn công, mức độ tổn thương thực tế của bị hại, cũng như đặc điểm nhân thân của người phạm tội. Chính sự khác biệt trong nhận thức và phương pháp đánh giá chứng cứ nêu trên đã dẫn đến tình trạng chưa thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc định tội danh giữa Tội giết người và Tội cố ý gây thương tích, đặt ra yêu cầu cần tiếp tục hoàn thiện nhận thức và bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong thực tiễn.
Tình huống thứ 1: Khoảng 21 giờ ngày 15/05/2021, T đang ngồi uống cà phê thì thấy anh N. đi ngang qua. Do có mâu thuẫn từ việc tranh chấp tiền bạc trước đó, T nảy sinh ý định đánh anh N. cho bõ ghét. T lấy một con dao bầu (loại dao sắc nhọn, bản rộng thường dùng để mổ lợn) dài khoảng 30cm dắt sau lưng rồi đi tìm anh N. Khi thấy anh N. đang đứng nói chuyện điện thoại, T từ phía sau lao đến, cầm dao bằng tay phải, vung mạnh từ trên xuống dưới, hướng thẳng vào vùng đầu và cổ của anh N. Anh N. kịp thời nhìn thấy bóng người nên giơ tay trái lên đỡ và lùi lại. Nhát dao thay vì trúng đầu đã chém trúng vào vùng vai trái và bắp tay trái của anh N. Vết thương rất sâu, làm đứt cơ và chạm đến xương. Anh N. bỏ chạy và được người dân can ngăn, đưa đi cấp cứu. Tỷ lệ tổn thương cơ thể sau giám định là 31%.
Quan điểm 1: Cố ý gây thương tích (tội nhẹ hơn). Bị cáo chỉ đâm/chém một nhát rồi dừng lại, không tiếp tục truy sát dù có điều kiện. Vị trí trúng là vai và tay (vùng không trọng yếu). Tỷ lệ thương tật 31% nằm trong khung của tội Cố ý gây thương tích. Mục đích của T chỉ là "dằn mặt" chứ không có thù oán đến mức phải giết người.
Quan điểm 2: Giết người chưa đạt (tội nặng hơn). Hung khí: Dao bầu là loại hung khí cực kỳ nguy hiểm, có khả năng tước đoạt tính mạng chỉ với một nhát chém. Vị trí tấn công: T hướng nhát chém vào đầu và cổ (vùng trọng yếu). Yếu tố khách quan: Việc anh N. không chết hay không trúng đầu là do anh N. đã chủ động tránh né và dùng tay đỡ, hoàn toàn ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo. Áp dụng Án lệ 47, dù hậu quả chỉ là 31% thương tích ở tay, nhưng hành vi vung dao vào vùng đầu là hành vi giết người.
Tòa án đã tuyên bị cáo T phạm tội "Giết người" (phạm tội chưa đạt). Lý do Tòa đưa ra: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được độ sắc bén của dao bầu và sự nguy hiểm của vùng đầu/cổ nhưng vẫn thực hiện hành vi quyết liệt. Việc nạn nhân không tử vong là may mắn khách quan, không phải do bị cáo nương tay.
1.2. Xử phạt hành chính hay xử lý hình sự?
Quy định tại Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình và tại Khoản 6 Điều 134 BLHS đang đang có sự “chồng lấn” trong áp dụng pháp luật. Cả hai văn bản đều điều chỉnh hành vi tàng trữ, cất giấu vũ khí, công cụ hỗ trợ nhằm mục đích gây thương tích.
