Pháp luật về lao động chưa thành niên hiện đã tương đối đầy đủ, phù hợp với các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế số và Cách mạng công nghiệp 4.0 đòi hỏi Việt Nam phải hoàn thiện khung pháp lý về vấn đề này để hạn chế tình trạng lạm dụng sức lao động của người chưa thành niên, bảo vệ sức khỏe và tạo điều kiện để người chưa thành niên phát triển toàn diện.
Pháp luật Việt Nam hiện ghi nhận cả hai thuật ngữ “trẻ em” và “người chưa thành niên”. Theo Điều 1 Luật trẻ em năm 2016 thì “trẻ em là người dưới 16 tuổi” và Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi”. Pháp luật lao động Việt Nam cũng không có khái niệm “lao động trẻ em” như trong các Công ước của ILO mà chỉ ghi nhận “lao động chưa thành niên là người lao động chưa đủ 18 tuổi” tại khoản 1 Điều 143 Bộ luật lao động (BLLĐ) năm 2019. Dựa vào đặc điểm của lao động chưa thành niên và độ tuổi lao động trẻ em mà ILO quy định, khái niệm “lao động chưa thành niên” được quy định tại các văn bản pháp luật của Việt Nam và khái niệm “lao động trẻ em” được ghi nhận tại các công ước quốc tế có thể thống nhất về mặt nội hàm và được sử dụng với ý nghĩa tương đương.
Về đặc điểm của lao động chưa thành niên, đây là nhóm lao động đang hình thành nhân cách, chưa phát triển toàn diện về thể lực và trí lực, dễ thay đổi và dễ bị ảnh hưởng, tác động bởi môi trường sống và làm việc. Mặt khác, lao động chưa thành niên cũng là nhóm đối tượng được xác định là có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ, do đó, người lao động chưa thành niên cần phải thông qua người đại diện hoặc người giám hộ khi xác lập quan hệ lao động với người sử dụng lao động. Với những đặc điểm như vậy, lao động chưa thành niên không những cần được đảm bảo về quyền lao động mà còn về môi trường lao động, giúp người chưa thành niên bồi dưỡng, nâng cao năng lực, phát huy tối đa tiềm năng học hỏi và phát triển.
1. Quy định của pháp luật về lao động chưa thành niên và những bất cập
- Vấn đề việc làm của lao động chưa thành niên: Về nguyên tắc, lao động chưa thành niên chỉ được sử dụng vào những công việc phù hợp với sức khoẻ để đảm bảo sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách (khoản 1 Điều 144 BLLĐ năm 2019). Đối với từng nhóm tuổi, pháp luật có những giới hạn riêng về công việc phù hợp. Nhóm lao động chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi được tự do làm việc ở tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm. Các công việc cấm sử dụng lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi được quy định tại Điều 147 BLLĐ năm 2019, bao gồm những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm như mang vác vật nặng vượt quá thể trạng, sản xuất kinh doanh các chất gây nghiện, phá dỡ các công trình xây dựng… Nhóm lao động từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi thì chỉ được làm các công việc nhẹ theo danh mục do Bộ Bộ Nội vụ[1] ban hành (khoản 2 Điều 143 BLLĐ năm 2019). Ngoài ra, theo khoản 3 Điều 145 BLLĐ năm 2019, người sử dụng lao động không được sử dụng lao động dưới 13 tuổi, trừ các công việc nghệ thuật, thể dục, thể thao nhưng không được làm tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của người chưa đủ 13 tuổi và phải có sự đồng ý của cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Thông tư số 09/2020/TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2020 của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội ban hành quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động chưa thành niên đã cụ thể hóa danh mục công việc, nơi làm việc không được sử dụng lao động chưa thành niên theo những quy định nêu trên.
- Về hợp đồng lao động của lao động chưa thành niên: Theo khoản 4 Điều 18 BLLĐ năm 2019 về thẩm quyền giao kết hợp đồng, người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có quyền giao kết hợp đồng khi có văn bản đồng ý của người đại diện theo pháp luật của người lao động. Đối với người lao động chưa đủ 15 tuổi thì người đại diện theo pháp luật của họ phải cùng xác nhận đồng ý về hợp đồng lao động. Về hình thức của hợp đồng, pháp luật quy định người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng bằng hình thức văn bản với người lao động dưới 15 tuổi và người đại diện theo pháp luật của người lao động. Đối với người lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, hình thức hợp đồng có thể là văn bản hoặc dưới hình thức thông điệp dữ liệu. Ngoài ra, nhóm lao động này còn có thể giao kết hợp đồng bằng lời nói đối với hợp đồng có thời hạn dưới 01 tháng (Điều 14 BLLĐ năm 2019). Nội dung của hợp đồng lao động được quy định tại Điều 21 Bộ luật này, tương tự với quy định dành cho lao động đã thành niên, bao gồm thông tin của các bên giao kết hợp đồng, công việc, địa điểm làm việc, thời hạn hợp đồng, mức lương…
- Về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của lao động chưa thành niên: Thời giờ làm việc của lao động chưa thành niên được chia ra theo 02 nhóm tuổi: Dưới 15 tuổi và từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi. Khoản 1 Điều 146 BLLĐ năm 2019 quy định về thời giờ làm việc của lao động chưa đủ 15 tuổi là “không quá 04 giờ trong 01 ngày và 20 giờ trong 01 tuần; không được làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm”. Đối với nhóm người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, khoản 2 Điều 146 BLLĐ năm 2019 quy định thời gian làm việc tối đa là 08 giờ trong 01 ngày và 40 giờ trong 01 tuần, có thể được làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm trong một số nghề, công việc cụ thể do Bộ Nội vụ ban hành, bao gồm biểu diễn nghệ thuật, viết báo, gia sư… Về thời giờ nghỉ ngơi, pháp luật không quy định riêng dành cho lao động chưa thành niên mà chỉ quy định áp dụng chung cho người lao động.
