Mặc dù thủ tục hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại đóng vai trò quan trọng trong giải quyết tranh chấp nhưng thực tiễn phát sinh một số bất cập làm giảm hiệu quả và tính khả thi của quá trình hòa giải; đồng thời, gây khó khăn cho Thẩm phán và các bên đương sự.
Hòa giải trong tố tụng dân sự đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án, đặc biệt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh, thương mại. Đây là phương thức hiệu quả để bảo đảm quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự. Kết quả hòa giải giúp làm rõ yêu cầu, tình tiết và quan hệ tranh chấp, từ đó tạo điều kiện cho việc giải quyết vụ án một cách đúng đắn khi xét xử, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Tòa án1.
Hòa giải không chỉ là một bước bắt buộc trong quy trình tố tụng mà còn là một công cụ quan trọng để đảm bảo các tranh chấp kinh doanh, thương mại được giải quyết nhanh chóng, hợp lý và phù hợp với lợi ích của các bên nên các tranh chấp kinh doanh, thương mại theo quy định tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 cũng phải thông qua hòa giải, gồm: (1) Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; (2) Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức và đều có mục đích lợi nhuận; (3) Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch chuyển nhượng phần vốn góp với công ty hoặc thành viên công ty; (4) Tranh chấp giữa công ty và các thành viên công ty; giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần; giữa các thành viên công ty liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản, hoặc chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty; (5) Các tranh chấp kinh doanh, thương mại khác, trừ các trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định pháp luật2 nhằm giảm thiểu căng thẳng, tiết kiệm thời gian và chi phí, khi các bên tự thỏa thuận mà không cần trải qua quá trình xét xử tốn kém. Việc này khuyến khích tinh thần hợp tác, trách nhiệm và cho phép các bên tìm kiếm giải pháp linh hoạt, phù hợp với lợi ích kinh doanh chung, nhất là trong các tranh chấp về sở hữu trí tuệ, công nghệ, hay nội bộ công ty. Ngoài ra, hòa giải giảm tải cho hệ thống tư pháp và đảm bảo quá trình đạt được sự minh bạch, công bằng hơn qua việc thảo luận trực tiếp giữa các bên.
1. Bất cập về thủ tục hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại
Mặc dù thủ tục hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại đóng vai trò quan trọng trong giải quyết tranh chấp nhưng thực tiễn cho thấy một số bất cập làm giảm hiệu quả và tính khả thi của quá trình hòa giải, đồng thời, gây khó khăn cho Thẩm phán và các bên đương sự, cụ thể:
- Chưa quy định về số lần vắng mặt và hậu quả pháp lý: Điều 209 BLTTDS năm 2015 chỉ nêu khái quát trường hợp “có đương sự vắng mặt” mà không quy định rõ ràng về số lần tối đa mà một đương sự có thể vắng mặt, lý do chính đáng cho việc vắng mặt, cũng như hậu quả pháp lý khi vắng mặt không chính đáng. Thiếu sót này tạo ra kẽ hở pháp lý, cho phép các đương sự lợi dụng việc vắng mặt để kéo dài thời gian giải quyết vụ án, ảnh hưởng đến tiến độ tố tụng và làm giảm tính hiệu quả của quá trình hòa giải; đồng thời, khoản 1 Điều 207 BLTTDS năm 2015 cũng không quy định cụ thể về số lần tối đa có thể tiến hành hòa giải, cũng như thời gian giữa các phiên hòa giải khi có đương sự vắng mặt, dẫn đến bất cập trong tổ chức các phiên hòa giải và quản lý, theo dõi vụ án. Việc thiếu quy định cụ thể này có thể khiến một số vụ án bị kéo dài, gây khó khăn cho các bên liên quan.
Chẳng hạn, tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa nguyên đơn là Công ty S và bị đơn là Công ty K3. Theo nội dung vụ án thì trong quá trình giải quyết, bị đơn là Công ty K có đại diện theo pháp luật (ông Đặng Trọng Đ) vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết mà không có bất kỳ văn bản thể hiện ý kiến hay tài liệu chứng cứ nào cung cấp cho Tòa án. Tức là, trong trường hợp này, Công ty K đã liên tục vắng mặt tại các phiên hòa giải nhưng do không có quy định về số lần vắng mặt tối đa và lý do vắng mặt nên việc tổ chức các phiên hòa giải gặp nhiều khó khăn, làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án.
Trường hợp khác là tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn là Ngân hàng V và bị đơn là Công ty B4. Trong quá trình giải quyết, cả bị đơn là Công ty B và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Thanh M đều vắng mặt trong các phiên hòa giải nhưng Tòa án vẫn phải tổ chức các phiên hòa giải theo quy định, gây khó khăn và làm giảm hiệu quả giải quyết.
- Không thống nhất về thời điểm mở phiên hòa giải: Thời điểm tổ chức phiên hòa giải hiện nay phụ thuộc vào quyết định của Thẩm phán và tình hình cụ thể của từng vụ án, do chưa có quy định pháp lý rõ ràng. Điều này dẫn đến sự thiếu thống nhất trong việc tổ chức hòa giải, làm giảm tính đồng bộ trong quá trình giải quyết các vụ án. Sự không đồng bộ này không chỉ ảnh hưởng đến tiến độ mà còn gây khó khăn cho các bên trong việc tham gia đầy đủ và kịp thời, giảm khả năng đạt được thỏa thuận hòa giải.