Cụ thể, theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 7 của Nghị định số 144, hành vi mang theo, tàng trữ hoặc cất giấu các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hay các phương tiện, đồ vật có khả năng gây sát thương với mục đích gây rối trật tự công cộng hoặc gây thương tích cho người khác sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính. Đồng thời, tại khoản 6 Điều 134 BLHS thì hành vi chuẩn bị vũ khí, hung khí nguy hiểm, hóa chất hoặc thành lập, tham gia nhóm nhằm mục đích gây thương tích cho người khác cũng phải chịu trách nhiệm hình sự. Vậy, hành vi chuẩn bị công cụ, phương tiện, hung khí nhằm mục đích gây thương tích cho người khác theo quy định của Nghị định 144 có trùng với hành vi chuẩn bị phạm tội được quy định trong BLHS hay không? Nếu hai hành vi này có bản chất giống nhau thì việc tồn tại hai văn bản pháp luật với hai hình thức xử lý khác nhau - một bên là xử phạt hành chính, một bên là truy cứu trách nhiệm hình sự - có thể dẫn đến sự lúng túng trong quá trình áp dụng pháp luật. Hiện nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể để phân định rõ trong trường hợp nào hành vi chuẩn bị công cụ, phương tiện sẽ bị xử phạt hành chính theo Nghị định 144, và trong trường hợp nào sẽ bị xử lý hình sự theo Điều 134 BLHS.
Bên cạnh đó, các hành vi cố ý gây thương tích xảy ra tại nơi công cộng đang có xu hướng gia tăng và thường gây ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình an ninh, trật tự xã hội. Tuy nhiên, việc xác định tội danh và hướng xử lý đối với các hành vi này vẫn còn có những quan điểm khác nhau trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Có quan điểm cho rằng hành vi cố ý gây thương tích tại nơi công cộng không chỉ xâm phạm đến sức khỏe của người khác mà còn ảnh hưởng đến trật tự công cộng - hai khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Do đó, nếu hành vi của người phạm tội đồng thời thỏa mãn dấu hiệu cấu thành của cả tội cố ý gây thương tích và tội gây rối trật tự công cộng thì cần xử lý người phạm tội về cả hai tội danh.
Nhưng, cũng có quan điểm cho rằng, mặc dù hành vi của người phạm tội có thể xâm phạm đến nhiều khách thể khác nhau và thỏa mãn dấu hiệu cấu thành của nhiều tội danh, nhưng nếu các hành vi đó diễn ra trong cùng thời gian, cùng địa điểm và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau thì cần xem xét tổng thể để xác định tội danh phù hợp. Trong trường hợp này, hành vi ít nghiêm trọng hơn có thể bị “thu hút” bởi tội phạm có khung hình phạt nghiêm khắc hơn, và người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội danh duy nhất.
Việc nhận thức và áp dụng pháp luật khác nhau đã dẫn đến việc không thống nhất trong đường lối xử lý giữa các địa phương. Vì vậy, để bảo đảm việc xử lý các vụ án cố ý gây thương tích xảy ra tại nơi công cộng được thực hiện đúng quy định pháp luật và thống nhất trong thực tiễn, cần thiết phải sớm ban hành các văn bản hướng dẫn từ các cơ quan có thẩm quyền nhằm làm rõ cách xác định tội danh cũng như phân định phạm vi áp dụng giữa các quy định của pháp luật hình sự và pháp luật xử lý vi phạm hành chính.
Tình huống thứ 2: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 29/11/2025, tại thành phố H, đối tượng A và B trong quá trình di chuyển trên đường đã xảy ra va chạm và bị một nhóm thanh niên lạ mặt mang theo hung khí tự chế (đinh ba, dao phóng lợn) đe dọa. Do nảy sinh ý định trả đũa, A đã điều khiển xe máy chở B quay lại một quán internet trên địa bàn để mượn của đối tượng C một khẩu súng bắn đạn nở cùng khoảng 30 viên đạn.
