Chuyển giao quyền yêu cầu là quy định trong phần nghĩa vụ, giúp các bên dịch chuyển quyền. Qua nghiên cứu quy định của pháp luật Anh, Hoa Kỳ liên quan đến chế định này, tác giả đưa ra kiến nghị nhằm bổ sung, hoàn thiện các quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 như: Khái niệm, bản chất, căn cứ phát sinh, hệ quả pháp lý của chuyển giao quyền yêu cầu.
1. Khái niệm quyền yêu cầu và chuyển giao quyền cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự
Chuyển giao quyền yêu cầu (QYC), hiểu theo nghĩa thông thường là một người có QYC đối với người khác nhưng họ không thực hiện QYC này đối với người đó mà chuyển giao quyền này sang cho một chủ thể khác.
Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005, BLDS năm 2015 có đề cập đến quy định về chuyển giao QYC nhưng chưa nêu rõ khái niệm của việc chuyển giao QYC. Nhiều quan điểm đều xác định chuyển giao QYC là quan hệ 03 bên gồm bên chuyển giao, bên nhận chuyển giao (bên thế quyền) và bên có nghĩa vụ. Theo đó, bên chuyển giao có QYC đối với bên có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ nhưng họ không thực hiện quyền này mà chuyển giao cho bên thứ ba được gọi là bên thế quyền hay bên nhận chuyển giao.
Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy pháp luật của một số quốc gia có quy định cụ thể về khái niệm này. Theo pháp luật Hoa Kỳ, tại Restatement (Second) of Contracts, Sec-tion 317 quy định: “Chuyển giao QYC” (assignment of claims) là quá trình trong đó một bên (gọi là bên chuyển giao - assignor) chuyển giao quyền pháp lý của mình liên quan đến khoản thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối với một bên khác (gọi là bên nhận chuyển giao - assignee). Khi QYC được chuyển giao, bên nhận chuyển giao có quyền thực thi các quyền và yêu cầu thanh toán từ bên thứ ba (gọi là bên có nghĩa vụ - obligor), tương tự như những gì bên chuyển giao có thể làm trước khi chuyển giao. Ngoài ra, Điều 2642 BLDS bang Louisiana quy định về chuyển giao quyền trong hợp đồng (Assignment of rights) nêu rõ, các quyền phát sinh từ hợp đồng có thể được chuyển giao cho một người khác, trừ khi luật hoặc hợp đồng cấm việc chuyển giao. Điều 2653 BLDS bang Louisiana quy định trong trường hợp có sự chuyển giao QYC, bên nhận chuyển giao sẽ có quyền thực thi tất cả các quyền của bên chuyển giao đối với bên có nghĩa vụ, và người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đó cho bên nhận chuyển giao khi đã nhận được thông báo về việc chuyển giao. Tương tự, ở Anh, chuyển giao QYC là quá trình một bên (bên chuyển giao - assignor) chuyển giao quyền pháp lý của mình để yêu cầu một lợi ích hoặc quyền lợi từ bên thứ ba (người có nghĩa vụ - obligor) cho một bên khác (bên nhận chuyển giao/được chuyển giao - assignee). Sau khi việc chuyển giao hoàn thành, bên nhận chuyển giao có thể yêu cầu người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên chuyển giao (Law of Property Act 1925, Section 136).
Tóm lại, chuyển giao QYC (assignment of claim) có các đặc điểm chính như sau: (i) Không cần sự đồng ý của bên có nghĩa vụ; (ii) Chuyển giao đầy đủ quyền cho bên thế quyền; (iii) Không làm thay đổi nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ; (iv) Tính liên tục của quyền thể hiện ở việc QYC được tiếp tục và được thực hiện đối với người nhận chuyển giao.
Từ phân tích trên, tác giả cho rằng, cần bổ sung khái niệm cụ thể về chuyển giao QYC tại khoản 1 Điều 365 BLDS năm 2015 như sau: Chuyển giao QYC là thỏa thuận mà theo đó một bên (gọi là bên chuyển giao) chuyển giao QYC thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ từ một bên khác (gọi là bên có nghĩa vụ) sang một bên thứ ba (gọi là bên nhận/được chuyển giao hay là bên thế quyền). Sau khi việc chuyển giao hoàn thành, bên nhận chuyển giao có QYC người có nghĩa vụ thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết với tư cách của bên có quyền đầu tiên.