Chẳng hạn, tranh chấp hợp đồng dịch vụ giữa nguyên đơn là Công ty A và bị đơn là Công ty K5. Trong quá trình giải quyết tranh chấp, Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập lên Tòa làm bản tự khai vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 22/3/2024 và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 29/3/2024 cho bị đơn. Có thể thấy, thời gian để bị đơn nêu ý kiến và chuẩn bị cho phiên hòa giải là 07 ngày là quá ngắn, làm giảm khả năng đạt được thỏa thuận hòa giải và đến ngày 23/4/2024 thì Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm xét xử lần 1.
Đối với tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn là Ngân hàng H và bị đơn là Công ty B6. Trong tranh chấp này, Công ty B đã được Tòa án tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ các bên liên quan để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cụ thể, các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được tổ chức vào các ngày 24/11/2020, 28/4/2021 và 26/5/2022. Có thể thấy, thời gian mở phiên hòa giải lần thứ ba cách quá xa lần hòa giải thứ hai (khoảng 06 tháng) và lần hòa giải thứ ba (hơn 01 năm).
- Chưa quy định rõ ràng về thành phần tham gia phiên hòa giải: Mặc dù, khoản 1 Điều 209 và khoản 3 Điều 76 BLTTDS năm 2015 đã quy định quyền của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong phiên hòa giải, nhưng vẫn thiếu hướng dẫn cụ thể về trường hợp họ vắng mặt. Sự thiếu sót này dẫn đến nhiều tranh cãi về việc phiên hòa giải có thể tiếp tục hay không khi người bảo vệ quyền lợi không có mặt, từ đó gây ra sự trì hoãn không cần thiết trong quá trình giải quyết vụ án. Việc làm rõ quy định về thành phần tham gia phiên hòa giải là rất cần thiết, không chỉ để đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả của các phiên hòa giải, mà còn nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.
Chẳng hạn, tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa nguyên đơn là Công ty T và bị đơn là Công ty Đ7. Trong tranh chấp này, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Công ty Đ là Văn phòng Luật sư N vắng mặt nhiều lần và ngày 14/7/2020, Văn phòng Luật sư N đã gửi đơn đề nghị Tòa án chấm dứt tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Luật sư Phạm Văn P đối với Công ty Đ, lý do là Luật sư đang được Văn phòng phân công cho công việc khác, do đó không thể tiếp tục tham gia tố tụng. Đến ngày 08/9/2020, ông Hồ Mai H, đại diện theo pháp luật của Công ty Đ đã gửi văn bản xác nhận đồng ý việc chấm dứt tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Luật sư Phạm Văn P đến Tòa án. Quá trình giải quyết tranh chấp trên, sự vắng mặt của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp có liên quan làm vụ việc kéo dài từ năm 2018 đến năm 2020 nhưng Tòa án không thể đưa vụ án ra xét xử mà phải tổ chức phiên hòa giải nhiều lần.
- Quy định chưa đầy đủ về thủ tục ra quyết định công nhận thỏa thuận: Pháp luật tố tụng dân sự chưa quy định chi tiết về thủ tục và thời hạn lấy ý kiến của đương sự vắng mặt, đặc biệt trong các vụ án có đương sự ở nước ngoài. Việc thiếu quy định rõ ràng có thể dẫn đến bỏ lỡ quyền lợi của đương sự vắng mặt hoặc kéo dài quá trình xét xử. Điều này không chỉ làm giảm tính công bằng của quy trình tố tụng mà còn gây khó khăn cho các bên liên quan trong việc thực thi quyền và nghĩa vụ của mình.
2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao chất lượng hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại
Thứ nhất, cần quy định rõ về số lần vắng mặt trong hòa giải, cụ thể: Sửa đổi, bổ sung Điều 209 BLTTDS năm 2015 theo hướng quy định đương sự chỉ được phép vắng mặt tối đa 02 lần trong quá trình hòa giải. Nếu đương sự vắng mặt lần thứ ba mà không có lý do chính đáng, Tòa án có thể tiếp tục phiên hòa giải mà không cần sự có mặt của họ. Ngoài ra, Điều 207 BLTTDS năm 2015 cần bổ sung quy định về trường hợp một bên cố tình vắng mặt 02 lần mà không có lý do chính đáng, Tòa án sẽ chuyển thẳng vụ án sang giai đoạn xét xử mà không tiến hành hòa giải thêm.
Bên cạnh đó, bổ sung quy định cụ thể về các lý do chính đáng cho việc vắng mặt, như lý do sức khỏe, tai nạn bất ngờ hoặc công tác khẩn cấp; đồng thời, yêu cầu đương sự phải cung cấp bằng chứng hợp lệ. Đối với trường hợp vắng mặt không chính đáng, cần quy định rõ hậu quả pháp lý như không thể thay đổi nội dung đã hòa giải hoặc bị xử phạt chi phí tố tụng do kéo dài thời gian giải quyết.
Thứ hai, quy định rõ về số lần hòa giải và thời gian giữa các phiên hòa giải: Cần giới hạn số lần hòa giải tối đa là 03 lần cho mỗi vụ án kinh doanh thương mại. Sau 03 phiên hòa giải không thành công, Tòa án phải chuyển vụ án sang giai đoạn xét xử nếu không có căn cứ tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án. Thêm vào đó, quy định khoảng thời gian giữa các phiên hòa giải không vượt quá 30 ngày để đảm bảo tiến độ giải quyết vụ án, đồng thời, tạo điều kiện cho các bên suy nghĩ và tìm giải pháp hòa giải hiệu quả hơn.
Thứ ba, thống nhất về thời điểm mở phiên hòa giải: Quy định cụ thể thời hạn trong vòng 30 ngày kể từ khi thụ lý vụ án, Tòa án phải tổ chức phiên hòa giải đầu tiên nhằm đảm bảo các bên có đủ thời gian chuẩn bị và giúp quá trình giải quyết vụ án diễn ra nhanh chóng. Nếu cần thiết, Tòa án có thể mở thêm các phiên hòa giải nhưng không vượt quá thời gian quy định trong quá trình chuẩn bị xét xử.
Thứ tư, cần làm rõ thành phần tham gia phiên hòa giải: Sửa đổi Điều 209 và khoản 3 Điều 76 BLTTDS năm 2015 theo hướng làm rõ trường hợp người bảo vệ quyền lợi của đương sự vắng mặt. Nếu họ có lý do chính đáng và đã thông báo trước, phiên hòa giải vẫn có thể tiếp tục, miễn là đương sự có mặt. Trong trường hợp cả hai vắng mặt mà không có lý do chính đáng, phiên hòa giải có thể bị hoãn hoặc tiếp tục theo quyết định của Tòa án; cần bổ sung quy định rõ ràng về quyền và trách nhiệm của người bảo vệ quyền lợi để tránh các tranh chấp không đáng có.
Thứ năm, hoàn thiện quy định về thủ tục ra quyết định công nhận thỏa thuận: Cần bổ sung quy định chi tiết về thủ tục lấy ý kiến của đương sự vắng mặt đối với các vụ án có đương sự ở nước ngoài. Tòa án nên thông báo bằng văn bản qua các phương tiện thông tin nhanh chóng như email và yêu cầu phản hồi trong thời hạn cụ thể, chẳng hạn trong 15 ngày kể từ ngày nhận thông báo hoặc trường hợp khách quan khác có thể kéo dài 30 ngày. Nếu đương sự không phản hồi và không có lý do chính đáng, Tòa án có thể ra quyết định công nhận thỏa thuận mà không cần sự có mặt của đương sự, giúp đảm bảo tính hiệu quả và kịp thời trong quá trình giải quyết vụ án.
Tài liệu tham khảo:
1. Bản án số 83/2024/KDTM-ST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
2. Bản án số 67/2024/KDTM-ST ngày 09/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
3. Bản án số 811/2024/KDTM-ST ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng dịch vụ.
4. Bản án số 1490/2022/KDTM-ST ngày 09/8/2022 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
5. Bản án số 19/2018/KDTM-ST ngày 09/9/20204 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
6. Phạm Văn Phương, (2024), Bàn về nguyên tắc hoà giải trong pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, https://lsvn.vn/ban-ve-nguyen-tac-hoa-giai-trong-phap-luat-to-tung-dan-su%C2%A0hien-hanh-1710774783.html, truy cập ngày 10/10/2024.
7. Tòa án nhân dân tối cao, Công văn số 55/TANDTC-PC ngày 20/3/2018 về tiêu chí xác định vụ việc hòa giải thành, đối thoại thành.
8. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng (2022), Một số vấn đề về hòa giải án dân sự, https://haiphong.toaan.gov.vn/webcenter/portal/haiphong/chitiettin?dDocName=TAND213203, truy cập ngày 10/10/2024.
9. Dương Văn Thanh (2021), Hòa giải trong tố tụng dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, https://lsvn.vn/hoa-giai-trong-to-tung-dan-su-mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien1611675919.html, truy cập ngày 10/10/2024.
10. Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr.365.
(1) Dương Văn Thanh (2021), Hòa giải trong tố tụng dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, https://lsvn.vn/hoa-giai-trong-to-tung-dan-su-mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc tien1611675919.html, truy cập ngày 10/10/2024.
(2) Điều 30 BLTTDS năm 2015.
(3) Bản án số 83/2024/KDTM-ST ngày 06/9/2024 của TAND huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
(4) Bản án số 83/2024/KDTM-ST ngày 06/9/2024 của TAND huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
(5) Bản án số 811/2024/KDTM-ST ngày 10/5/2024 của TAND quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng dịch vụ.
(6) Bản án số 1490/2022/KDTM-ST ngày 09/8/2022 của TAND quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
(7) Bản án số 19/2018/KDTM-ST ngày 09/9/20204 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.