HỌC TẬP VÀ LÀM THEO LỜI DẠY CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI CÁN BỘ KIỂM SÁT: "CÔNG MINH, CHÍNH TRỰC, KHÁCH QUAN, THẬN TRỌNG, KHIÊM TỐN"
NGUYỄN HUY TIẾN - Kiểm sát viên VKSNDTC - Viện Phúc thẩm 1 Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc đã để lại 10 chữ vàng cho ngành Kiểm sát nhân dân, Người dạy: Cán bộ Kiểm sát phải “Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn”. Mỗi cán bộ Kiểm sát dù ở cương vị nào, được giao nhiệm vụ công tác ở lĩnh vực nào cũng đều thấm nhuần lời dạy của Người, coi đó như là kim chỉ nam trong việc rèn luyện đạo đức, tác phong, bản lĩnh của người cán bộ Kiểm sát. Lời dạy đó lại càng vô cùng có ý nghĩa trong quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành Kiểm sát nhân dân theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW, Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay.
Đối với các cán bộ làm công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự, mỗi lời dạy của Bác đều có ý nghĩa hết sức quan trọng, song trong phạm vi bài tham luận này chúng tôi chỉ xin liên hệ với lời dạy của Bác về hai đức tính “khách quan" và “thận trọng”.
Theo nguyên tắc hai cấp xét xử, bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực thi hành ngay. Việc xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm chỉ áp dụng trong một số trường hợp đặc biệt. Như vậy, xét xử phúc thẩm là thủ tục quan trọng và có tính quyết định trong hoạt động xét xử. Để đảm bảo việc ra bản án, quyết định phúc thẩm nghiêm minh, không oan sai, không bỏ lọt tội phạm thì vai trò của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm hết sức quan trọng, nhất là với yêu cầu phải “nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên toà, bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác” và “khi xét xử, các Toà án phải đảm bảo cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn luật định” theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Để thực hiện tốt vai trò thực hành quyền công tố tại phiên toà nói chung và phiên toà phúc thẩm nói riêng, trước hết mỗi Kiểm sát viên phải thận trọng nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, phải nắm chắc hồ sơ về những chứng cứ buộc tội cũng như gỡ tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Khi nghiên cứu phải hết sức khách quan, tôn trọng sự thật không được thiên kiến, định kiến hoặc vì bất cứ một lý do nào khác dẫn đến sự thiếu vô tư khi xem xét đánh giá các chứng cứ. Thực tế xét xử phúc thẩm cho thấy, có những vụ án bị cáo nhận tội chỉ xin giảm nhẹ hình phạt nếu xem xét một cách hời hợt, chỉ chú ý những tình tiết xem bị cáo có những tình tiết giảm nhẹ nào mới không? hay mức hình phạt Toà án cấp sơ thẩm áp dụng có quá nặng không?... thì không phát hiện ra sai sót của cấp sơ thẩm. Nhưng khi thận trọng xem xét kỹ thì mới thấy bị cáo bị kết tội oan, sai như hành vi của bị cáo chưa hội đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, bị cáo chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hoặc bị cáo có bệnh tâm thần không có năng lực trách nhiệm hình sự...
Việc xem xét thận trọng, khách quan các tình tiết và chứng cứ, nắm chắc vụ án, nắm chắc căn cứ pháp luật sẽ giúp Kiểm sát viên khi duy trì công tố tại phiên toà thực sự vững vàng, có tính chủ động cao, có thể tranh luận tốt với Luật sư và có quan điểm đúng đắn trong việc giải quyết vụ án. Khó khăn nhất khi tranh luận là Kiểm sát viên phải trình bày quan điểm ngay tức khắc sau khi Luật sư đưa ra các lý lẽ bào chữa, trong khi lại phải vừa theo dõi, vừa ghi chép. Mặt khác, các vấn đề, lý lẽ Luật sư đưa ra thường có nhiều vấn đề mới. Vì vậy, nếu Kiểm sát viên không nắm vững các tài liệu, chứng cứ đã được điều tra trong hồ sơ vụ án, những tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, đánh giá công khai tại phiên toà thì không thể tranh luận tốt được. Mặt khác, khi tranh luận cần phải thận trọng trong việc sử dụng các thuật ngữ pháp lý, tuyệt đối không được sử dụng các văn bản, thuật ngữ không chính thức. Lời nói, lý lẽ phải rõ ràng, từ ngữ sử dụng là từ ngữ được dùng trong các văn bản pháp luật. Nếu thiếu thận trọng trong việc sử dụng từ ngữ sẽ là kẽ hở để Luật sư có thể lợi dụng, khai thác để phản bác quan điểm của Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố tại phiên toà.