2. Bản chất của chuyển giao quyền yêu cầu
Theo luật pháp Anh và Hoa Kỳ, QYC (claims) được coi là quyền tài sản (property rights), đặc biệt khi nó liên quan đến QYC thanh toán một khoản tiền hoặc thực hiện một nghĩa vụ theo hợp đồng. Điều này thể hiện ở những đặc điểm như: (i) Quyền yêu cầu phát sinh từ một hợp đồng hoặc một giao dịch pháp lý có thể được chuyển giao trong giao lưu dân sự, thương mại và có giá trị kinh tế[1] và “bên nắm giữ QYC có thể thực hiện quyền của mình để thu hồi một khoản tiền hoặc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ từ bên có nghĩa vụ; (ii) Quyền yêu cầu có thể được chuyển nhượng cho người khác hoặc có thể được sử dụng làm tài sản đảm bảo cho các khoản vay. Những đặc điểm này cho thấy QYC có thể được coi như một quyền về tài sản[2]. Chuyển giao quyền là một hành vi thể hiện ý định của bên chuyển giao nhằm chuyển giao quyền cho bên nhận chuyển giao. Theo đó, quyền của bên chuyển giao đối với nghĩa vụ thực hiện của bên có nghĩa vụ sẽ bị chấm dứt một phần hoặc toàn bộ, và bên nhận chuyển giao sẽ có quyền đối với việc thực hiện nghĩa vụ đó[3]. Quyền yêu cầu liên quan đến quyền về tài sản gọi là “choose in action” - đây là một thuật ngữ pháp lý xuất phát từ tiếng Pháp, được sử dụng trong pháp luật Anh và Hoa Kỳ. Thuật ngữ này dùng để chỉ một loại quyền tài sản không thể sở hữu ngay lập tức thông qua hành động vật chất, mà phải thực hiện thông qua hành động pháp lý hoặc tố tụng. “Chose in action[4]” thường bao gồm QYC một khoản nợ hoặc một tài sản mà người yêu cầu không thể chiếm hữu được mà phải thông qua việc khởi kiện hoặc hành động pháp lý khác. Ví dụ, một khoản thanh toán hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại; quyền khởi kiện đòi tài sản; QYC thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng. Nhìn chung, “chose in action” liên quan đến các quyền tài sản vô hình, mà người sở hữu không thể nắm giữ mà chỉ có thể thực hiện thông qua yêu cầu chủ thể khác hoặc thông qua Tòa án[5].
Ngoài ra, theo quan niệm thông thường thì QYC thường gắn liền với quan hệ hợp đồng (assignment of contract) nên “đối tượng của chuyển giao QYC theo hợp đồng là tài sản như doanh nghiệp, khoản nợ… Quyền hợp đồng có thể xem là quyền sở hữu của chủ thể nắm giữ quyền trong quan hệ hợp đồng và có thể chuyển giao. Quyền tiếp cận đối với đối tượng được chuyển giao áp dụng cho các khoản nợ như quyền đòi nợ và như vậy các đối tượng của hợp đồng đều có thể quy ước thành giá trị và điều này có thể xem xét QYC là quyền tài sản”[6].
Tương tự, theo pháp luật Anh, chuyển giao quyền yêu cầu thông thường là một trường hợp khoản thanh toán được thực hiện cho chủ nợ được chuyển giao, và bên có nghĩa vụ vẫn không xóa bỏ khoản nợ. Khi bên có nghĩa vụ được thông báo về việc chuyển giao, khoản nợ vẫn tiếp tục tồn tại. Quyền định đoạt hoặc thanh lý một tài sản có thể được coi là đặc điểm chính của quyền sở hữu tài sản. Quyền này không còn tồn tại ở bên chuyển giao sau khi việc chuyển giao đã được thông báo cho bên có nghĩa vụ, bản thân quyền này của bên chuyển giao đã bị từ bỏ khi việc chuyển giao quyền được thực hiện. “Các Tòa án công bằng coi các khoản nợ là tài sản và sự cần thiết phải có hành vi pháp lý để chuyển giao tài sản thành quyền sở hữu và điều này được thực hiện thông qua công cụ pháp lý là chuyển giao QYC”[7].
Ở Việt Nam, BLDS hiện hành chưa có quy định cụ thể về việc QYC có phải là quyền tài sản hay không? Có quan điểm cho rằng, QYC có thể được xem dưới góc độ pháp luật tài sản và “bản chất của QYC là một quyền tài sản, đây là một trong bốn loại tài sản được quy định trong BLDS Việt Nam”[8], “Quyền yêu cầu có thể trị giá được bằng tiền nên có thể chuyển giao được trong giao lưu dân sự, trừ khi bị pháp luật cấm hoặc hạn chế hoặc các bên có thỏa thuận khác...[9]
Có thể thấy, QYC được xác định như một quyền về tài sản, thường gắn liền với các đối tượng của giao dịch như quyền thừa kế, quyền đòi nợ, QYC thanh toán theo hợp đồng, QYC bồi thường... Các quyền này đều mang tính chất của quyền tài sản; được công nhận là một quyền tài sản theo pháp luật Anh, Hoa Kỳ. Vì vậy, tác giả đề xuất pháp luật dân sự Việt Nam nên theo hướng xác định QYC thực hiện nghĩa vụ mang những bản chất như: (i) Phát sinh trong quan hệ dân sự; (ii) Có thể được xác định là quyền tài sản; (iii) Là đối tượng của giao dịch hợp pháp và có thể chuyển dịch quyền từ chủ thể này sang chủ thể khác.
3. Căn cứ phát sinh chuyển giao quyền yêu cầu theo pháp luật Việt Nam
Dưới góc độ pháp lý và thông qua thực tiễn xét xử, QYC có thể được chuyển giao thông qua thỏa thuận hoặc luật định.
Thứ nhất, chuyển giao QYC theo thỏa thuận. Theo khoản 1 Điều 365 BLDS năm 2015: Bên có QYC thực hiện nghĩa vụ dân sự có thể chuyển giao QYC đó cho người thế quyền theo thỏa thuận. Quy định này cho thấy chuyển giao QYC có thể được tiến hành thông qua “thỏa thuận”. Ví dụ: A nợ B 02 tỉ. Tuy nhiên, trước đó B nợ C một khoản tiền tương đương. B và C thỏa thuận về việc B chuyển giao quyền đòi nợ cho C và gửi thông báo về sự thỏa thuận này đến A. Đây là một ví dụ điển hình cho trường hợp chuyển giao QYC theo thỏa thuận.
Địa vị pháp lý của bên thế quyền: Khoản 2 Điều 365 BLDS năm 2015 chỉ quy định “khi bên có QYC chuyển giao QYC cho người thế quyền thì người thế quyền trở thành bên có QYC”; tuy nhiên, BLDS năm 2015 chưa quy định cụ thể bên có quyền đầu tiên còn hay đã chấm dứt quyền, địa vị pháp lý của bên thế quyền, cũng như chưa xác định cụ thể quyền năng của bên thế quyền trong quan hệ với bên có nghĩa vụ và điều này dẫn đến phát sinh tranh chấp trong thực tế khi các đương sự chưa hiểu rõ quyền năng của bên thế quyền.
Pháp luật Hoa Kỳ quy định cụ thể địa vị pháp lý của bên có quyền đầu tiên và bên thế quyền trong trường hợp quyền được chuyển giao: Việc chuyển giao quyền là biểu hiện ý định chuyển giao quyền của người chuyển giao quyền đó, trong đó quyền thực hiện của người chuyển giao bởi người có nghĩa vụ bị xóa bỏ toàn bộ hoặc một phần và người được chuyển giao được quyền thực hiện quyền chuyển giao này[10].
Thứ hai, chuyển giao QYC theo pháp luật. Bên cạnh chuyển giao quyền theo thỏa thuận, thực tiễn cũng tồn tại trường hợp chuyển giao QYC hay thế quyền không thông qua sự thỏa thuận mà theo luật định. Chẳng hạn như trường hợp thế quyền sau khi thực hiện trách nhiệm bảo hiểm: Công ty V4 và Công ty V ký hợp đồng vận chuyển, Công ty bảo hiểm G và Công ty V4 đã ký hợp đồng bảo hiểm đối với số hàng hóa được vận chuyển bằng đường biển. Khi xảy ra thiệt hại do thiếu hụt hàng hóa trong quá trình vận chuyển, Công ty G đã bồi thường toàn bộ cho Công ty V4 theo hợp đồng bảo hiểm giữa hai bên, Công ty V4 đã có văn bản chuyển giao QYC cho Công ty G và theo Tòa án thì Công ty G có quyền thay Công ty V4 khởi kiện đối với bên mà Công ty G cho rằng có lỗi đã gây ra thiệt hại là Công ty V. Trường hợp này Tòa án đã xác định Công ty bảo hiểm G được thế quyền sau khi thực hiện trách nhiệm bảo hiểm[11].
Việc thế quyền đòi bồi thường được quy định rải rác trong luật chuyên ngành như: Điều 326 Bộ luật hàng hải năm 2015 quy định “khi đã trả tiền bồi thường cho người được bảo hiểm, người bảo hiểm được quyền truy đòi người có lỗi gây ra tổn thất đó (sau đây gọi là người thứ ba) trong phạm vi số tiền đã trả. Người bảo hiểm thực hiện quyền này theo quy định đối với người được bảo hiểm”. Ngoài ra, khoản 4 Điều 16 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2022 quy định “nguyên tắc thế quyền”, theo đó người được bảo hiểm có trách nhiệm chuyển giao cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài QYC người thứ ba có hành vi gây thiệt hại chịu trách nhiệm bồi hoàn trong phạm vi số tiền bồi thường bảo hiểm. Nguyên tắc này không áp dụng đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và hợp đồng bảo hiểm sức khỏe.
Về vấn đề bồi hoàn trong hợp đồng bảo hiểm liên quan đến nguyên tắc thế quyền, pháp luật Anh quy định cụ thể hơn trong việc xác định tư cách của bên thế quyền trong bảo hiểm như sau: Khi xảy ra tổn thất, có thể áp dụng một trong ba phương án sau: (i) Cho phép bên được bảo hiểm giữ cả khoản tiền bảo hiểm và cho phép họ được bồi thường toàn bộ từ người gây thiệt hại (hoặc bên khác mà bên được bảo hiểm có thể thực hiện các quyền hợp đồng); (ii) Cho phép bên được bảo hiểm được đòi khoản bồi thường thiệt hại từ bên gây thiệt hại nếu bên bảo hiểm bị từ chối quyền yêu cầu bồi thường từ người gây thiệt hại hoặc bên vi phạm hợp đồng; hoặc (iii) Cho phép bên được bảo hiểm nhận bồi thường từ nhà bảo hiểm của mình, nhưng đồng thời cũng cho phép nhà bảo hiểm sử dụng tên của bên được bảo hiểm để đòi lại khoản tiền đã chi trả từ người gây thiệt hại hoặc bên vi phạm hợp đồng. Đây cũng là phương án được chọn để giải quyết hầu hết các tổn thất được bảo hiểm và được gọi là thế quyền (subrogation). Nguyên tắc này được áp dụng trong lĩnh vực bảo hiểm tài sản và trách nhiệm - đối với trường hợp bồi thường thiệt hại trong hợp đồng[12]. Ở đây, luật quy định công ty bảo hiểm sau khi đã bồi thường thiệt hại đương nhiên được thế quyền bên được bảo hiểm để đòi bên gây thiệt hại phải bồi hoàn.
Từ các quy định này, có thể thấy pháp luật quy định cho phép bên bảo hiểm đương nhiên được thế quyền của bên được bảo hiểm yêu cầu bên có lỗi phải bồi thường khoản tiền mà bên bảo hiểm đã trả cho bên được bảo hiểm. Đây là trường hợp pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật Anh quy định là một hình thức thế quyền.
Tuy nhiên, chuyển giao QYC trong trường hợp này chỉ có QYC theo luật định (đối tượng được chuyển giao cho bên thế quyền) được chuyển giao, không phải chuyển giao toàn bộ hợp đồng. Những nội dung khác có liên quan đến hợp đồng giữa bên có quyền đầu tiên với bên có nghĩa vụ trong hợp đồng có được chuyển giao luôn hay không, BLDS chưa quy định cụ thể. Bộ luật Dân sự Việt Nam chỉ mới quy định khi chuyển giao QYC thì bên thế quyền trở thành bên có QYC, không có quy định nào xác định ranh giới giữa chuyển giao QYC và chuyển giao hợp đồng. Với phạm vi điều chỉnh tương đối rộng của BLDS thì việc bổ sung các quy định liên quan đến những ràng buộc pháp lý khác trong chuyển giao QYC là cần thiết. Khác với pháp luật Việt Nam, pháp luật một số nước đã có quy định về quyền khởi kiện đối với bên thế quyền, theo đó “người bảo hiểm, sau khi đã trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm, được thay thế người được bảo hiểm trong việc đòi và khởi kiện (gọi là thế quyền) đối với khoản nợ tương đương với khoản tiền bảo hiểm mà người bảo hiểm đã thanh toán cho người được bảo hiểm”[13]. Pháp luật hợp đồng Hoa Kỳ cũng có quy định tương tự: “Bên tiếp nhận quyền được chuyển giao sẽ chỉ có những quyền theo đúng với những gì mà bên đã chuyển giao cho mình có được theo hợp đồng ban đầu mà không thêm hoặc tạo ra quyền mới. Bên nhận chuyển giao có các quyền của bên chuyển giao trong việc tham gia các vụ kiện chống lại bên có nghĩa vụ trong hợp đồng. Tương tự, các quyền này của bên tiếp nhận chuyển giao quyền cũng có thể bị phản đối bởi bên có nghĩa vụ thực hiện”[14]. Như vậy, pháp luật Hoa Kỳ đã có quy định tương đối cụ thể về vấn đề này, trong trường hợp xảy ra tranh chấp giữa các bên trong chuyển giao quyền thì bên thế quyền có thể kiện bên có nghĩa vụ với tư cách của người có quyền đầu tiên.
Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định cụ thể về chuyển giao quyền theo thỏa thuận nhưng đối với những trường hợp QYC đương nhiên được chuyển giao theo luật định hoặc là thế quyền khi đã thực hiện thay nghĩa vụ thì chưa đề cập cụ thể trong chương về nghĩa vụ dân sự.
Bộ luật Dân sự bang Loussiana, Hoa Kỳ quy định bên cạnh chuyển giao QYC theo thoả thuận có những trường hợp chuyển giao theo luật định như: Chuyển giao QYC bồi thường, chuyển giao quyền khởi kiện, chuyển giao quyền kèm theo biện pháp bảo đảm, chuyển giao QYC bồi hoàn bảo hiểm, chuyển giao quyền thừa kế đối với bất động sản[15]. Ngoài ra, việc chuyển giao có thể theo luật, trong trường hợp đó, quyền sở hữu hợp pháp có thể được chuyển giao, như trong trường hợp của người thi hành di chúc hoặc người quản lý. Tương tự như vậy, theo các hành vi phá sản và trong một số trường hợp mà luật lệ trao quyền sở hữu hợp pháp cho người tiếp quản[16]. Theo tác giả, pháp luật dân sự Việt Nam nên quy định cụ thể về trường hợp chuyển giao QYC trong chương nghĩa vụ dân sự.
4. Hệ quả pháp lý của chuyển giao quyền yêu cầu
Thứ nhất, giải phóng bên có quyền đầu tiên và xác lập địa vị quyền tương tự cho bên thế quyền. Trong trường hợp chuyển giao QYC theo thỏa thuận, Điều 365 BLDS năm 2015 quy định: Người chuyển giao QYC không phải chịu trách nhiệm về khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Về nguyên tắc, theo Điều 366 BLDS năm 2015 thì khi chuyển giao QYC, người chuyển giao QYC phải thông báo những thông tin cần thiết cho người thế quyền biết về QYC được chuyển giao. Trong trường hợp người thế quyền đồng ý nhận QYC đó thì người đó sẽ trở thành người có QYC. Người có quyền đã chuyển giao không phải chịu trách nhiệm về khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ. Lúc này, bên có nghĩa vụ tự chịu trách nhiệm về việc thực hiện nghĩa vụ đối với bên được chuyển giao, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Như vậy, hệ quả pháp lý của chuyển giao QYC theo thỏa thuận đã được quy định cụ thể. Tuy nhiên, đối với trường hợp chuyển giao QYC theo pháp luật thì chưa có quy định rõ về hệ quả này. Tác giả cho rằng, căn cứ phát sinh về chuyển giao QYC có thể khác nhau theo thỏa thuận hay theo pháp luật nhưng về cơ bản, hệ quả pháp lý là giống nhau vì bản chất của chúng không khác nhau. Vì vậy, BLDS năm 2015 cần quy định cụ thể những nội dung được giải quyết trong chuyển giao QYC theo thỏa thuận được áp dụng tương tự cho chuyển giao QYC theo pháp luật.
Khi hai bên đã thỏa thuận thực hiện một giao dịch dân sự chuyển giao QYC và giao dịch này đã hoàn thành, thì đồng thời chấm dứt quyền dân sự của bên đã chuyển giao QYC. Một quan hệ dân sự mới được hình thành, đó là mối quan hệ giữa bên thế quyền với bên có nghĩa vụ. Về nguyên tắc, từ thời điểm việc chuyển giao QYC hoàn thành, bên chuyển giao QYC không phải chịu trách nhiệm về khả năng thực hiện nghĩa vụ sau khi đã chuyển giao QYC, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Pháp luật Hoa Kỳ cũng có quy định cụ thể: Nếu người nợ trả nợ cho chủ nợ ban đầu (original creditor) mà không biết về việc chuyển giao, họ không phải chịu trách nhiệm với bên nhận chuyển giao. Tuy nhiên, nếu họ trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng sau khi biết về việc chuyển giao, họ sẽ phải chịu trách nhiệm với bên nhận chuyển giao. Điều này cho thấy, việc nhận thức về việc chuyển giao hợp đồng có vai trò quan trọng trong việc xác định trách nhiệm của người nợ[17].
Thứ hai, nghĩa vụ thông báo cho bên có nghĩa vụ và cung cấp thông tin, chuyển giao giấy tờ liên quan cho người thế quyền. Khoản 2 Điều 365 BLDS năm 2015 quy định: Trường hợp bên chuyển giao QYC không thông báo cho bên có nghĩa vụ về việc chuyển giao QYC, thì bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ đã phát sinh trước khi nhận được thông báo về việc chuyển giao QYC. Bên cạnh đó, người chuyển giao QYC phải cung cấp thông tin cần thiết, chuyển giao giấy tờ cho người thế quyền[18]. Trường hợp người chuyển giao QYC vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin mà gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại[19]. Tuy nhiên, BLDS năm 2015 chưa quy định cụ thể nếu không thông báo thì hậu quả như thế nào, trường hợp bên chuyển giao QYC không cung cấp thông tin nhưng chưa xác định thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ này thì hướng xử lý ra sao.
Trong cả hệ thống pháp luật Hoa Kỳ và Anh, nghĩa vụ thông báo cho bên có nghĩa vụ trong trường hợp chuyển giao QYC là rất quan trọng. Ở Anh, Đạo luật tài sản năm 1925 (Law of Property Act 1925), section 136: Bên chuyển giao có trách nhiệm thông báo cho bên có nghĩa vụ về việc chuyển giao QYC. Nếu không thông báo, bên có nghĩa vụ có thể tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng với bên chuyển giao mà không biết quyền đã được chuyển giao. Trong trường hợp này, bên nhận chuyển giao sẽ không thể yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ đối với họ, vì bên có nghĩa vụ không biết về sự chuyển giao. Ở Hoa Kỳ, theo quy định tại Restatement (Second) of Contracts, Section 317: Bên chuyển giao không bắt buộc phải nhận được sự đồng ý của bên có nghĩa vụ trước khi thực hiện chuyển giao QYC, nhưng bên có nghĩa vụ phải được thông báo về việc chuyển giao để bảo vệ quyền lợi của mình. Nếu bên có nghĩa vụ không được thông báo, họ có thể tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình với bên chuyển giao đầu tiên mà không chịu trách nhiệm pháp lý đối với bên được chuyển giao. Thiết nghĩ, BLDS Việt Nam năm 2015 cần bổ sung hậu quả này trong khoản 2 Điều 365 và khoản 2 Điều 366 như sau:
Khoản 2 Điều 365 (bổ sung): Trường hợp bên chuyển giao QYC không thông báo cho bên có nghĩa vụ về việc chuyển giao QYC; thì bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ đã phát sinh trước khi nhận được thông báo về việc chuyển giao QYC. Bên nhận chuyển giao (bên thế quyền) phải chịu rủi ro về việc không thu hồi được khoản tiền hoặc quyền lợi mà họ đáng ra được nhận, và bên chuyển giao có thể phải bồi thường cho bên nhận chuyển giao nếu việc không thông báo dẫn đến thiệt hại.
Khoản 2 Điều 366 (bổ sung): Người chuyển giao QYC không cung cấp thông tin cần thiết, chuyển giao giấy tờ có liên quan cho người nhận chuyển giao/người thế quyền thì phải chịu những hậu quả phát sinh đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ này, trường hợp gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại./.
———————
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ luật Dân sự bang Lousiana (Hoa Kỳ) năm 2015.
2. Law of Property Act 1925.
3. Restatement (Second) of Contracts.
4. Uniform Commercial Code (UCC).
5. Bộ luật bảo hiểm Pháp (sửa đổi năm 2005).
6. W Blackstone (1766), Commentaries on the Laws of England, Oxford - Clarendon Press.
7. Garner A. Bryan (2024), Black Law Dictionary, Thomson West (Eighth Edition).
8. Arthur L. Corbin, “Asignment of contract rights”, The University of Pennsylvania Law Review Vol. 74, No. 3 (Jan, 1926).
9. Clarence D. Ashley (1910), “Assignment of contract”, The Yale Law Journal,, Vol.19. issue 3.
10. Hasson, Reuben A. (1985), “Subrogation in Insurance Law - A Critical Evalua-tion”, Oxford Journal of Legal Studies.
11. Liên Đăng Phước Hải, “Chuyển giao QYC theo pháp luật Việt Nam và Nhật Bản”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 01/2022.
12. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2023), Giáo trình pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế (Tái bản lần thứ ba, có sửa đổi, bổ sung), Nxb. Hồng Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
13. Bridge, Michael (2015), “The nature asignment and Non - Asignment clauses”, Law Quaterly Review.
14. Viện Khoa học xã hội nhân văn - Viện ngôn ngữ, 2007, Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Từ điển Bách Khoa, Hà Nội.
15. Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn (2007), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Văn hóa - Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.973.
16. Greg Tolhurst (2016), The assignment of contractual rights (2nd edition), Hart Publishing.
17. Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp), (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển Bách Khoa, Hà Nội.
18. Bản án số 01/2022/KDTM-PT về kiện đòi bồi thường thiệt hại hàng hóa theo hợp đồng vận chuyển bằng đường biển của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
[1] Greg Tolhurst (2016), The assignment of contractual rights (2nd edition), Hart Publishing, pp.22.
[2] Điều 9 Uniform Commercial Code (UCC), sửa đổi năm 2022.
[3] Section 317 Restatement (Second) of Contracts năm 1981.
[4] Thuật ngữ này được phân biệt với khái niệm “Chose in possession” đề cập đến các tài sản hữu hình mà người có quyền có thể kiểm soát trực tiếp (ví dụ xe cộ, bất động sản).
[5] Bryan A. Garner (E.C) (2009), Black’s Law Dictionary (9th E.D), West Publishing Co., pp.275.
[6] Greg Tolhurst (2016), The assignment of contractual rights (2nd edition), Hart Publishing, pp.52.
[7] . Bridge, Michael (2015), “The nature asignment and Non - Asignment clauses”, Law Quaterly Review, pp.2 & 3.
[8] Liên Đăng Phước Hải, “Chuyển giao QYC theo pháp luật Việt Nam và Nhật Bản”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 01/2022, tr.44.
[9] Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp), 2006, Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển Bách Khoa, Hà Nội, tr.648.
[10] American Law Institute (1981), Restatement Second of Contracts § 317.
[11] Bản án số 01/2022/KDTM-PT về kiện đòi bồi thường thiệt hại hàng hóa theo hợp đồng vận chuyển bằng đường biển của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
[12] Hasson, Reuben A. (1985), “Subrogation in Insurance Law - A Critical Evaluation”, Oxford Journal of Legal Studies, pp.417.
[13] Điều L.121-12 Bộ luật bảo hiểm Pháp (sửa đổi năm 2005).
[14] Join Ascroft and Janet Ascroft (2011), Law for Business, South Western Learning, pp.127.
[15] Từ Điều 2642 đến Điều 2652 BLDS bang Louisiana năm 2015.
[16] Clarence D. Ashley (1909-1910), “Assignment of Contract”, Yale Law Journal Vol.109, issue 3, pp. 186.
[17] Clarence D. Ashley(1910), Assignment of Contract, 19 Yale L.J. vol 109, issue 3, pp.186.
[18] Khoản 1 Điều 366 BLDS năm 2015.
[19] Khoản 2 Điều 366 BLDS năm 2015.