Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (Ban Chỉ đạo) vừa ban hành Thông báo số 22-TB/CQTTBCĐ ngày 20/3/2026 về Kết luận của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Phiên họp chuyên đề về công nghệ chiến lược của Thường trực Ban Chỉ đạo.
Theo đó, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo kết luận chỉ đạo những nội dung sau:
Phát triển công nghệ chiến lược là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là vấn đề chiến lược quốc gia, liên quan trực tiếp đến năng lực cạnh tranh, khả năng tự chủ công nghệ và vị thế của đất nước trong giai đoạn mới. Mặc dù, đến nay đã ban hành danh mục 11 nhóm và 35 sản phẩm công nghệ chiến lược, đồng thời lựa chọn 6 sản phẩm ưu tiên làm ngay, nhưng khâu tổ chức thực hiện vẫn còn lúng túng, chưa tạo được chuyển biến thực chất, chưa có sản phẩm công nghệ chiến lược nào được triển khai bài bản, gắn chặt với yêu cầu của từng ngành, lĩnh vực, địa phương, doanh nghiệp tạo ra giá trị hiện hữu và đóng góp rõ nét vào phát triển kinh tế.
Qua các báo cáo và ý kiến thảo luận tại Phiên họp, Thường trực Ban Chỉ đạo thẳng thắn nhìn nhận 3 điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là: Việc xác định một số công nghệ chiến lược chưa thực sự gắn với cấu trúc công nghiệp và nhu cầu phát triển của nền kinh tế, cũng như tiềm năng và lợi thế của Việt Nam; cơ chế tổ chức thực thi chưa rõ đầu mối chịu trách nhiệm xuyên suốt, thiếu sự điều phối liên ngành đủ mạnh; vai trò của doanh nghiệp và thị trường trong phát triển công nghệ chiến lược chưa được phát huy đầy đủ.
Thường trực Ban Chỉ đạo yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện quyết liệt 6 định hướng lớn và 6 việc cần làm ngay sau đây:
Về 6 định hướng lớn
Thứ nhất, mục tiêu phát triển công nghệ chiến lược phải xuất phát từ nhu cầu phát triển của nền kinh tế và lợi ích lâu dài của quốc gia, đó là nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh, hình thành các ngành công nghiệp mới và bảo đảm tự chủ về công nghệ trong những lĩnh vực then chốt.
Thứ hai, xác định Danh mục công nghệ chiến lược theo 2 nhóm:
- Nhóm các công nghệ đã có thị trường, có thể tạo ra tác động lớn và trực tiếp đến phát triển kinh tế như: Nông-lâm-thuỷ sản, công nghiệp chế biến, dệt may, da giày, xây dựng, thép, năng lượng... Định hướng yêu cầu doanh nghiệp giữ vai trò dẫn dắt đầu tư; Nhà nước giữ vai trò hỗ trợ, tạo thị trường thông qua chính sách mua sắm công và ban hành các gói hỗ trợ phù hợp; các cơ sở nghiên cứu, giáo dục đại học tham gia nghiên cứu, phát triển và đào tạo nhân lực.
- Nhóm các công nghệ tạo động lực tăng trưởng mới, công nghệ nền tảng cho tương lai, công nghệ bảo đảm tự chủ trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng (như: Công nghệ lượng tử, công nghệ tên lửa, lò phản ứng hạt nhân nhỏ, công nghệ phục vụ phát triển kinh tế độ cao/không gian tầm thấp, vệ tinh nhỏ, UAV...): Nhà nước chủ động đầu tư, đặt hàng (mua sản phẩm hoặc nghiên cứu) và dẫn dắt; doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu, cơ sở đào tạo tham gia phối hợp triển khai.
Thứ ba, các cơ chế, chính sách phải được thiết kế theo hướng khuyến khích mạnh mẽ doanh nghiệp đầu tư vào khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp tư nhân, đưa các doanh nghiệp thực sự trở thành trung tâm của hệ sinh thái công nghệ.
Thứ tư, tập trung nguồn lực cho một số lĩnh vực thật sự trọng điểm, kiên quyết khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, lãng phí. Phải lựa chọn đúng các công nghệ có ý nghĩa chiến lược để đầu tư theo nguyên tắc: Chọn lọc tinh gọn, nhưng triển khai quyết liệt, chuyên sâu, đầu tư bài bản, đủ lớn để ra sản phẩm cuối cùng.
Thứ năm, đổi mới mạnh mẽ mô hình tổ chức thực hiện và xác định rõ trách nhiệm người đứng đầu.
Thứ sáu, đặc biệt coi trọng nguồn nhân lực chất lượng cao và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Về 6 việc cần làm ngay
Rà soát và hoàn thiện Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược theo hướng tinh gọn, tập trung vào những lĩnh vực có ý nghĩa quyết định đối với phát triển đất nước cả trước mắt và lâu dài.
Thiết lập cơ chế chỉ đạo và điều phối thống nhất ở cấp Chính phủ để tổ chức triển khai các chương trình phát triển công nghệ chiến lược.
Khẩn trương ban hành bộ tiêu chuẩn về công nghệ chiến lược, công nghệ lõi và sản phẩm công nghệ chiến lược (trong đó bao gồm việc xác định công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược).
Rà soát, hoàn thiện cơ chế tài chính, kinh phí cho phát triển công nghệ chiến lược, trọng tâm là các cơ chế đặc thù gắn với kết quả đầu ra và chấp nhận rủi ro có kiểm soát, cơ chế ưu đãi về thuế, tín dụng, hỗ trợ lãi suất, đồng tài trợ công - tư, cơ chế sử dụng ngân sách nhà nước đặt hàng mua sắm...
Rà soát, điều chỉnh và xây dựng chương trình đào tạo nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển công nghệ chiến lược; khuyến khích hình thành nhóm các chuyên gia đầu ngành, nhóm nghiên cứu mạnh và tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp, viện nghiên cứu, chương trình công nghệ trọng điểm và hợp tác quốc tế.
Tập trung tháo gỡ ngay những khó khăn, vướng mắc của các bộ, ngành, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học do Cơ quan Thường trực chuyển đến. Yêu cầu các bộ, cơ quan theo chức năng, nhiệm vụ kịp thời tháo gỡ theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết bảo đảm phù hợp với chủ trương của Đảng, Nhà nước và quy định pháp luật.