Trong những năm gần đây, việc thực hiện chuyển đổi số, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và báo cáo án bằng sơ đồ tư duy của ngành Kiểm sát nhân dân luôn được Lãnh đạo VKSND tối cao và Lãnh đạo các cấp luôn quan tâm, bước đầu đạt được một số kết quả tích cực, góp phần quan trọng vào công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành và công tác nghiệp vụ. Thực hiện Kế hoạch số 65/KH-VKSTC ngày 01/4/2024 về nhân rộng mô hình chuyển đổi số cấp Vụ tại các đơn vị VKSND tối cao, Chi bộ Vụ Kiểm sát án dân sự (Vụ 9) VKSND tối cao và Lãnh đạo đơn vị đã triển khai, đưa ra các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả công tác chuyển đổi số của Ngành nói chung và tại đơn vị nói riêng.
1. Chủ trương của Đảng, quy định của Nhà nước và của ngành Kiểm sát nhân dân về chuyển đổi số, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, báo cáo án bằng sơ đồ tư duy
Báo cáo án bằng sơ đồ tư duy là hình thức báo cáo vụ án sử dụng các từ khóa và chỉ ra mối liên kết giữa các thông tin, sự kiện, vấn đề chính, cũng như nhận dạng và tìm ra bản chất của vấn đề cần làm rõ trong vụ án một cách logic, chính xác và hiệu quả; giúp cho lãnh đạo tiếp cận và nắm bắt vụ án nhanh, đầy đủ, toàn diện nhằm nâng cao hiệu quả công tác nghiệp vụ, khả năng sử dụng công nghệ số phục vụ nhiệm vụ chuyên môn. Việc báo cáo án bằng sơ đồ tư duy sẽ giúp hạn chế trình bày lan man, giảm áp lực viết báo cáo đề xuất giải quyết án dài.
1.1. Chủ trương của Đảng, quy định của Nhà nước
Công cuộc chuyển đổi số đã được triển khai từ nhiều năm nay, nhất là sau khi có Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, trong đó nhấn mạnh yêu cầu cấp bách để đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số. Chuyển đổi số được xác định là vấn đề quan trọng và cần thiết, góp phần hiện đại hóa, dân chủ hóa các hoạt động trong công tác đảng hiện nay. Đó là quá trình mà các hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát và nghiệp vụ công tác đảng các cấp được thực hiện dựa trên dữ liệu và bằng công nghệ số. Đây là văn kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là kim chỉ nam cho phát triển nhanh và bền vững, là lời hiệu triệu mạnh mẽ, kêu gọi, khích lệ, động viên toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta nỗ lực phấn đấu đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng của dân tộc. Thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW, đến nay, hầu hết các tổ chức đảng từ chi bộ cơ sở trở lên đã ứng dụng công nghệ số vào công tác điều hành, chỉ đạo hoạt động của mình. Nhiều hội nghị, lớp bồi dưỡng chuyên đề về chuyển đổi số, công nghệ thông tin cho lãnh đạo, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động nói chung cũng như cán bộ làm công tác đảng đã được tổ chức. Cách làm mới này tạo sự chuyển biến trong tư duy, tác phong công tác, lề lối làm việc của cán bộ, công chức, góp phần đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao hiệu quả chỉ đạo và điều hành, đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng.
Tại Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 khẳng định: Nhận thức đóng vai trò quyết định trong chuyển đổi số. Chuyển đổi số trước tiên là chuyển đổi nhận thức. Một cơ quan, tổ chức có thể tiến hành chuyển đổi số ngay thông qua việc sử dụng nguồn lực, hệ thống kỹ thuật sẵn có để số hóa toàn bộ tài sản thông tin của mình, tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ, cơ cấu tổ chức và chuyển đổi các mối quan hệ từ môi trường truyền thống sang môi trường số. Mỗi cơ quan, tổ chức và cả quốc gia cần tận dụng tối đa cơ hội để phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, trong đó việc xác định sớm lộ trình và đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số trong từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương có ý nghĩa sống còn, là cơ hội để phát triển các ngành, lĩnh vực, địa phương và nâng cao thứ hạng quốc gia. Đi nhanh, đi trước giúp dễ thu hút nguồn lực. Nếu đi chậm, đi sau, khi chuyển đổi số đã trở thành xu hướng phổ biến thì nguồn lực trở nên khan hiếm, cơ hội sẽ ít đi, sẽ bỏ lỡ cơ hội phát triển.
