HỌC TẬP VÀ LÀM THEO LỜI DẠY CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI CÁN BỘ KIỂM SÁT
LẠI THẾ NAM - Viện trưởng Viện Phúc thẩm 2 VKSNDTC
Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là rất phong phú, toàn diện, sinh động, thể hiện từ lời nói, bài viết, việc làm của Người đều gần gũi, tác động mạnh mẽ đến ý nghĩ và hành động của chúng ta; đó là trung với nước, hiếu với dân, yêu thương con người, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
Tất cả những giá trị tư tưởng và đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho Người trở thành biểu tượng nhân văn cao quý, đạo đức và văn minh không chỉ của Đảng ta, dân tộc ta mà cả nhân loại trên thế giới như nhà sử học Ba Lan HelemTuốcMêRơ đã ca ngợi: “Hồ Chí Minh là hình ảnh hoàn chỉnh của sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, Triết học Mác, thiên tài cách mạng của Lênin, tình cảm của người chủ gia tộc. Tất cả đều hoà hợp trong một dáng dấp bình dị tự nhiên”.
Bấy nhiêu đức tính cao cả chung đúc lại trong một con người đã làm cho tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở nên cao thượng tuyệt vời. Người còn là tấm gương giản dị, bình thường và rất cụ thể, gần gũi mà mỗi người Việt Nam chúng ta, ai cũng đều học tập và làm theo.
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là niềm vinh dự, tự hào đối với mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người Việt Nam, là nhiệm vụ rất quan trọng và thường xuyên của hệ thống chính trị để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong toàn xã hội, đặc biệt là trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, thanh niên...; để nâng cao đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đầy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa là quán triệt vận dụng sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ và pháp chế, thể hiện một cách đầy đủ trong Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960.
Từ khi thành lập Viện kiểm sát nhân dân, Bác Hồ đã quan tâm chăm lo xây dựng ngành Kiểm sát, xây dựng đội ngũ cán bộ Kiểm sát. Lời dạy của Bác Hồ, đối với cán bộ Kiểm sát “Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn” đã trở thành tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình xây dựng và phát triển của ngành Kiểm sát nhân dân; để các thế hệ cán bộ, Kiểm sát viên học tập và noi theo. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, việc học tập và làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cán bộ Kiểm sát càng có ý nghĩa to lớn đến công tác xây dựng ngành Kiểm sát nhân dân, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
Năm đức tính trong lời dạy của Bác Hồ đối với cán bộ Kiểm sát "Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn” có mối quan hệ chặt chẽ, không tách rời nhau, không thể thiếu một đức tính nào đối với người cán bộ Kiểm sát khi thực hiện nhiệm vụ được giao. Chúng tôi nêu một số ý kiến về việc vận dụng hai đức tính khách quan, thận trọng trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm án hình sự.
Đức tính khách quan là phải đứng trên góc độ vị trí của người bảo vệ pháp luật mà nhìn nhận, xem xét, đánh giá sự vật, hiện tượng mà cụ thể là những tình tiết của vụ án một cách toàn diện như chứng cứ trực tiếp, gián tiếp, hoàn cảnh điều kiện, không gian, thời gian phạm tội. Mối quan hệ giữa các nhân chứng, vật chứng, sự kiện đã diễn ra, không áp đặt ý thức chủ quan của Kiểm sát viên, không tô hồng hoặc bôi đen, quy kết không có căn cứ. Phải nhìn nhận bản chất và hiện tượng, nguyên nhân khách quan và chủ quan, tất nhiên và ngẫu nhiên của hành vi phạm tội. Phải đứng trên quan điểm duy vật biện chứng và dựa vào bốn yếu tố cấu thành tội phạm để phân tích đánh giá chứng cứ buộc tội hoặc gỡ tội. Từ đó có quan điểm giải quyết vụ án sát đúng đảm bảo cho việc xét xử của Toà án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa đối với bị cáo và mọi người trong xã hội, để họ thực sự “tâm phục, khẩu phục”.
Khách quan trong thực hành quyền công tố còn thể hiện khi Kiểm sát viên tham gia ở phiên toà, phải chú ý nghe ý kiến trình bày của những người tham gia tố tụng, phải kiểm tra phân tích đối chiếu với tình tiết nội dung của vụ án để tìm ra giải pháp giải quyết vụ án đúng đắn, không được chủ quan, tuỳ tiện, không được quy chụp, gán ghép hoặc bảo thủ cho là mình đúng mà coi thường ý kiến của bị cáo, nhân chứng, Luật sư và những người tham gia tố tụng khác. Khách quan trong công tác thực hành quyền công tố còn thể hiện trong nghiên cứu đề xuất giải quyết vụ án phải công minh, chính trực, không thiên vị, không cảm tình, nể nang vô nguyên tắc, hoặc có động cơ, mục đích không trong sáng.
