Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra phải áp dụng nhiều hoạt động điều tra xác định sự thật khách quan của vụ án nhằm xác định rõ tội phạm và người phạm tội. Các quy định của BLTTHS năm 2015 về các hoạt động điều tra về cơ bản đã phù hợp với thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự, tuy nhiên, một số hoạt động vẫn còn bất cập, cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện.
1. Về khởi tố bị can và hỏi cung bị can
Thứ nhất, theo Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 (BLTTHS năm 2015), trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra (CQĐT) phải gửi quyết định khởi tố và gửi tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn; trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can hoặc yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định việc phê chuẩn và gửi ngay cho CQĐT. Quy định về thời hạn xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can trên thực tế chỉ áp dụng đối với trường hợp bị can được tại ngoại. Tuy nhiên, đối với trường hợp bị can đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, sau đó CQĐT khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam chuyển Viện kiểm sát xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và lệnh tạm giam thì thời hạn để xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can trong thời hạn 03 ngày theo quy định là không phù hợp. Theo Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quy định về phối hợp giữa CQĐT và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS (TTLT số 04/2018), trường hợp CQĐT chuyển quyết định khởi tố bị can cho Viện kiểm sát trước khi hết thời hạn tạm giữ, gia hạn tạm giữ 24 giờ thì thời hạn tối đa để Viện kiểm sát phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can là không quá 24 giờ. Do đó, cần bổ sung nội dung này vào Điều 179 BLTTHS năm 2015.
Theo quy định thì sau khi nhận quyết định khởi tố bị can cùng tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn, Viện kiểm sát có thể quyết định việc phê chuẩn, không phê chuẩn hoặc đề nghị bổ sung tài liệu, chứng cứ. Theo tác giả, việc quy định hoạt động của Viện kiểm sát trong việc xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can theo 03 nội dung trên về cơ bản là phù hợp. Tuy nhiên, thực tế có trường hợp CQĐT ra quyết định khởi tố bị can và gửi quyết định cho Viện kiểm sát, Viện kiểm sát nhận thấy quyết định khởi tố bị can mặc dù có căn cứ vì có đầy đủ tài liệu xác định bị can phạm tội nhưng tội danh mà bị can bị khởi tố là không đúng. Trường hợp này, căn cứ theo Điều 180 BLTTHS năm 2015 thì Viện kiểm sát có thể ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can hoặc yêu cầu CQĐT ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can (khi tiến hành điều tra nếu có căn cứ xác định hành vi của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố). Tuy nhiên, đối chiếu với Điều 179 thì Viện kiểm sát không có quyền yêu cầu CQĐT thay đổi quyết định khởi tố vụ án, thay đổi quyết định khởi tố bị can ngay khi Viện kiểm sát nhận đề nghị phê chuẩn quyết định khởi tố bị can. Bên cạnh đó, trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu bổ sung, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can. Theo tác giả, quy định này là chưa phù hợp, bởi lẽ không quy định cụ thể thời gian CQĐT phải thực hiện yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu. Một người được xác định có tư cách bị can khi có quyết định khởi tố bị can, trường hợp quyết định khởi tố bị can không có căn cứ thì Viện kiểm sát không phê chuẩn và ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can. Vì vậy, nếu không có quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can thì tư cách bị can vẫn tồn tại. Theo tác giả, cần quy định thời hạn cụ thể để CQĐT phải bổ sung chứng cứ, tài liệu, trường hợp quá thời hạn yêu cầu mà CQĐT không bổ sung được thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can.
Xuất phát từ các lý do trên, cần sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 179 BLTTHS năm 2015 như sau:
“Điều 179. Khởi tố bị can
...
3. … Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can hoặc yêu cầu CQĐT ra quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can hoặc trực tiếp ra quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can hoặc yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định việc phê chuẩn và gửi ngay cho CQĐT.
Trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu thì trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được yêu cầu CQĐT phải bổ sung chứng cứ, tài liệu hoặc có văn bản về việc bổ sung chứng cứ, tài liệu…
Trường hợp xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can đối với người đang bị tạm giữ thì thời hạn xét phê chuẩn không quá thời hạn tạm giữ hoặc gia hạn tạm giữ. Chậm nhất trước khi hết thời hạn tạm giữ hoặc gia hạn tạm giữ 24 giờ, CQĐT phải chuyển hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ xét phê chuẩn, thì thời gian bổ sung chứng cứ, tài liệu không quá thời hạn gia hạn tạm giữ; nếu không bổ sung được chứng cứ, tài liệu trong thời hạn gia hạn tạm giữ thì CQĐT phải có văn bản nêu rõ lý do và đề nghị Viện kiểm sát xem xét, quyết định”.
Thứ hai, khoản 2 Điều 183 BLTTHS năm 2015 quy định: “Trước khi tiến hành hỏi cung lần đầu, Điều tra viên phải giải thích cho bị can biết rõ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 60 của Bộ luật này. Việc này phải ghi vào biên bản”. Như vậy, việc giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị can chỉ được Điều tra viên thực hiện một lần vào thời điểm hỏi cung lần đầu. Tác giả cho rằng, quy định như trên là chưa phù hợp, chưa đảm bảo tốt nhất quyền của bị can. Việc phổ biến quyền và nghĩa vụ trước khi lấy lời khai bị can mà không phụ thuộc vào lần lấy lời khai là khi nào là cần thiết và phù hợp với các quy định khác về lấy lời khai của người bị hại, người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự. Cụ thể: Điều 186 BLTTHS năm 2015 quy định về lấy lời khai người làm chứng: “Trước khi lấy lời khai, Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải giải thích cho người làm chứng biết quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định tại Điều 66 của Bộ luật này. Việc này phải ghi vào biên bản”; Điều 188 BLTTHS năm 2015 quy định về triệu tập, lấy lời khai của bị hại, đương sự: “Việc triệu tập, lấy lời khai của bị hại, đương sự thực hiện theo quy định tại các điều 185, 186 và 187 của Bộ luật này”… Xét về mức độ cần được bảo vệ, bị can là đối tượng dễ bị xâm hại hơn trong quá trình điều tra vụ án hình sự, do đó, việc phổ biến quyền và nghĩa vụ của bị can cần quy định tối thiểu tương ứng với quy định về phổ biến quyền và nghĩa vụ khi lấy lời khai người làm chứng, bị hại... Theo tác giả, việc phổ biến quyền và nghĩa vụ của bị can cần được thực hiện trước tất cả các lần hỏi cung; như vậy Điều 183 BLTTHS năm 2015 cần được sửa đổi như sau:
“Điều 183. Hỏi cung bị can
...
2. Trước khi tiến hành hỏi cung, Điều tra viên phải giải thích cho bị can biết rõ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 60 của Bộ luật này. Việc này phải ghi vào biên bản...”.
2. Các hoạt động điều tra khác
- Về hoạt động nhận dạng:
Hoạt động nhận dạng, nhận biết giọng nói là hai hoạt động có trình tự, thủ tục về cơ bản giống nhau bởi tính chất của hai hoạt động có nét tương đồng nhau. Khoản 1 Điều 190 BLTTHS năm 2015 quy định khi cần thiết, Điều tra viên có thể đưa người, ảnh, hoặc vật cho người làm chứng, bị hại hoặc bị can nhận dạng; khoản 1 Điều 191 BLTTHS năm 2015 quy định khi cần thiết, Điều tra viên có thể cho bị hại, người làm chứng hoặc người bị bắt, tạm giữ, bị can nhận biết giọng nói. Như vậy, có thể thấy người bị bắt, tạm giữ không thể tiến hành cho nhận dạng mà chỉ có thể tiến hành cho nhận biết giọng nói; việc quy định như trên là chưa phù hợp. Do đó, cần sửa đổi quy định tại khoản 1 Điều 190 BLTTHS năm 2015 theo hướng bổ sung chủ thể tiến hành nhận dạng bao gồm cả người bị bắt, tạm giữ, cụ thể:
“Điều 190. Nhận dạng
1. Khi cần thiết, Điều tra viên có thể đưa người, ảnh hoặc vật cho người làm chứng, bị hại hoặc người bị bắt, bị tạm giữ, bị can nhận dạng...”.
- Về hoạt động khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:
Hoạt động khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, tài liệu, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử theo quy định tại Điều 192 BLTTHS năm 2015 chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu khác có liên quan đến vụ án; việc khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện cũng được tiến hành khi cần phát hiện người đang bị truy nã, truy tìm và giải cứu nạn nhân. Để đảm bảo quyền con người trong hoạt động khám xét, Điều 193 BLTTHS năm 2015 quy định lệnh khám xét của những người được quy định tại khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 113 BLTTHS năm 2015 phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành (bảo đảm việc khám xét có căn cứ và hợp pháp, tránh xâm hại đến quyền và lợi ích của người bị khám xét). Tuy nhiên, khoản 2 Điều 193 BLTTHS năm 2015 quy định trong trường hợp khẩn cấp, những người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 110 BLTTHS có quyền ra lệnh khám xét. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi khám xét xong, người ra lệnh khám xét phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ việc, vụ án. Như vậy, trong trường hợp khẩn cấp, lệnh khám xét của những người quy định tại khoản 2 Điều 110 không cần Viện kiểm sát phê chuẩn. Tuy nhiên, pháp luật chưa có quy định cụ thể trường hợp nào là “trường hợp khẩn cấp”. Vì vậy, theo tác giả, cần quy định cụ thể những trường hợp khẩn cấp là trường hợp có căn cứ để nhận định nếu không tiến hành khám xét thì công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu có thể bị tiêu hủy. Đồng thời, về mặt kỹ thuật lập pháp, quy định thẩm quyền khám xét tại đoạn đầu tiên của khoản 1 Điều 193 BLTTHS năm 2015 cũng không bao quát các trường hợp khám xét tại khoản 2 Điều 35 và người có thẩm quyền khám xét quy định tại khoản 2 Điều 193 BLTTHS năm 2015. Bên cạnh đó, cần quy định cụ thể đối với người được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 110 BLTTHS năm 2015 có quyền khám xét người trong trường hợp giữ người. Đồng thời, cần bổ sung khoản 2 Điều 194 về trường hợp khám xét người không cần lệnh bao gồm cả trường hợp giữ người để bao quát cả trường hợp này cho phù hợp, bởi việc giữ người cũng có tính chất tương tự giống trường hợp bắt người. Cụ thể, Điều 193 và Điều 194 BLTTHS năm 2015 cần được sửa đổi, bổ sung cụ thể như sau:
“Điều 193. Thẩm quyền ra lệnh khám xét
1. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113, khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 110 BLTTHS có quyền ra lệnh khám xét. Lệnh khám xét của những người được quy định tại khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.
...”.
Điều 194. Khám xét người
...
3. Có thể tiến hành khám xét người mà không cần có lệnh trong trường hợp giữ người, bắt người hoặc có căn cứ để khẳng định người có mặt tại nơi khám xét giấu trong người vũ khí, hung khí, chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án”.
- Về hoạt động thực nghiệm điều tra:
Theo khoản 1 Điều 204 BLTTHS năm 2015, CQĐT có thể thực nghiệm điều tra bằng cách cho dựng lại hiện trường, diễn lại hành vi, tình huống hoặc mọi tình tiết khác của một sự việc nhất định và tiến hành các hoạt động thực nghiệm cần thiết. Biện pháp thực nghiệm điều tra còn một số nội dung cần được hướng dẫn cụ thể hơn để việc áp dụng được thống nhất. Có quan điểm cho rằng, thực nghiệm điều tra là biện pháp điều tra được tiến hành thông qua các hoạt động thí nghiệm, thực nghiệm đặc biệt trong điều kiện tương tự như điều kiện mà hành vi, sự việc, hiện tượng cần kiểm tra, xác minh đã diễn ra để có cơ sở khách quan kết luận về hành vi, sự việc, hiện tượng; do vậy, trong mọi trường hợp khi thực nghiệm điều tra, CQĐT phải thực nghiệm tại hiện trường nơi xảy ra vụ án. Quan điểm khác cho rằng, đối với trường hợp tình tiết điều luật quy định “diễn lại hành vi, tình huống” thì không nhất thiết phải thực nghiệm tại nơi xảy ra vụ án, mà chỉ cần tại một địa điểm nhất định như trụ sở làm việc hoặc tại nơi giam, giữ bị can là đúng quy định. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng chỉ cho bị can, bị hại, người làm chứng diễn lại hành vi mà bị can khai nhận để kiểm tra, xác minh lại tình tiết đã diễn ra để có cơ sở khách quan kết luận về hành vi, sự việc, hiện tượng đó chứ không nhất thiết phải diễn tả tại hiện trường xảy ra vụ án. Bởi vì, nếu thực nghiệm tại nơi xảy ra vụ án, thì công tác bảo vệ hiện trường là rất phức tạp dẫn đến tốn kém công sức cũng như chi phí cho công tác thực nghiệm điều tra(1). Tác giả đồng tình với quan điểm này bởi lẽ không phải trường hợp nào khi thực nghiệm điều tra cũng cần tiến hành tại nơi xảy ra vụ án, mà còn phụ thuộc vào nội dung tình tiết cần thực nghiệm điều tra. Tuy nhiên, việc thực nghiệm điều tra cần được tiến hành ở địa điểm phù hợp, có đặc điểm về không gian, thời gian tương đồng với nơi xảy ra vụ án, các yếu tố về không gian không ảnh hưởng đến tình tiết được thực nghiệm điều tra. Do đó, cần bổ sung nội dung này trong Điều 204 BLTTHS năm 2015 để thống nhất nhận thức, áp dụng. Đồng thời, cần bổ sung nội dung về thẩm quyền tiến hành thực nghiệm điều tra, bởi theo điểm đ khoản 2 Điều 45 BLTTHS năm 2015 thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cũng có quyền tiến hành thực nghiệm điều tra. Tuy nhiên, Điều 204 BLTTHS chỉ quy định CQĐT, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên có quyền thực nghiệm điều tra là chưa phù hợp. Do đó, Điều 204 BLTTHS năm 2015 cần được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 204. Thực nghiệm điều tra
1. Để kiểm tra, xác minh tài liệu, tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án, CQĐT có thể thực nghiệm điều tra bằng cách dựng lại hiện trường...
Việc thực nghiệm điều tra được tiến hành tại nơi xảy ra vụ án hoặc tại địa điểm khác nếu không ảnh hưởng đến tình tiết được thực nghiệm.
...
4. Trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát, Tòa án tiến hành thực nghiệm điều tra. Việc thực nghiệm điều tra được tiến hành theo quy định tại Điều này”.
- Về hoạt động trưng cầu giám định, định giá tài sản:
Thứ nhất, hiện nay, không có quy định cụ thể về hoạt động giám định giọng nói mà chỉ quy định về biện pháp nhận biết giọng nói (Điều 191 BLTTHS năm 2015). Theo đó, khoản 2 Điều 191 BLTTHS năm 2015 quy định sự có mặt của Giám định viên về âm thanh là bắt buộc. Vậy Giám định viên về âm thanh có phải ban hành kết luận giám định không? Theo khoản 2 Điều 28 Luật giám định tư pháp năm 2012 xác định: “Trong trường hợp giám định cá nhân thì người giám định thực hiện việc giám định ký vào bản kết luận giám định và chịu trách nhiệm cá nhân về kết luận giám định đó”. Thông tư số 33/2014/TT-BCA ngày 05/08/2014 của Bộ Công an quy định chi tiết tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm Giám định viên kỹ thuật hình sự, trong đó có Giám định viên âm thanh nhưng hiện tại các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền vẫn chưa ban hành quy trình cụ thể về giám định âm thanh.
Thứ hai, trong các vụ án liên quan đến việc làm giả, sử dụng giấy tờ giả thì việc giám định xác định giấy tờ giả là bắt buộc. Vì vậy, cần bổ sung thêm quy định về các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định đối với tài liệu giả tại Điều 206 BLTTHS năm 2015, cụ thể:
“Điều 206. Các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định
...
5. Chất ma túy, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, tiền giả, giấy tờ hoặc tài liệu giả, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ;…”.
- Đối với các hoạt động điều tra tố tụng đặc biệt:
So với BLTTHS năm 2003, BLTTHS 2015 đã bổ sung thêm một chương riêng quy định về các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt này khác các hoạt động điều tra khác ở chỗ các biện pháp này được tiến hành một cách bí mật, người bị áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt không được biết khi các biện pháp này ảnh hưởng đến quyền của họ. Đây là sự giới hạn quyền một cách hợp pháp khi giải quyết vụ án hình sự(2). Tuy nhiên, theo tác giả, các quy định về biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt hiện nay còn chưa đầy đủ, cần được bổ sung để hạn chế khả năng có thể xâm hại đến quyền của người tham gia tố tụng.
Cụ thể: Thứ nhất, BLTTHS năm 2015 chưa quy định về đối tượng bị áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt dẫn đến thực tiễn việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt có thể tiến hành với tất cả những người tham gia tố tụng. Việc áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt với các chủ thể - người tham gia tố tụng khác ngoài bị can, người bị nghi thực hiện tội phạm theo tác giả là không phù hợp, bởi lẽ việc áp dụng các biện pháp này chỉ có thể hướng đến chủ thể - bị can (có các căn cứ để xác định họ là người thực hiện hành vi phạm tội). Bên cạnh đó, nếu không có quy định cụ thể về đối tượng bị áp dụng biện pháp này có thể dẫn đến việc các cá nhân khác không phải người tham gia tố tụng cũng có thể bị áp dụng hoạt động điều tra tố tụng đặc biệt. Điều này có thể dẫn đến sự tùy tiện của người có thẩm quyền trong việc áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt trong việc thu thập thông tin cá nhân của đối tượng, bất kể việc thu thập thông tin đó có thực sự cần thiết cho vụ án hay không(3). Do đó, theo tác giả, cần bổ sung một điều luật cụ thể quy định về đối tượng bị áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, theo đó đối tượng áp dụng là bị can hoặc người bị nghi là thực hiện tội phạm.
Thứ hai, về việc xử lý thông tin được thu thập từ các biện pháp điều tra bí mật. Theo Điều 227 BLTTHS năm 2015 thì thông tin, tài liệu thu thập được bằng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt chỉ được sử dụng vào việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự; thông tin, tài liệu không liên quan đến vụ án phải tiêu hủy kịp thời; nghiêm cấm sử dụng thông tin, tài liệu, chứng cứ thu thập được vào mục đích khác. Như vậy, để một tài liệu, thông tin được dùng làm chứng cứ thì phải đáp ứng hai điều kiện là có liên quan đến vụ án và được người có thẩm quyền sử dụng. Vậy việc xử lý các thông tin, tài liệu được thu thập từ các biện pháp điều tra bí mật là các thông tin, tài liệu có liên quan đến vụ án, nhưng không được người có thẩm quyền sử dụng thì xử lý thế nào? Do đó, cần quy định cụ thể trình tự xử lý tài liệu, thông tin được thu thập từ các biện pháp này. Có thể quy định bất kỳ tài liệu, thông tin đủ ba thuộc tính liên quan, khách quan và hợp pháp thì buộc phải dùng làm chứng cứ; thiếu một trong ba thuộc tính thì buộc phải tiêu hủy(4).
Tài liệu tham khảo:
1. Bùi Tiến Đạt, “Hiến pháp hóa nguyên tắc giới hạn quyền con người: Cần nhưng chưa đủ”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 6/2015, tr.3-4.
2. Võ Hồng Phượng - Võ Minh Kỳ, “Quyền riêng tư của cá nhân và các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt”, Tạp chí khoa học kiểm sát,
số 5/2018, tr.35-36.
3. Nguyễn Đức Tiến - Nguyễn Thị Hải Anh, “Hoàn thiện pháp luật về thực nghiệm điều tra trong điều tra các vụ án hình sự”, Tạp chí Nghề luật, số 01/2023, tr.49-50.
4. Thông tư số 33/2014/TT-BCA ngày 05/08/2014 của Bộ Công an, quy định chi tiết tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm Giám định viên kỹ thuật hình sự.
5. Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quy định về phối hợp giữa CQĐT và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(1) Nguyễn Đức Tiến - Nguyễn Thị Hải Anh, “Hoàn thiện pháp luật về thực nghiệm điều tra trong điều tra các vụ án hình sự”, Tạp chí Nghề luật, số 01/2023, tr.49-50.
(2) Bùi Tiến Đạt, “Hiến pháp hóa nguyên tắc giới hạn quyền con người: Cần nhưng chưa đủ”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 6/2015, tr.3-4.
(3) Võ Hồng Phượng - Võ Minh Kỳ, “Quyền riêng tư của cá nhân và các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt”, Tạp chí khoa học kiểm sát, số 5/2018, tr.35.
(4) Võ Hồng Phượng - Võ Minh Kỳ, tlđd, tr.36.