Ngoài các văn bản trên, Nhà nước ta còn ban hành các văn bản như: Quyết định số 146/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Nâng cao nhận thức, phổ cập kỹ năng và phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số quốc gia đến 2025, định hướng đến 2030"; Quyết định số 1132/QĐ-TTg ngày 09/10/2024 phê duyệt "Chiến lược hạ tầng số đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030"...
Đối với chuyển đổi số trong công tác Đảng, ngày 05/9/2023, Đảng ủy khối các cơ quan Trung ương đã ban hành Kế hoạch số 135-KH/ĐUK về việc xây dựng, vận hành Sổ tay đảng viên điện tử trong Đảng bộ khối các cơ quan Trung ương.
Đặc biệt, ngày 29/11/2024, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Quyết định số 204-QĐ/TW phê duyệt "Đề án Chuyển đổi số trong các cơ quan đảng" xác định, đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số trong các cơ quan đảng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành gắn với cải cách thủ tục hành chính, đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.
1.2. Quy định của ngành Kiểm sát nhân dân
Để tiếp tục thực hiện, triển khai công tác chuyển đổi số quốc gia với quyết tâm chính trị lớn, Thường vụ Đảng ủy VKSND tối cao, tập thể Lãnh đạo VKSND tối cao và trực tiếp là Viện trưởng VKSND tối cao đã chỉ đạo tổ chức các hoạt động, thống nhất nhận thức về sự cần thiết, ý nghĩa và yêu cầu cấp bách của chuyển đổi sổ, ứng dụng công nghệ thông tin trong toàn Ngành. Cụ thể:
* Thứ nhất, về quan điểm chỉ đạo:
- Toàn Ngành phải nhận thức chuyển đổi số là xu hướng tất yếu, yêu cầu khách quan chung của sự phát triển; là bài toán về thay đổi thể chế, tư duy, thói quen và cách thức quản lý, chỉ đạo điều hành, quy trình làm việc. Chuyển đổi số là khâu đột phá trọng tâm của Ngành hướng tới đem lại kết quả thực chất, đồng thời, chú trọng triển khai bảo đảm an toàn, an ninh mạng.
- Người đứng đầu có vai trò quyết định trong sự thành công của chuyển đổi số. Kiểm sát viên là trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của chuyển đổi số. Hoạt động của Kiểm sát viên là trực tiếp thực hiện chuyển đổi số và là người xác định nội dung, nhiệm vụ cho chuyển đổi số ở tất các các khâu, lĩnh vực công tác.
* Thứ hai, một số văn bản chỉ đạo và định hướng chiến lược
Thường vụ Đảng ủy VKSND tối cao và Viện trưởng VKSND tối cao đã ban hành các Nghị quyết, Chỉ thị, Quyết định, văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, Kết luận của Viện trưởng VKSND tối cao về công tác chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin như:
Ngày 10/4/2024, Ban cán sự Đảng VKSND tối cao đã ban hành Nghị quyết số 129/NQ-BCSĐ về chuyển đổi số ngành Kiểm sát nhân dân đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Đây là lần đầu tiên Ban cán sự Đảng VKSND tối cao ban hành một Nghị quyết riêng về chuyển đổi số, thực hiện quyết tâm chính trị ở mức cao nhất của Ngành, sự vào cuộc của toàn ngành KSND đối với nhiệm vụ chuyển đổi số. Quan điểm xuyên suốt là đảng viên phải tiên phong, gương mẫu trong thực hiện tiến trình chuyển đổi số của Ngành; lấy Kiểm sát viên, công chức, viên chức, người lao động làm trung tâm, chủ thể, động lực, làm căn cứ để xây dựng kế hoạch chuyển đổi số chi tiết, cụ thể theo từng năm.
Thực hiện Kế hoạch số 135-KH/ĐUK ngày 05/9/2023 của Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương, Đảng ủy VKSND tối cao đã ban hành Kế hoạch số 54/KH-ĐU ngày 19/4/2024 triển khai tập huấn và sử dụng Sổ tay đảng viên điện tử trong toàn Đảng bộ. Kết quả, 100% đảng viên có tài khoản, 100% Chi bộ Đảng bộ đã tổ chức sinh hoạt Chi bộ thường kỳ trên nền tảng Sổ tay đảng viên điện tử.