Đối với Kiểm sát viên, sự thận trọng là rất cần thiết; từ việc tiếp nhận, nghiên cứu hồ sơ vụ án, chuẩn bị đề cương xét hỏi, quan điểm xử lý, ý kiến tranh luận với Luật sư.v.v. đều phải thận trọng và chặt chẽ, vấn đề gì chưa rõ, chưa hiểu thì phải chịu khó đọc đi, đọc lại để nắm chắc. Vấn đề gì chưa biết thì phải trao đổi học hỏi đồng nghiệp, tập thể để biết, không được tự ti hoặc tự đại cho mình là người tài giỏi hơn ai hết.
Người Kiểm sát viên thay mặt Nhà nước giữ quyền công tố tại phiên toà nên lời nói, hành động đều ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả công tác và uy tín của ngành Kiểm sát nhân dân; do đó, thận trọng trong hoạt động kiểm sát là không thể thiếu. Nhưng thận trọng để suy xét, để quyết định chứ không phải quá thận trọng để rồi rụt rè, không dám nói, không dám làm, sợ trách nhiệm... Thận trọng để cân nhắc, tính toán để tìm ra phương pháp giải quyết vụ việc đem lại kết quả tối ưu và chính xác nhất.
Thận trọng trong công tác thực hành quyền công tố rất cần thiết vì công tác nghiệp vụ của chúng ta liên quan đến sinh mệnh chính trị của mỗi con người, mỗi gia đình, thận trọng mới đảm bảo được việc tránh làm oan người vô tội, tránh bỏ lọt tội phạm. Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã từng căn dặn đối với người cán bộ Kiểm sát “làm oan một người thì chúng ta không còn lẽ sống vì chúng ta là những người Cộng sản....”. Thận trọng mới có quyết định đúng đắn để: “Xét xử cho đúng người, đúng tội, đúng pháp luật”; "Bất luận thế nào cũng không được để cho dân oán"; “không vì lỗi quên công, không vì công quên lỗi” như lời Bác Hồ đã từng dạy đối với cán bộ ngành Tư pháp.
Để tiếp tục nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm án hình sự, đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp theo tư tưởng Hồ Chí Minh cần thực hiện một số nội dung cơ bản là:
Kiểm sát viên phải coi công tác nghiên cứu hồ sơ vụ án là khâu quan trọng có tính chất quyết định của việc thực hành quyền công tố, Kiểm sát viên phải đọc kỹ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nghiên cứu, phân tích, đánh giá các chứng cứ của vụ án một cách toàn diện, khách quan. Tính khách quan của chứng cứ thể hiện ở các tài liệu, đồ vật, vật chứng có thật tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý chí con người và phù hợp với các tình tiết khác của vụ án mà Cơ quan điều tra đã chứng minh và Toà án cấp sơ thẩm đã thẩm tra xác định tại phiên toà sơ thẩm. Vì vậy, yêu cầu cán bộ, Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, ghi chép, phản ảnh đầy đủ các tài liệu, chứng cứ của vụ án như: lời khai bị cáo, bị hại, người có quyền lợi liên quan, người làm chứng, vật chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, khám nghiệm hiện trường, giám định pháp y... Trên cơ sở đó, Kiểm sát viên phân tích, đánh giá tài liệu, chứng cứ xem có phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án không? Có đủ căn cứ buộc tội bị cáo hay không? Những vấn đề còn mâu thuẫn của vụ án cần phải giải quyết? Xác định tính có căn cứ pháp luật về quyết định của bản án sơ thẩm để có định hướng giải quyết vụ án theo kháng cáo hoặc kháng nghị phúc thẩm nhằm đảm bảo không oan, sai hoặc bỏ lọt tội.
Sau khi nghiên cứu nắm chắc hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên phải xây dựng đề cương xét hỏi, chuẩn bị nội dung tranh luận tại phiên toà. Việc xét hỏi của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố là để làm sáng tỏ vụ án, xác định tính thực tế khách quan của vụ án tại phiên toà. Vì vậy, Kiểm sát viên phải chuẩn bị kỹ về nội dung xét hỏi đối với bị cáo, bị hại, người liên quan, người làm chứng, bị đơn dân sự, nguyên đơn dân sự... bằng những câu hỏi cụ thể, trong đó dự kiến khả năng bị cáo chối tội và những người tham gia tố tụng khác khai tại phiên toà phúc thẩm khác với những lời khai trước đây nhằm để chủ động trong xét hỏi, tranh luận tại phiên toà phúc thẩm.