Đến khoảng 02 giờ 00 phút cùng ngày, khi di chuyển đến khu vực cổng khu đô thị Y, A và B phát hiện một nhóm thanh niên đang tập trung tại đây, trong đó có đối tượng D. Tại đây, B đã sử dụng súng bắn về phía nhóm người này nhưng không trúng ai. Đáp trả hành vi trên, nhóm của D đã sử dụng vỏ chai bia thủy tinh ném về phía xe của A và B. Khi B tiếp tục sử dụng súng bắn về phía nhóm đối phương, đối tượng D đã dùng vỏ chai bia ném trúng vào vùng mắt bên phải của đối tượng A. Thấy A bị thương nặng và chảy nhiều máu, B đã điều khiển xe chở A rời khỏi hiện trường, trả súng cho C và đưa A đi cấp cứu. Đối tượng A bị tổn thương nghiêm trọng vùng mắt, phải điều trị nội trú tại bệnh viện tuyến trung ương. Theo kết luận giám định pháp y, tỷ lệ tổn thương cơ thể của A được xác định là 72%.
Trong vụ án trên, hành vi của D có dấu hiệu của Tội cố ý gây thương tích do D có hành vi cố ý ném chai bia vào người A, dẫn đến A tổn thương cơ thể 72%. Tuy nhiên, về có dấu hiệu của tội phạm “Gây rối trật tự công cộng” hay không thì xuất hiện nhiều tranh cãi vì hành vi trên phải thoả mãn dấu hiệu phải gây “ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội”. Thế nào là “ảnh hưởng xấu”?; trường hợp vụ việc nêu trên diễn ra ở nơi vắng vẻ thì có thể chỉ bị xử phạt hành chính theo Nghị định số 144, việc định lượng “mức độ ảnh hưởng” thường mang tính cảm tính của cơ quan thụ lý.
1.3. Về tình tiết định tội
Hiện nay, định nghĩa về “hung khí nguy hiểm” vẫn chủ yếu dựa trên tinh thần của Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao. Tuy nhiên, các văn bản này đã cũ và được ban hành để hướng dẫn các Bộ luật Hình sự trước đây (BLHS năm 1999); chưa có văn bản hướng dẫn mới thay thế phù hợp với thực tiễn của BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025). Việc xác định một vật cụ thể có phải là hung khí nguy hiểm hay không, đặc biệt là với các vật dụng sinh hoạt hàng ngày với các vật như gậy gỗ, gạch đá, bát đĩa sứ, hay thậm chí là thắt lưng, giày dép... trong nhiều trường hợp được coi là hung khí nguy hiểm do có khả năng gây sát thương lớn; nhưng ranh giới giữa một “vật dụng thông thường” và “hung khí nguy hiểm” thường rất mong manh và phụ thuộc vào sự đánh giá chủ quan của người tiến hành tố tụng.
Bên cạnh đó, tình tiết “thủ đoạn có khả năng gây hại cho nhiều người” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 BLHS cũng chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng dẫn đến việc áp dụng tình tiết này trong thực tiễn gặp khó khăn chủ yếu do quy định thiếu cụ thể, khó phân biệt giữa hành vi đe dọa (tội đe dọa giết người) và hành vi thực tế gây thương tích; chủ yếu ở việc xác định thế nào là “nhiều người”, mức độ “nguy hại”, và ranh giới với tội giết người.
1.4. Về cơ chế định lượng đối với sức khoẻ tâm thần
Mặt khách quan của tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác quy định tại Điều 134 BLHS xác định hậu quả là "thương tích" hoặc "tổn hại cho sức khỏe". Tuy nhiên, thực tiễn giám định và xét xử hiện nay chủ yếu căn cứ vào các tổn thương cơ học, vật lý mang tính hữu hình. Khoa học pháp lý hiện đại thừa nhận sức khỏe bao gồm cả trạng thái tâm thần. Hành vi phạm tội có thể không gây ra tỷ lệ thương tật cơ thể lớn nhưng lại dẫn đến các sang chấn tâm lý kéo dài, loạn thần hoặc trầm cảm nghiêm trọng (như trong các vụ án bạo lực gia đình hoặc bạo lực học đường). Hệ quả, do thiếu bảng tỷ lệ tổn thương tâm thần cụ thể, nhiều hành vi gây hại nghiêm trọng về tinh thần đang bị bỏ sót hoặc chỉ được xử lý hành chính, chưa đảm bảo nguyên tắc công bằng trong pháp luật hình sự.