- Các Chỉ thị, Hướng dẫn, Kế hoạch tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, thúc đẩy chuyển đổi số trong ngành KSND (Chỉ thị số 03/CT-VKSTC ngày 17/5/2021, Hướng dẫn số 04/HD-VKSTC ngày 09/01/2024, Kế hoạch số 05/KH-VKSTC ngày 10/01/2025, các kế hoạch hàng năm về thực hiện chuyển đổi số...).
- Quyết định số 359/QĐ-VKSTC ngày 02/12/2022 về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghệ thông tin ngành KSND đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và các Kế hoạch chuyển đổi số hàng năm của ngành KSND nhằm xây dựng hạ tầng thống nhất, linh hoạt…
2. Thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chuyển đổi số, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, báo cáo án bằng sơ đồ tư duy tại Vụ 9 VKSND tối cao
2.1. Mục tiêu, nguyên tắc, nội dung, phương thức lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin tại Vụ 9 VKSND tối cao
*Về mục tiêu:
- Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của mỗi Đảng viên, công chức. Chuyển đổi số không chỉ là nhiệm vụ của lãnh đạo hay bộ phận kỹ thuật, mà đòi hỏi sự tham gia, đồng thuận và tinh thần trách nhiệm của tất cả thành viên trong đơn vị.
Toàn bộ hoạt động chuyển đổi số phải được gắn chặt với hiệu quả thực hiện nhiệm vụ nghiệp vụ, bảo đảm công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình được chính xác, nhanh chóng, minh bạch hơn; nâng cao chất lượng tham mưu, tổng hợp và hiệu quả chỉ đạo điều hành.
*Về nguyên tắc:
- Mọi hoạt động thực hiện chuyển đổi số phải tuân thủ chỉ đạo thống nhất của Lãnh đạo cấp trên, bảo đảm đồng bộ trong toàn Ngành và phù hợp với tình hình thực tế. Đây là nguyên tắc bảo đảm tính kỷ luật, kỷ cương và sự gắn kết chặt chẽ giữa chủ trương chung với việc triển khai tại đơn vị.
Chuyển đổi số phải đi vào thực chất, tránh tình trạng “chuyển đổi số nửa vời” gây lãng phí nguồn lực.
Lấy Kiểm sát viên, công chức trong đơn vị là trung tâm của chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin; xây dựng đội ngũ Kiểm sát viên, công chức thích ứng với môi trường số; đồng thời, xác định rõ công nghệ là công cụ để thực hiện chuyển đổi số.
- Quá trình thực hiện, triển khai phải thận trọng, có lộ trình, vừa làm vừa rút kinh nghiệm nhưng đồng thời kiên quyết, kiên trì để tạo chuyển biến bền vững. đồng thời, chú trọng an toàn, bảo mật thông tin.
- Đề cao trách nhiệm cá nhân và phát huy sức mạnh tập thể.
*Về nội dung và phương thức lãnh đạo, chỉ đạo:
Thứ nhất, về quán triệt các văn bản của cấp trên về chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin cho toàn thể đảng viên, công chức trong đơn vị: Tổ chức quán triệt đầy đủ, kịp thời các văn bản chỉ đạo của cấp trên về công tác chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin đến toàn thể đảng viên, công chức thông qua nhiều hình thức khác nhau.
Tại các buổi sinh hoạt Chi bộ, đơn vị luôn dành thời gian để quán triệt Triển khai kịp thời đầy đủ các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết của Ban cán sự Đảng VKSND tối cao, các Chỉ thị, Quyết định của Viện trưởng VKSND tối cao về việc thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin nhằm tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức cho mỗi Đảng viên trong Chi bộ, từ đó thay đổi phương thức làm việc theo hướng chuyển đổi số.
Việc triển khai các văn bản được thông qua qua hệ thống phần mềm quản lý văn bản của Ngành, qua phần mềm Sổ tay Đảng viên nhằm bảo đảm nhanh chóng, kịp thời...
Thứ hai, về ban hành các văn bản để triển khai thực hiện:
- Chi ủy ban hành Nghị quyết số 126-NQ/CBV9 ngày 10/10/2024 của Chi bộ Vụ 9 về chuyển đối số của đơn vị để việc chuyển đổi số thực hiện đồng bộ, toàn diện và thực chất, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác của đơn vị và công tác chuyển đổi số của Ngành đặt ra các yêu cầu, mục đích và nhiệm vụ thực hiện chuyển đổi số tại đơn vị, đồng thời bảo đảm nguyên tắc 05 thống nhất theo chỉ đạo của Ban cán sự Đảng VKSND tối cao là: "Hạ tầng thống nhất, tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất, nền tảng số thống nhất, quy định áp dụng thống nhất và dữ liệu thống nhất".