Thực tế cho thấy có không ít trường hợp, Kiểm sát viên không nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, không nghiên cứu kỹ những nội dung kháng cáo, kháng nghị thì khi ra phiên toà sẽ gặp khó khăn, không chủ động trong việc xét hỏi để làm rõ các tình tiết của vụ án, lúng túng khi tranh luận với Luật sư thậm chí là không đối đáp được những vấn đề Luật sư nêu ra. Việc Kiểm sát viên không đối đáp được với Luật sư hoặc né tránh những vấn đề Luật sư nêu ra có phần do năng lực, trình độ nhưng chủ yếu nhất vẫn do Kiểm sát viên chưa thận trọng, nghiên cứu nắm chắc hồ sơ vụ án và điều này ảnh hưởng rất lớn tới uy tín của Ngành, nhất là đối với những vụ án lớn được dư luận quan tâm như vụ PMU18 chẳng hạn.
Khi duy trì công tố tại phiên toà, Kiểm sát viên phải hết sức khách quan, phải tôn trọng sự thật, không được truy chụp, áp đặt, chỉ nặng về việc buộc tội mà nhẹ về gỡ tội. Cần phải chú ý lắng nghe ý kiến của Luật sư và những người tham gia tố tụng khác; không e ngại sự tham gia của Luật sư bởi chính qua tranh luận mới tìm ra sự thật, tìm ra chân lý; có Luật sư tham gia, có sự phản biện sẽ giúp cho Kiểm sát viên nhìn nhận, đánh giá các tình tiết của vụ án chính xác hơn. Vấn đề là ở chỗ Kiểm sát viên phải thật sự khách quan cầu thị, chí công vô tư, không được chủ quan, duy ý chí, bảo thủ, sẵn sàng tiếp thu quan điểm của Luật sư nếu xét thấy điều đó là phù hợp, và ngược lại, phải cương quyết bảo vệ quan điểm của mình với tư cách là Kiểm sát viên nhân danh Nhà nước duy trì quyền công tố trước phiên toà nhằm bảo vệ cho lợi ích công, lợi ích của Nhà nước. Việc thận trọng, khách quan khi thực hành quyền công tố trước phiên toà chính là sự thể hiện cách ứng xử có văn hoá, bảo đảm quyền con người, đặt con người lên vị trí trung tâm với phương châm những gì có lợi cho dân phải hết sức làm, những gì có hại cho dân phải hết sức tránh.
Là cán bộ Kiểm sát làm công tác kiểm sát nói chung và kiểm sát xét xử nói riêng phải không ngừng rèn luyện, phải không ngừng học hỏi, tu dưỡng để những chữ vàng mà Bác Hồ dạy trở thành những điều cơ bản, là cốt cách của mỗi cán bộ Kiểm sát. Trong điều kiện mới, bên cạnh mặt tích cực, cơ chế thị trường cũng đang có những tác động tiêu cực làm xói mòn đạo đức lối sống của không ít cán bộ, đảng viên trong đó có cả cán bộ Kiểm sát. Chúng ta lại càng phải tăng cường rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức của Người, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, trở thành những cán bộ Kiểm sát thật sự “Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn”. Những lời dạy của Bác đối với cán bộ Kiểm sát vẫn sáng và mãi giữ nguyên giá trị.