1.5. Quy định về khởi tố theo yêu cầu của bị hại
Căn cứ quy định hiện hành, việc khởi tố vụ án hình sự chỉ được thực hiện khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại trong các trường hợp bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, hoặc đã chết. Đồng thời, khi những chủ thể này rút yêu cầu khởi tố thì cơ quan tiến hành tố tụng bắt buộc phải ra quyết định đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng quy định nêu trên phát sinh một số khó khăn, vướng mắc như sau:
Thứ nhất, đối với vụ án cố ý gây thương tích có nhiều bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội theo khoản 1 Điều 134 BLHS, vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại, nhưng có một bị cáo bỏ trốn nên phải tách vụ án để truy nã. Hai bị cáo còn lại đã bị xét xử bằng bản án có hiệu lực pháp luật và đang chấp hành hình phạt. Sau đó, khi bị cáo bị truy nã bị bắt và đưa ra xét xử, bị hại có đơn rút yêu cầu khởi tố.
Trong khi đó, Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) và các quy định có liên quan chỉ điều chỉnh việc rút yêu cầu khởi tố vụ án, không đặt ra cơ chế rút yêu cầu đối với từng bị can, bị cáo cụ thể. Do vậy, nếu áp dụng máy móc quy định này thì việc rút yêu cầu sẽ dẫn đến đình chỉ đối với phần vụ án đã tách. Tuy nhiên, hệ quả pháp lý đối với bản án đã có hiệu lực đối với các bị cáo đã bị xét xử trước đó chưa được quy định rõ, đặc biệt là việc có hay không áp dụng thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm để hủy bản án nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của họ.
Mặt khác, Điều 282 BLTTHS quy định trường hợp vụ án có nhiều bị can, bị cáo mà căn cứ đình chỉ không áp dụng đối với tất cả thì có thể đình chỉ đối với từng người. Tuy nhiên, trong tình huống bị hại chỉ rút yêu cầu đối với một hoặc một số bị can, bị cáo (thường là người có vai trò thứ yếu, người chưa thành niên hoặc đã khắc phục hậu quả), thì việc vận dụng Điều 282 để đình chỉ một phần vụ án chưa được Điều 155 dự liệu, dẫn đến thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật.
Thứ hai, trong quá trình giải quyết tin báo, tố giác tội phạm đối với các vụ án cố ý gây thương tích, cơ quan điều tra thường hướng dẫn bị hại làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án. Tuy nhiên, sau khi có kết luận giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 134 BLHS, bị hại có thể rút yêu cầu, dẫn đến việc phải đình chỉ vụ án. Ngược lại, nếu kết quả giám định không thuộc trường hợp này thì đơn yêu cầu khởi tố của bị hại không còn giá trị áp dụng. Tình trạng này làm phát sinh sự thiếu ổn định trong quá trình tố tụng, ảnh hưởng đến việc bảo đảm các nguyên tắc xử lý trách nhiệm hình sự.
Thứ ba, trong trường hợp nêu tại tình huống thứ nhất, nếu tại phiên tòa xét xử đối với bị cáo bị truy nã, bị hại mới rút yêu cầu khởi tố, thì Hội đồng xét xử phải xem xét theo quy định tại khoản 2 Điều 299 BLTTHS và tiến hành nghị án. Tuy nhiên, khoản 6 Điều 326 BLTTHS chỉ quy định các quyết định mà Hội đồng xét xử được ban hành sau khi nghị án, không bao gồm trường hợp đình chỉ vụ án; có thể dẫn đến lúng túng trong việc xác định thẩm quyền và hình thức quyết định của Hội đồng xét xử trong thực tiễn.