- Chỉ đạo, lãnh đạo chính quyền triển khai ban hành các Kế hoạch, Quyết định phù hợp với mục tiêu chuyển đổi số của Ngành nói riêng và của Quốc gia nói chung, trong đó phân công cụ thể lãnh đạo Vụ phụ trách lĩnh vực công nghệ thông tin; thành lập tổ chuyên trách chuyển đổi số.
Ngoài ra, đơn vị còn ban hành Quy định nội bộ về chuyển đổi số của Vụ 9 (Quy định số 329/QĐ-V9 ngày 11/10/2024).
Thứ ba, tổ chức thực hiện:
Tổ chức thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin, Chi ủy yêu cầu 100% các cuộc họp sinh hoạt đảng được tổ chức trên nền tảng Sổ tay đảng viên điện tử. Quán triệt 100% các tài liệu sinh hoạt Đảng phải được đẩy lên nền tảng này để Đảng viên được tiếp cận đầy đủ văn bản văn bản của cấp trên và của Chi ủy (trừ những tài liệu mật).
Phân công 01 Đảng viên trẻ nghiên cứu, học tập và hỗ trợ kịp thời cho những Đảng viên khác về phần mềm Sổ tay Đảng viên nhằm khắc phục tình tình trạng hạn chế trong ứng dụng công nghệ thông tin, chưa linh hoạt khi sử dụng phần mềm sổ tay Đảng viên, trong đó tập chung chủ yếu ở những Đảng viên lớn tuổi.
Về tính tiên phong, gương mẫu: Nhận thức rõ vai trò, vị trí, tầm quan trọng của công tác chuyển đổi số, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đồng chí Bí thư Chi bộ luôn đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu, trực tiếp chỉ đạo toàn diện công tác chuyển đổi số của đơn vị với phương châm: thực hiện chuyển đổi số là sự thay đổi nhận thức chung của tất cả các đảng viên, đi đầu trước hết là những Đảng viên trong Chi ủy và những Đảng viên giữ các chức vụ lãnh đạo; đề cao tinh thần quyết tâm, trách nhiệm và lấy Đảng viên làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực.
2.2. Kết quả thực hiện chuyển đổi số, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, báo cáo án bằng sơ đồ tư duy tại Vụ 9 VKSND tối cao
Quá trình thực hiện chuyển đổi số, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, báo cáo án bằng sơ đồ tư duy, Vụ 9 đã từng bước đạt được những kết quả, có sự chuyển biến trong nhận thức của mỗi Đảng viên, công chức, Kiểm sát viên góp phần vào việc thực hiện công tác chuyên môn, nghiệp vụ.
*Về kết quả đạt được:
- Chuyển đổi số trong công tác quản lý, chỉ đạo điều hành:
100% văn bản trao đổi, xử lý công việc hành chính không mật được gửi qua nền tảng số quản lý văn bản và điều hành, được ký số trực tiếp bởi lãnh đạo đơn vị.
100% các cuộc họp chính quyền không in tài liệu giấy (trừ tài liệu mật, các tài liệu báo cáo lãnh đạo VKSND tối cao).
100% công chức trong đơn vị được cài ứng dụng phần mềm phòng họp không giấy và Sổ tay Đảng viên đến từng thiết bị cá nhân và tham gia các cuộc họp tại Phòng họp không giấy.
100% công chức trong đơn vị được cấp chữ ký số và dùng chữ ký số để ký văn bản hành chính không "Mật"; 100% công chức được cấp tài khoản thư điện tử công vụ.
- Chuyển đổi số đối với công chức: Hầu hết công chức, Kiểm sát viên có tinh thần cầu thị, chủ động học hỏi công nghệ và từng bước thích nghi với yêu cầu công việc mới trong môi trường số.
100% công chức được tập huấn, nâng cao nhận thức và đào tạo kỹ năng cơ bản về chuyển đổi số, an toàn thông tin; được phổ biến về bộ quy tắc ứng xử trên môi trường mạng và các quy định của ngành Kiểm sát nhân dân về sử dụng mạng Internet, mạng xã hội; có tài khoản trên các nền tảng số quốc gia phổ biến và sử dụng thường xuyên (đăng ký tài khoản, cài đặt các ứng dụng, dịch vụ công như: ứng dụng VNeID mức độ 2, tài khoản trên Cổng dịch vụ công quốc gia, tài khoản ngân hàng trực tuyến/ví điện tử...).
- Chuyển đổi số đối với hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ:
+ 100% thống kê các chỉ tiêu về kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, hôn nhân và gia đình được thực hiện bằng các phần mềm của VKSND tối cao; 100% đơn, án đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được theo dõi, quản lý trên môi trường mạng (trừ những vụ việc có tính chất mật được thực hiện theo quy định của pháp luật và của Ngành).
+ Một số vụ án có quan điểm đề xuất kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm có xây dựng sơ đồ tư duy kèm theo báo cáo đề xuất truyền thống. Đây là bước tiến mới về phương pháp thể hiện thông tin thay thế cho cách trình bày truyền thống, dài dòng.
*Một số giải pháp:
- Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức, quyết tâm chính trị và phát huy vai trò nêu gương trong lãnh đạo, chỉ đạo: Quán triệt tinh thần “chuyển đổi số là nhiệm vụ trọng tâm” trong mọi hoạt động; lãnh đạo là người nêu gương, trực tiếp sử dụng và yêu cầu cán bộ công chức trong đơn vị triển khai thực hiện.
Tiếp tục phát động phong trào thi đua về chuyển đổi số; đồng thời triển khai và phát động phong trào “Bình dân học vụ số ngành Kiểm sát nhân dân” tại Vụ 9 theo hướng "cầm tay, chỉ việc", dễ hiểu, dễ nhớ phù hợp với từng nhóm đối tượng nhằm phổ cập kỹ năng số, giúp mọi Kiểm sát viên, công chức đều có thể tiếp cận, sử dụng và làm chủ công nghệ một cách hiệu quả.
- Hai là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin:
Tiếp tục triển khai ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý, thực hiện công tác kiểm sát án dân sự, trước mắt là yêu cầu thực hiện báo cáo án bằng sơ đồ tư duy đối với các vụ án có đề xuất kháng nghị một cách quyết liệt, đồng bộ.
Thực hiện số hoá 100% hồ sơ vụ án dân sự, tiến tới xây dựng hệ cơ sở dữ liệu điện tử phục vụ tra cứu, phân tích và nghiên cứu án.
Chỉ đạo nghiên cứu, xây dựng một số mẫu sơ đồ tư duy chuẩn hóa cho từng loại quan hệ tranh chấp để áp dụng thống nhất, nâng cao hiệu quả trình bày và phân tích án.
- Ba là, hoàn thiện thể chế, bảo đảm an toàn, an ninh mạng.
Kiến nghị Lãnh đạo VKSND tối cao ban hành hướng dẫn cụ thể để phân định rõ loại văn bản nào được xử lý trên môi trường số, loại nào phải xử lý thủ công, nhằm vừa bảo đảm an toàn, an ninh mạng, vừa bảo vệ công chức trong việc chấp hành quy định.
Triển khai nghiêm túc các giải pháp bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng theo pháp luật và quy định của Ngành; gắn trách nhiệm lãnh đạo đơn vị trong giám sát, phòng ngừa rò rỉ dữ liệu, sử dụng email và nền tảng công vụ thay cho công cụ cá nhân.
- Bốn là, tăng cường đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin, phương tiện làm việc hiện đại.
Kiến nghị Lãnh đạo VKSND tối cao tiếp tục quan tâm, ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị công nghệ thông tin, thay thế dần các máy tính cấu hình thấp, cấp phát máy tính xách tay cho Kiểm sát viên và công chức nhằm đáp ứng yêu cầu sử dụng phần mềm nghiệp vụ, họp trực tuyến, phòng họp không giấy và Sổ tay Đảng viên điện tử.
- Năm là, đẩy mạnh công tác đào tạo, kiểm tra, giám sát gắn với thi đua – khen thưởng.
Phối hợp với Cục 2 tổ chức các lớp đào tạo, hướng dẫn cập nhật công cụ, nền tảng số dễ ứng dụng trong công việc chuyên môn, bảo đảm mọi cán bộ đều sử dụng thành thạo, linh hoạt.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá định kỳ việc thực hiện nhiệm vụ chuyển đổi số; gắn kết quả triển khai với xếp loại đảng viên, công chức và công tác thi đua – khen thưởng, từ đó tạo động lực thúc đẩy sự vào cuộc mạnh mẽ, thực chất./.