Bài viết phân tích về một số bất cập trong quy định của pháp luật về các vấn đề liên quan đến chuẩn bị phạm tội như: Khái niệm, phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của chuẩn bị phạm tội; quy định về chuẩn bị phạm tội của một số tội phạm cụ thể; trên cơ sở đó, đưa ra một số kiến nghị để hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về vấn đề này.
1. Một số bất cập trong quy định của pháp luật hình sự về chuẩn bị phạm tội
Thứ nhất, khái niệm chuẩn bị phạm tội trong quy định của Bộ luật Hình sự (BLHS) có điểm chưa rõ ràng, gây khó khăn cho việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn.
So với quy định của BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009; BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS năm 2015) đã bổ sung quy định hành vi thành lập, tham gia nhóm tội phạm vào khái niệm “chuẩn bị phạm tội”. Điều này nhằm đáp ứng yêu cầu nội luật hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Tuy nhiên, BLHS không đưa ra định nghĩa thế nào là nhóm tội phạm cũng như quy định về số lượng người, thời gian thực hiện, mục đích phạm tội cụ thể của nhóm tội phạm.
Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia sử dụng thuật ngữ tiếng Anh là “organized criminal group” - có thể hiểu là “nhóm tội phạm có tổ chức”. Theo đó, “nhóm tội phạm có tổ chức” nghĩa là một nhóm có cơ cấu gồm từ 03 người trở lên, tồn tại trong một thời gian và hoạt động có phối hợp để thực hiện một hay nhiều tội phạm nghiêm trọng hoặc các hành vi phạm tội được quy định trong Công ước này, nhằm giành được, trực tiếp hay gián tiếp, lợi ích về tài chính hay vật chất khác[1]
Như vậy, theo khái niệm này, “nhóm tội phạm có tổ chức” phải có số lượng từ 03 người trở lên, có cơ cấu. Theo tài liệu hướng dẫn lập pháp được soạn thảo bởi Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia thì nhóm cơ cấu phải được hiểu theo nghĩa rộng, là nhóm tồn tại nhịp nhàng trong một thời gian, có thể có cấu trúc dọc phân cấp hoặc cấu trúc phức tạp khác, cũng như các nhóm không phân cấp, trong đó vai trò của các thành viên trong nhóm không được chỉ định chính thức. Một nhóm cấu trúc không cần thiết phải có hình thức tổ chức, với một cấu trúc duy trì được thành viên và xác định rõ vai trò, chức năng của từng thành viên. Tuy nhiên, nó phải được tạo thành một cách ngẫu nhiên để thực hiện hành vi phạm tội ngay lập tức [2]. Về mục đích phạm tội, “nhóm tội phạm có tổ chức” phải có mục đích nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp đạt được lợi ích tài chính hay vật chất khác. Về loại tội phạm thực hiện, Công ước quy định phải là tội phạm có hình phạt tù ít nhất là 04 năm hoặc nặng hơn.
Khái niệm đồng phạm và phạm tội có tổ chức được quy định tại Điều 21 BLHS năm 2015. Theo đó, đồng phạm là trường hợp có 02 người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm; phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Phạm tội có tổ chức là một hình thức cao của đồng phạm, có sự cấu kết chặt chẽ và phân công, sắp đặt vai trò của những người tham gia, trong đó mỗi người thực hiện một hoặc một số hành vi và phải chịu sự điều khiển của người cầm đầu. Như vậy, nếu so sánh khái niệm đồng phạm và khái niệm phạm tội có tổ chức được quy định trong BLHS thì những khái niệm này không đồng nhất với khái niệm nhóm tội phạm có tổ chức được quy định trong Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.
Vậy thuật ngữ “nhóm tội phạm” được quy định trong BLHS cần được hiểu như thế nào, có thể hiểu là đồng phạm hay phạm tội có tổ chức, tổ chức tội phạm hay nhóm tội phạm có tổ chức như quy định trong Công ước hay không. Vấn đề này cần được làm rõ để bảo đảm sự thống nhất trong nhận thức về lập pháp và áp dụng pháp luật.