Theo các Nghị quyết của Đảng ta về cải cách tư pháp, trong đó nhấn mạnh đến việc nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà; Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị đã nêu rõ “Nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên toà, đảm bảo việc tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác”. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nêu rõ “Nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”. Với tinh thần đó, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố phải làm hết trách nhiệm của mình. Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án Kiểm sát viên cần nắm bắt những vấn đề mâu thuẫn trong lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, ý kiến của Luật sư, người bào chữa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bị đơn dân sự, nguyên đơn dân sự... tranh luận tại phiên toà sơ thẩm để chuẩn bị nội dung đối đáp tại phiên toà phúc thẩm một cách chủ động ứng phó với mọi tình huống diễn biến tại phiên toà phúc thẩm nhằm đảm bảo tính khách quan, có căn cứ pháp luật trong quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên.
Bác Hồ luôn quan tâm giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ các ngành tư pháp nói riêng phải thể hiện đúng là “người đầy tớ trung thành của nhân dân”. Khi lãnh đạo nhân dân đứng lên giành độc lập cho đất nước, lập nên chế độ dân chủ cộng hoà, sau Cách Mạng tháng 8/1945, Bác Hồ đã viết thư cho Hội nghị tư pháp toàn quốc năm 1948 chỉ rõ: Đối với nhân dân: “Các bạn là bậc trí thức, các bạn có cái trách nhiệm nặng nề và vẻ vang là làm gương cho dân trong mọi việc”. Đối với Chính phủ Bác viết: “Các bạn là viên chức của Chính phủ dân chủ cộng hoà... Các bạn phải tuyệt đối trung thành với chính quyền dân chủ”; đối với công việc của ngành tư pháp, Bác dạy bảo: “Tư pháp là một cơ quan trọng yếu của Chính quyền, cho nên càng phải tinh thành, đoàn kết, hợp tác chặt chẽ với các cơ quan khác để tránh những mối xích mích lẫn nhau, nó có thể vì lợi quyền nhỏ và riêng mà hại đến quyền lợi to và chung cho cả tư pháp và hành chính. Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật. Lẽ tất nhiên các bạn cần phải nêu cao cái gương "Phụng công, thủ pháp, Chí công vô tư cho nhân dân noi theo". Nghĩa là phải chăm lo việc công, giữ gìn kỷ cương pháp chế, không vì lợi ích riêng tư mà làm hại việc công, việc chung.
Bác Hồ hết lòng thương yêu dạy bảo cán bộ. Những người làm hại đến tính mệnh, tài sản của nhân dân, làm mất thanh danh, uy tín của Đảng và Nhà nước thì dù họ là ai, cách mạng kỳ cựu, Bộ trưởng hay Thứ trưởng, là gì đi nữa vẫn đưa ra xét xử theo đúng pháp luật, nhất là kẻ thoái hoá, biến chất quan liêu, tham nhũng mà Bác thường gọi là kẻ bất liêm “pháp luật phải thẳng tay trừng trị”.
Như vậy, yếu tố có tính chất quyết định đến mọi thành quả của ngành Kiểm sát nhân dân nói chung, công tác thực hành quyền công tố nói riêng là đội ngũ cán bộ Kiểm sát viên. Do đó, phải chú trọng đổi mới công tác tổ chức cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên vững vàng về lập trường chính trị, nắm vững chuyên môn nghiệp vụ, trong sáng về phẩm chất đạo đức theo lời dạy của Bác Hồ, mỗi cán bộ Kiểm sát phải: “Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn”.
Mỗi lần đọc lại di chúc và những lời dạy ân cần của Bác Hồ để lại trong các bài viết, các tác phẩm và những mẩu chuyện về tấm gương đạo đức của Người, càng tự hào, kiêu hãnh về dân tộc ta, về Bác Hồ vĩ đại, chúng ta càng phải học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ để lòng ta được trong sáng hơn, đời ta được hạnh phúc hơn, cuộc sống quanh ta được tốt đẹp hơn, công việc ta làm đem lại hiệu quả cao hơn và cũng để dâng lên Bác những đài hoa ngát hương thể hiện lòng thành kính biết ơn, quý trọng và kính yêu vô vàn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh.