LỜI DẠY CỦA BÁC HỒ VÀ NHỮNG BÀI HỌC SÂU SẮC
ĐỖ XUÂN TỰU - Phó Vụ trưởng Vụ 3 VKSNDTC
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy cán bộ Kiểm sát phải “Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn”. Trong 5 đức tính trên, các đức tính “chính trực, khiêm tốn” đòi hỏi cán bộ Kiểm sát nói chung, Kiểm sát viên nói riêng phải khiêm tốn, lễ phép với dân. Đối với đồng nghiệp hoặc với các công chức trong bộ máy Nhà nước, Kiểm sát viên phải giúp đỡ thân ái; đối với tự mình phải tu dưỡng rèn luyện để có tác phong sinh hoạt cử chỉ đúng mực, lịch sự, có văn hoá, không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Các đức tính “công minh”, “khách quan”, “thận trọng” đòi hỏi người cán bộ, Kiểm sát viên phải quán triệt sâu sắc và thể hiện được đầy đủ trong công tác nghiệp vụ. Các Kiểm sát viên phải biết kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ chống “lọt” với nhiệm vụ chống “oan”, giữa nhiệm vụ giữ gìn pháp chế với nhiệm vụ bảo vệ quyền dân chủ hợp pháp của công dân; từ đó các tác nghiệp của Kiểm sát viên phải không được quá nhấn mạnh mặt nào để dẫn tới coi nhẹ mặt nào. Chẳng hạn, trong quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án phải coi trọng cả chứng cứ buộc tội lẫn các chứng cứ gỡ tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thực hiện đúng các quy định của pháp luật và quy chế của Ngành.
Trong giai đoạn hiện nay, khi làm công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử án hình sự sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm; để thực hiện được các đức tính “công minh”, “khách quan”, “thận trọng” đòi hỏi phải đảm bảo các yêu cầu sau:
1. Không được hình sự hoá các tranh chấp dân sự, kinh tế hoặc các vi phạm hành chính.
Do các quy định tại Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 1985 về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không rõ ràng, cụ thể, nên có nhiều tranh chấp dân sự, kinh tế đã được đưa vào giải quyết bằng thủ tục tố tụng hình sự. Đó là các vụ tranh chấp khi vay mượn, mua bán theo hợp đồng sau đó một bên do làm ăn thua lỗ hoặc bị người khác chiếm đoạt bỏ trốn, không có khả năng thanh toán trả nợ cho bên kia, nên đã bị cơ quan chức năng quy cho là cố tình chây ỳ để chiếm đoạt tài sản và bị truy tố, dẫn tới thiệt hại rất lớn cho nhiều cá nhân, doanh nghiệp.
Để tránh được vi phạm này, Kiểm sát viên phải vô tư, không vì lợi ích cá nhân hoặc của một tập thể, một ngành, một địa phương mà thiên vị, không đưa ra các quyết định truy cứu trách nhiệm hình sự khi không có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm mà pháp luật quy định. Kiểm sát viên phải cẩn trọng khi yêu cầu xác minh đơn khiếu nại của công dân, nắm vững và vận dụng đúng các yếu tố cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999 (là bắt buộc phải có thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản) trước khi ra các quyết định truy cứu trách nhiệm hình sự bị can.
2. Khi giải quyết vụ án, Kiểm sát viên phải xem xét toàn diện các yếu tố có liên quan đến việc xử lý vụ án.
Trong các vụ án xâm phạm trật tự an toàn xã hội, có nhiều vụ án do tranh chấp đất đai giữa 2 gia đình hoặc 2 tập hợp người dẫn đến việc xô xát, xâm phạm sức khoẻ, tính mạng, tài sản của nhau. Thế nhưng có vụ án, các Kiểm sát viên lại chỉ đưa ra truy tố những người của phía bên này mà không xử lý gì người phạm tội ở phía bên kia, dẫn tới bên bị xử lý hình sự cho là bên kia có thế lực, hoặc hối lộ để cơ quan chức năng bênh vực, còn mình thì bị “trấn áp”; và từ đó khiếu kiện nhiều nơi, khiếu kiện “vượt cấp”.
Để khắc phục tình trạng này, nếu không thể khởi tố 2 vụ án hoặc những người có hành vi phạm tội ở hai bên cùng một lúc thì có thể tách ra khởi tố làm 2 vụ án hoặc 2 nhóm bị can khác nhau trong khoảng thời gian liền kề nhau và phải giải quyết cả 2 phía, công minh theo đúng pháp luật. Cũng bị coi là xử lý vụ án thiếu toàn diện khi trong vụ đánh bạc, thầu đề có 5 người “dưới quyền” chuyên mang các phơi đề đi giao, bán nhưng cơ quan chức năng chỉ gọi hỏi làm rõ 3 hoặc 4 người, bỏ lọt 1 hoặc 2 người khác, sau đó xử lý vụ án và bị can thiếu nghiêm minh.
3. Phải kết tội bị can, bị cáo đúng với tội danh điều luật quy định, với đầy đủ chứng cứ buộc tội và gỡ tội.
Trong thực tế, bên cạnh nhiều vụ án được Kiểm sát viên giải quyết tốt, vẫn còn các vụ án do Kiểm sát viên đề xuất, quyết định truy tố ở tội danh nặng hơn so với tội danh mà họ phạm phải, không chú ý đến sự kết hợp giữa nguyên tắc có lợi cho bị cáo với nguyên tắc kết tội phải có đầy đủ chứng cứ. Trong Bộ luật Hình sự đã quy định các tội mà giữa hành vi phạm tội có các điểm chung có lúc khó phân biệt rạch ròi. Ví dụ giữa tội giết người với tội cố ý gây thương tích, giữa tội cướp và tội cướp giật tài sản, giữa tội giết người (với vai trò đồng phạm) hoặc tội “cố ý gây thương tích” với tội “gây rối trật tự công cộng”. Trong một vụ án có thể 1 bị can có 2 hành vi có dấu hiệu tội phạm. Ví dụ bị can A vừa có dấu hiệu của tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” vừa có dấu liệu của tội “sử dụng trái phép tài sản”; hoặc bị can B vừa có dấu hiệu của tội tham ô, vừa có dấu hiệu của tội cố ý làm trái… có trường hợp tại phiên toà, qua tranh tụng Kiểm sát viên thấy kết tội “tham ô” đối với bị cáo là không “chắc” vì bị cáo không chiếm đoạt tài sản để tiêu xài cá nhân, Kiểm sát viên đã chuyển tội danh truy tố bị cáo về tội “cố ý làm trái…”. Tội “cố ý làm trái…” tuy mức hình phạt thấp hơn nhưng phù hợp hơn với hành vi khách quan của bị cáo và các chứng cứ để buộc tội bị cáo là đầy đủ, vững chắc hơn. Từ đó Hội đồng xét xử đã kết án bị cáo về tội “cố ý làm trái” và cho dù có nhiều ý kiến muốn gỡ tội cho bị cáo thì cũng không “lật lại” được bản án. Song có những trường hợp, tuy bị cáo có sử dụng trái phép tài sản của người khác thông qua hợp đồng kinh tế, nhưng bị cáo luôn kêu oan và có căn cứ chứng minh bị cáo không chiếm đoạt tài sản của người khác để tiêu sài cá nhân; việc Kiểm sát viên truy tố bị cáo về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là không thoả mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm.
Bên cạnh đó, có những vụ án trong giai đoạn điều tra còn để xảy ra các thiếu sót vi phạm nghiêm trọng nhưng Kiểm sát viên không sâu sát, không phát hiện thiếu sót để yêu cầu sửa chữa mà vẫn “hợp thức hoá” cho các sai phạm đó, chẳng hạn như: Kiểm sát viên không tham gia kiểm sát khám nghiệm hiện trường, để xảy ra việc hiện trường chính không được khám nghiệm, thực nghiệm, thu giữ dấu vết vật chứng; Kiểm sát viên không phát hiện và yêu cầu phải có Luật sư, người giám hộ, người phiên dịch trong trường hợp luật yêu cầu phải có. Kiểm sát viên không kiểm sát chặt chẽ để xẩy ra việc giám định lần đầu không đầy đủ, giám định lại vẫn các thành phần cũ hoặc để xảy ra ép cung, truy bức, nhục hình buộc bị can phải nhận cả những hành vi phạm tội mà bị can không thực hiện. Thực tế qua các vụ án do Viện kiểm sát truy tố bị Toà án tuyên huỷ để điều tra lại hoặc tuyên không phạm tội trong thời gian qua đã để lại những bài học sâu sắc về vấn đề này.
4. Kiểm sát viên phải kết luận, đề xuất, quyết định chính xác khi tham gia xét xử.
Yêu cầu của cải cách tư pháp đòi hỏi Kiểm sát viên phải tăng cường tranh tụng tại phiên toà. Song ở nhiều nơi, nhất là ở một số Viện kiểm sát cấp huyện có Kiểm sát viên chưa làm đề cương xét hỏi trước khi đi phiên toà, đã vi phạm Điều 22 Quy chế kiểm sát xét xử. Hậu quả là khi Hội đồng xét xử yêu cầu Kiểm sát viên tranh luận thì Kiểm sát viên không tranh luận, thẩm vấn, chất lượng hoạt động công tố và kiểm sát xét xử tại phiên toà không cao, việc đề xuất khung hình phạt không dựa vào các tình tiết theo luật định mà còn dựa vào “cảm tính” dẫn tới các vi phạm như đề xuất cho bị cáo hưởng án treo không đúng.
5. Kiểm sát viên không chỉ kết luận xử lý chính xác trách nhiệm hình sự mà còn phải kết luận đề xuất xử lý đúng đắn cả vấn đề trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự. Thời gian qua, bên cạnh các vụ án làm đúng, làm tốt, Kiểm sát viên còn bộc lộ một số hạn chế như kết luận, đề xuất việc giải quyết về trách nhiệm hình sự là đúng, là cụ thể nhưng kết luận về trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự lại không cụ thể, phó mặc cho Hội đồng xét xử hoặc thậm chí kết luận, đề xuất sai. Kiểm sát viên phải kịp thời phát hiện những vi phạm các bản án hoặc quyết định của Toà án để đề xuất kháng nghị hoặc kiến nghị đúng đắn.
Tóm lại, việc phát động phong trào thực hiện lời dạy của Bác Hồ đối với cán bộ Kiểm sát là rất cần thiết. Qua đó, mỗi cán bộ, Kiểm sát viên cần soi lại mình, cần luôn luôn phấn đấu tu dưỡng học tập và rèn luyện theo lời dạy của Người để nâng cao đạo đức, trình độ và nâng cao năng suất, chất lượng công tác, phục vụ nhiệm vụ chính trị, phục vụ nhân dân được tốt hơn nữa.