2. Kiến nghị hoàn thiện quy định về pháp luật hình sự về tội cố ý gây thương tích
Trên cơ sở phân tích những bất cập về lý luận và thực tiễn, tác giả đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện quy định tại Điều 134 BLHS, đảm bảo tính thống nhất và minh bạch trong hoạt động tư pháp:
Thứ nhất, quy định về hành vi chuẩn bị phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác tại khoản 6 Điều 134 BLHS hiện còn mang tính khái quát, dẫn đến không ít khó khăn trong thực tiễn áp dụng, vì vậy cần được tiếp tục hoàn thiện theo hướng cụ thể, rõ ràng và khả thi hơn. Trước hết, cần làm rõ nội hàm của khái niệm “chuẩn bị phạm tội” trong mối liên hệ với tội danh này, trên cơ sở cụ thể hóa quy định chung tại Điều 14 BLHS, theo đó phải xác định được các dấu hiệu thể hiện ý chí phạm tội một cách rõ ràng như việc chuẩn bị hung khí nguy hiểm, bàn bạc, phân công vai trò hoặc theo dõi nạn nhân, đồng thời tránh việc hình sự hóa những hành vi mang tính xã hội thông thường nhưng chưa có mục đích phạm tội cụ thể.
Bên cạnh đó, cần xác định ranh giới pháp lý minh bạch giữa giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt thông qua việc ban hành các văn bản hướng dẫn hoặc phát triển án lệ, trong đó nhấn mạnh tiêu chí cốt lõi là việc người phạm tội đã hay chưa bắt đầu hành vi xâm hại trực tiếp đến thân thể, sức khỏe của người khác. Bổ sung theo hướng liệt kê mở các hành vi chuẩn bị có tính nguy hiểm cao như việc chuẩn bị vũ khí, công cụ hỗ trợ có khả năng gây sát thương lớn, thành lập nhóm có tổ chức để thực hiện hành vi bạo lực hoặc xây dựng kế hoạch cụ thể về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện, qua đó tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi.
Đồng thời, cần hoàn thiện quy định về hình phạt theo hướng phân hóa trách nhiệm hình sự tương xứng với mức độ chuẩn bị và nguy cơ gây hậu quả, bảo đảm nguyên tắc công bằng và phòng ngừa chung, có thể xem xét bổ sung các chế tài thay thế như giáo dục, quản lý tại địa phương đối với trường hợp mức độ nguy hiểm thấp. Tăng cường hướng dẫn áp dụng thống nhất thông qua nghị quyết của cơ quan có thẩm quyền hoặc tổng kết thực tiễn xét xử là cần thiết nhằm bảo đảm tính minh bạch, thống nhất và hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống tội phạm liên quan đến hành vi xâm phạm sức khỏe con người.
Thứ hai, các tình tiết định khung “dùng hung khí nguy hiểm” và “thủ đoạn có khả năng gây hại cho nhiều người” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 BLHS hiện vẫn còn mang tính định tính, dẫn đến cách hiểu và áp dụng chưa thật sự thống nhất trong thực tiễn, vì vậy cần được tiếp tục hoàn thiện theo hướng cụ thể, rõ ràng hơn.
Đối với tình tiết “dùng hung khí nguy hiểm”, cần bổ sung tiêu chí nhận diện theo hướng kết hợp giữa tính chất, cấu tạo của công cụ, phương tiện và khả năng thực tế gây ra thương tích nghiêm trọng, thay vì chỉ dựa vào tên gọi hoặc phân loại chung chung. Ban hành danh mục mở, mang tính hướng dẫn đối với các loại hung khí thường gặp (dao, súng tự chế, vật liệu nổ, axit, phương tiện giao thông sử dụng với mục đích tấn công…) kèm theo tiêu chí đánh giá trong từng bối cảnh cụ thể, qua đó tránh tình trạng cùng một loại công cụ nhưng bị đánh giá khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.
Đối với tình tiết “thủ đoạn có khả năng gây hại cho nhiều người”, cần làm rõ nội hàm “khả năng” theo hướng không chỉ dựa trên hậu quả đã xảy ra mà phải căn cứ vào nguy cơ thực tế trong điều kiện cụ thể về không gian, thời gian, mật độ người, phương thức thực hiện hành vi. Nghiên cứu quy định hoặc hướng dẫn các trường hợp điển hình như sử dụng chất độc, phóng hỏa, ném vật nguy hiểm vào nơi đông người, hoặc hành vi có tính chất lan truyền, khó kiểm soát. Phân biệt rõ giữa hành vi có khả năng gây hại cho nhiều người với hành vi thực tế đã gây thiệt hại cho nhiều nạn nhân để bảo đảm định tội và định khung chính xác. Xem xét ban hành nghị quyết hướng dẫn áp dụng hoặc phát triển án lệ nhằm thống nhất nhận thức và thực tiễn xét xử, qua đó bảo đảm việc áp dụng các tình tiết định khung này vừa chặt chẽ, vừa linh hoạt, phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm phạm sức khỏe con người.
Thứ ba, việc phân biệt tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác với tội giết người theo BLHS trong thực tiễn còn gặp nhiều khó khăn do ranh giới giữa hai tội danh này chủ yếu dựa vào yếu tố lỗi và ý chí chủ quan - những dấu hiệu không thể quan sát trực tiếp như: (1) Chứng minh ý thức tước đoạt tính mạng, bởi người phạm tội hiếm khi thừa nhận mục đích giết người; cơ quan tiến hành tố tụng phải suy luận từ các yếu tố khách quan như vị trí tác động (đầu, ngực, cổ), số lần tấn công, loại công cụ sử dụng, cường độ lực… nhưng các dấu hiệu này không phải lúc nào cũng cho kết luận thống nhất. (2) Sự phụ thuộc vào hậu quả thực tế là nếu nạn nhân không chết thì thường định tội theo Điều 134 BLHS, trong khi có trường hợp hành vi có tính chất đặc biệt nguy hiểm, đáng lẽ phải xử lý về tội giết người ở giai đoạn chưa đạt. (3) Thiếu tiêu chí định lượng rõ ràng đối với các dấu hiệu như “vùng trọng yếu”, “khả năng gây chết người cao” khiến việc đánh giá mang tính cảm tính, dẫn đến áp dụng pháp luật không thống nhất giữa các địa phương. (4) Kết luận giám định pháp y đôi khi chưa phản ánh đầy đủ cơ chế hình thành thương tích hoặc khả năng dẫn đến tử vong, làm hạn chế cơ sở khoa học để suy đoán lỗi… Ngoài ra, thực tiễn còn thiếu án lệ và hướng dẫn cụ thể cho các tình huống điển hình, dẫn đến cách hiểu khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.
Để giải quyết những khó khăn, vướng mắc trên, theo tác giả cần có một số biện pháp sau: (1) Chuẩn hóa tiêu chí phân định dựa trên lỗi, theo hướng xác định rõ: Nếu người thực hiện nhận thức được khả năng làm chết người và vẫn thực hiện hoặc bỏ mặc hậu quả thì phải định tội giết người, kể cả khi hậu quả chưa xảy ra; đồng thời xây dựng bộ tiêu chí suy đoán lỗi từ các yếu tố khách quan như vị trí tấn công, số lần, cường độ, loại hung khí và hành vi sau khi gây án. (2) Cần khắc phục tư duy định tội dựa vào hậu quả, chuyển sang đánh giá toàn diện tính chất nguy hiểm của hành vi; những trường hợp có khả năng gây chết người cao cần được xem xét dưới góc độ tội giết người chưa đạt. (3) Nghiên cứu, ban hành nghị quyết hướng dẫn hoặc phát triển án lệ với các tình huống điển hình (ví dụ: Đâm nhiều nhát vào vùng ngực, đầu; dùng hung khí nguy hiểm tấn công liên tiếp vào vùng trọng yếu…) để thống nhất áp dụng. (4) Nâng cao vai trò của khoa học pháp y, bổ sung các tiêu chí đánh giá nguy cơ tử vong và cơ chế hình thành thương tích, đồng thời cho phép giám định bổ sung, giám định lại khi cần thiết. (5) Nghiên cứu, xây dựng cơ sở dữ liệu thực tiễn xét xử và phân tích định lượng, từ đó hình thành các chuẩn mực áp dụng mang tính khoa học, giúp việc phân định giữa hai tội danh được thực hiện chính xác, khách quan và bảo đảm nguyên tắc công bằng trong luật hình sự.