- Về an toàn lao động, vệ sinh lao động của lao động chưa thành niên: Theo nguyên tắc sử dụng lao động chưa thành niên được quy định tại khoản 2 Điều 144 BLLĐ năm 2019, người sử dụng lao động có trách nhiệm quan tâm chăm sóc cho người lao động về các mặt lao động, sức khỏe, học tập trong quá trình lao động, trong đó bao gồm an toàn lao động và vệ sinh lao động. Khi sử dụng người lao động dưới 15 tuổi, người sử dụng lao động phải có giấy khám sức khỏe của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền xác nhận sức khỏe của người lao động, đồng thời phải tổ chức kiểm tra sức khỏe định kỳ ít nhất 06 tháng một lần. Ngoài ra, trong quá trình sử dụng lao động chưa thành niên, người sử dụng lao động phải lập sổ theo dõi riêng, ghi đầy đủ họ tên, ngày tháng năm sinh, công việc đang làm, kết quả những lần kiểm tra sức khoẻ định kỳ và xuất trình khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu theo khoản 3 Điều 144 BLLĐ năm 2019.
- Về tiền lương của lao động chưa thành niên: Tiền lương nằm trong nội dung thỏa thuận của hợp đồng, do đó, đối với lao động chưa thành niên thì tiền lương cũng có cần sự đồng ý của cả người lao động chưa thành niên và người đại diện hợp pháp của họ. Tiền lương trả cho lao động chưa thành niên sẽ căn cứ vào năng suất lao động và chất lượng công việc, mức lương trả cho người lao động chưa thành niên không được phép thấp hơn mức lương tối thiểu mà Chính phủ quy định.
- Về kỷ luật lao động đối với lao động chưa thành niên: Khi tham gia vào quan hệ lao động, người lao động chưa thành niên phải thực hiện các nghĩa vụ giống như lao động đã thành niên bao gồm: thực hiện đúng và đủ các nội dung đã thoả thuận trong hợp đồng lao động, thoả ước lao động và chấp hành nội quy lao động, các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, tuân thủ sự điều hành hợp pháp của người sử dụng lao động. Nếu lao động chưa thành niên vi phạm các quy định trên thì sẽ bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật lao động. Người sử dụng lao động có thể áp dụng một trong các hình thức kỷ luật sau: Khiển trách, kéo dài thời gian nâng lương không quá 06 tháng, cách chức, sa thải (Điều 124 BLLĐ năm 2019). Một điểm khác biệt trong nguyên tắc, trình tự xử lý kỷ luật lao động chưa thành niên so với lao động đã thành niên là quy định về việc có mặt của cha mẹ, người đại diện theo pháp luật của lao động chưa thành niên. Điểm c khoản 1 Điều 122 BLLĐ năm 2019 quy định: “Người lao động phải có mặt và có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc tổ chức đại diện người lao động bào chữa; trường hợp là người chưa đủ 15 tuổi thì phải có sự tham gia của người đại diện theo pháp luật”.
- Về xử phạt vi phạm đối với hành vi vi phạm khi sử dụng lao động chưa thành niên: Căn cứ theo Điều 29 Chương II Nghị định số 12/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, người sử dụng lao động là cá nhân có thể bị phạt tiền đến 75 triệu đồng nếu có hành vi vi phạm trong việc sử dụng lao động chưa thành niên như sử dụng lao động chưa thành niên làm những công việc cấm sử dụng lao động chưa thành niên, sử dụng lao động chưa thành niên làm những công việc ngoài danh mục được cho phép bởi Chính phủ… Mức phạt tăng gấp đôi đối với người sử dụng lao động là tổ chức. Trường hợp nặng hơn, người vi phạm có thể phải đối mặt với các chế tài hình sự theo Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Có thể thấy, pháp luật quy định về lao động chưa thành niên tương đối đầy đủ và chặt chẽ, phù hợp với các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, góp phần hạn chế tình trạng lạm dụng sức lao động của người chưa thành niên, bảo vệ sức khỏe và tạo điều kiện để người chưa thành niên phát triển toàn diện. Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế số và Cách mạng công nghiệp 4.0 đòi hỏi Việt Nam phải hoàn thiện khung pháp lý nhằm điều chỉnh quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và lao động chưa thành niên sao cho phù hợp với bối cảnh hiện tại, ứng dụng sự phát triển của công nghệ trong mục tiêu bảo vệ lao động chưa thành niên.
2. Một số đề xuất, kiến nghị
Một là, cần bổ sung quy định về yêu cầu bắt buộc phổ biến pháp luật lao động cho người chưa thành niên khi tham gia vào quan hệ lao động, nhằm đảm bảo tối đa quyền lợi cho người chưa thành niên trước khi giao kết hợp đồng lao động với người sử dụng lao động.
Hai là, cần bổ sung, xây dựng chính sách đào tạo và đào tạo lại lao động chưa thành niên kết hợp ứng dụng công nghệ phát triển, nhằm trang bị cho đất nước nguồn lao động có trình độ cao, có kỹ năng lao động, tác phong công nghiệp và ý thức kỷ luật.
Ba là, cần sớm có chính sách hỗ trợ nhóm đối tượng người chưa thành niên không đủ khả năng để học và thi vào các trường trung học phổ thông công lập, có nhu cầu học nghề bằng cách miễn, giảm học phí; có thể bắt đầu từ những khoá học ngắn hạn đối với những ngành nghề mà Việt Nam cần đẩy mạnh phát triển, sau đó mở rộng dần phạm vi hỗ trợ phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam.
Bốn là, việc lao động chưa thành niên có quyền tham gia làm việc vào ban đêm đối với một số ngành nghề theo quy định của pháp luật có thể gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ và sự phát triển bình thường của họ. Dưới góc độ sinh lý học, độ tuổi này, việc làm thêm giờ và làm việc vào ban đêm (từ 22h đêm đến 6h sáng hôm sau) ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất, tinh thần. Do đó, cần xem xét điều chỉnh theo hướng cấm sử dụng lao động chưa thành niên làm việc vào ban đêm - thời gian khoa học để nghỉ ngơi và tái tạo sức lao động.
Năm là, các hình thức kỷ luật lao động hiện nay chưa được chuẩn hóa cho nhóm đối tượng là lao động chưa thành niên. Đối với nhóm đối tượng này thì giáo dục là mục tiêu cao nhất của kỷ luật lao động. Sau khi có những sai phạm và phải chịu các biện pháp kỷ luật, điều quan trọng nhất là họ biết rút kinh nghiệm để cải thiện, nâng cao trình độ, kỹ năng của mình. Do đó, các hình thức xử lý kỷ luật lao động phải được xây dựng để đạt được mục tiêu này. Trên cơ sở nghiên cứu những đặc điểm tâm lý và thể chất của lao động chưa thành niên, cần bổ sung thêm những hình thức kỷ luật khác phù hợp. Ví dụ như yêu cầu tham gia đào tạo lại kỹ năng, kiến thức lao động về lĩnh vực mà người lao động chưa thành niên thực hiện sơ suất dẫn đến sai phạm.
Sáu là, pháp luật lao động chưa chuẩn hóa trách nhiệm vật chất của lao động chưa thành niên. Do nhóm đối tượng này có thu nhập thấp, khi làm hư hỏng đồ dùng, thiết bị của người sử dụng lao động có thể sẽ không đủ khả năng chi trả cho khoản bồi thường này. Nhằm đảm bảo quyền và lợi ích cho người sử dụng lao động, đồng thời hạn chế trường hợp lao động chưa thành niên bị ép làm việc trả nợ, pháp luật lao động nên sửa đổi dựa trên Điều 586 Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể: “Người chưa đủ 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu” và “Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình”.
[1]. Bắt đầu từ ngày 01/03/2025, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Nội vụ hợp nhất thành Bộ Nội vụ. Theo Nghị định số 25/2025/NĐ-CP do Chính phủ ban hành, sau khi hợp nhất với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Nội vụ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực, bao gồm lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội; việc làm; an toàn, vệ sinh lao động. Song, theo Nghị quyết số 190/2025/QH15, tại khoản 1 Điều 3 quy định: “Khi thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, tên gọi của cơ quan, chức danh có thẩm quyền đã quy định tại các văn bản được chuyển đổi theo tên gọi của cơ quan, chức danh tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đó”. Do đó, trong bài viết này, đối với các chức năng quản lý về lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội; việc làm; an toàn, vệ sinh lao động, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội được chuyển đổi thành Bộ Nội vụ.