Thứ tư, cần xây dựng cơ chế định lượng đối với tổn hại sức khỏe tâm thần theo hướng ban hành một bảng tỷ lệ tổn thương riêng hoặc tích hợp vào hệ thống giám định hiện hành, trong đó phân loại các rối loạn như rối loạn stress sau sang chấn (PTSD), trầm cảm nặng, rối loạn lo âu, loạn thần… theo mức độ ảnh hưởng đến khả năng nhận thức, điều khiển hành vi và chức năng xã hội của nạn nhân; việc định lượng này nên dựa trên tiêu chuẩn liên ngành giữa pháp y và tâm thần học, có thể tham chiếu các hệ phân loại quốc tế như DSM-5 hoặc ICD-11 để bảo đảm tính khoa học và hội nhập.
Ngoài ra, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung hướng dẫn áp dụng Điều 134 BLHS theo hướng thừa nhận rõ ràng tổn hại tâm thần là một dạng hậu quả độc lập, không phụ thuộc hoàn toàn vào thương tích vật lý, đồng thời cho phép kết hợp cả hai loại tổn hại khi xác định mức độ nguy hiểm của hành vi. Thiết lập quy trình giám định tâm thần mang tính tố tụng chặt chẽ, bao gồm tiêu chí chẩn đoán, thời gian theo dõi, cơ chế giám định bổ sung và hội đồng giám định liên ngành nhằm hạn chế sai số và nguy cơ lạm dụng. Đồng thời, cần mở rộng phạm vi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi gây sang chấn tâm lý nghiêm trọng kéo dài, đặc biệt trong các bối cảnh như bạo lực gia đình, bạo lực học đường, xâm hại kéo dài, nơi mà hậu quả tâm thần có thể nghiêm trọng hơn cả tổn thương thể chất.
Ngoài ra, cần xây dựng cơ sở dữ liệu thực tiễn và án lệ liên quan đến tổn hại tâm thần, qua đó hình thành các chuẩn mực đánh giá mang tính định lượng kết hợp định tính, bảo đảm việc xử lý các hành vi xâm hại sức khỏe được thực hiện đầy đủ, công bằng và phù hợp với sự phát triển của khoa học pháp lý hiện đại.
Thứ năm, nghiên cứu, bổ sung cụm từ “Chỉ được khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật Hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết” tại khoản 1 Điều 155 của BLTTHS; bổ sung cụm từ “Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án” tại khoản 2 Điều 155 của BLTTHS và bổ sung thêm điểm e là “Đình chỉ vụ án” tại khoản 6 Điều 326 của BLTTHS; nhằm đảm bảo đồng bộ với quy định tại Điều 282 BLTTHS.
Rất mong nhận được sự quan tâm, trao đổi cùng quý bạn đọc và đồng nghiệp.
Nguồn bài viết: https://kiemsat.vn/hoan-thien-quy-dinh-phap-luat-hinh-su-ve-toi-co-y-gay-thuong-tich-hoac-gay-ton-hai-cho-suc-khoe-cua-nguoi-khac-76646.html