Thứ hai, phạm vi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS hiện hành chưa phù hợp, chưa bảo đảm tính công bằng trong chính sách hình sự.
Căn cứ vào tính chất nguy hiểm cho xã hội của loại tội phạm mà người phạm tội định thực hiện, cũng như đặc điểm dấu hiệu pháp lý của tội phạm, BLHS đã phân thành hai loại: Loại hành vi chuẩn bị phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự và loại không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, mặc dù cả hai loại đều chưa gây ra hậu quả, nhưng tính chất nguy hiểm của hành vi chuẩn bị phạm tội có khác nhau và sự khác nhau đó lại không phụ thuộc vào tính chất và mức độ của hành vi chuẩn bị mà hoàn toàn phụ thuộc vào tính chất nghiêm trọng của tội phạm mà người đó định thực hiện.
Trong BLHS năm 2015, vấn đề chịu trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội được đặt ra đối với 25 tội danh được quy định tại khoản 2 Điều 14, bao gồm: Các tội xâm phạm an ninh quốc gia (Chương XIII), Tội giết người (Điều 123), Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134), Tội cướp tài sản (Điều 168), Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169), Tội khủng bố (Điều 299), Tội tài trợ khủng bố (Điều 300), Tội bắt cóc con tin (Điều 301), Tội cướp biển (Điều 302), Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 303), Tội rửa tiền (Điều 324). Tuy nhiên, nếu so sánh với nhiều tội phạm khác trong quy định của BLHS, thì còn một số tội phạm cũng có tính chất nguy hiểm tương đương như Tội cướp giật tài sản (Điều 171). Hành vi cướp giật tài sản không chỉ chiếm đoạt tài sản của bị hại mà trong nhiều trường hợp còn gây thương tích, hoặc thậm chí làm chết người, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Thông thường để thực hiện hành vi cướp giật tài sản, các đối tượng thường có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, có thời gian thăm dò, lựa chọn thời điểm, mục tiêu thuận lợi, chuẩn bị kỹ các công cụ phương tiện, thường đi xe mô tô phân khối lớn, sử dụng biển số xe giả, có sự bàn bạc lên kế hoạch, phân công rõ trách nhiệm giữa các đối tượng trong quá trình thực hiện tội phạm. Do vậy, với những trường hợp chuẩn bị phạm tội cướp giật tài sản cũng cần phải chịu trách nhiệm hình sự để nâng cao tính răn đe.
Ngoài ra, Tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy (Điều 282) cũng có tính chất nguy hiểm rất lớn cho xã hội, không chỉ gây tổn thất lớn về kinh tế cho chủ sở hữu và các bên liên quan, gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của hành khách mà còn gây nguy hiểm đối với giao thông và vận tải công cộng, mất kiểm soát về an ninh tại các cảng biển, sân bay hoặc có thể gây ra các tình huống không an toàn khác, nguy hiểm cho người đi lại và hàng hóa, từ đó, có thể ảnh hưởng tới an ninh quốc gia và gây mất ổn định trong khu vực. Đồng thời, việc thực hiện hành vi này cũng thường được chuẩn bị kỹ lưỡng về công cụ, phương tiện, kế hoạch phạm tội... Do vậy, việc quy định trách nhiệm đối với loại tội phạm này ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội là cần thiết.
Bên cạnh đó, Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành công cụ chuyển nhượng giả hoặc các giấy tờ có giá giả khác (Điều 208), về tính chất nguy hiểm và các dấu hiệu pháp lý gần giống như đối với Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả (Điều 207). Do vậy, cần nghiên cứu bổ sung phạm vi chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị thực hiện tội phạm này.
Thứ ba, quy định của BLHS về hành vi chuẩn bị phạm tội không phù hợp đối với dấu hiệu pháp lý của một số loại
tội phạm.
Chẳng hạn, đối với Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 109 BLHS năm 2015) quy định: “Người nào hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân thì…”. Thực tế, hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi thành lập, hoặc tham gia tổ chức nhằm mục đích lật đổ chính quyền nhân dân, nhưng trong điều luật này, hành vi thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân không được nhà làm luật phản ánh trực tiếp trong nội dung của điều luật mà lại phản ánh những hoạt động để tiến tới thành lập hoặc tham gia tổ chức đó. Với cách mô tả như vậy, có thể hiểu bất cứ hoạt động nào (như soạn thảo chính cương, điều lệ của tổ chức, họp bàn hoạch định kế hoạch thành lập tổ chức…) nhằm hướng tới việc thành lập tổ chức đều bị coi là phạm tội này. Như vậy, chỉ cần người phạm tội có những hoạt động nhằm hướng tới việc thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân thì tội phạm đã hoàn thành. Tuy nhiên, BLHS năm 2015 vẫn quy định về trách nhiệm hình sự đối với người chuẩn bị phạm tội này tại khoản 2 Điều 14 và khoản 3 Điều 109. Với đặc điểm đặc trưng về thời điểm hoàn thành của tội phạm này thì việc xác định ranh giới giữa chuẩn bị phạm tội đối với các giai đoạn phạm tội khác là hết sức khó khăn. Trên thực tế, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều xử lý tội phạm này ở giai đoạn tội phạm hoàn thành. Do vậy, cần phải nghiên cứu sửa đổi quy định của pháp luật cho phù hợp với đặc trưng của loại tội phạm này và phù hợp với thực tiễn áp dụng pháp luật.
Đối với Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015), một người gây thương tích từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng thuộc một các trường hợp quy định tại các điểm từ a đến k khoản này thì có thể bị xử lý hình sự. Tuy nhiên, theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 (BLTTHS năm 2015) thì người phạm tội quy định tại khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015 sẽ chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính mà không bị xử lý hình sự khi bị hại không yêu cầu khởi tố. Trong khi đó, khoản 6 Điều 134 BLHS năm 2015 quy định: “Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, axit nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”. Như vậy, một hành vi đã xảy ra và gây hậu quả trên thực tế nhưng sẽ không bị xử lý hình sự nếu không có yêu cầu của bị hại, trong khi một hành vi chưa diễn ra, chưa có hậu quả xảy ra nhưng lại bị xử lý hình sự mà không cần có hay không yêu cầu của bị hại. Điều này chưa phù hợp và không bảo đảm tính công bằng.
Bên cạnh đó, về hình thức lập pháp, trong cùng một điều luật lại không có sự thống nhất về loại cấu thành tội phạm. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác về bản chất là loại tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất (từ khoản 1 đến khoản 5). Tuy nhiên, việc bổ sung quy định liên quan đến trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị phạm tội này lại có dạng cấu thành tội phạm hình thức (chỉ cần có hành vi mà không cần xem xét yếu tố hậu quả). Cách quy định trong cùng một loại tội có cả cấu thành tội phạm hình thức và cấu thành tội phạm vật chất để định tội chưa bảo đảm tính logic, khoa học lập pháp.
Ngoài ra, hành vi chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm (như trong mô tả của khoản 6 Điều 134 BLHS năm 2015) có thể tùy từng trường hợp xử lý về hình sự đối với các tội khác nhau đã được quy định trong BLHS năm 2015, như Tội gây rối trật tự công cộng (Điều 318); Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 304); Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ (Điều 305)... Do vậy, nếu quy định thêm hành vi chuẩn bị phạm tội tại khoản 6 Điều 134 BLHS năm 2015 có thể dẫn đến trùng lặp, chồng chéo với các hành vi thuộc cấu thành tội phạm của một số loại tội
phạm khác.
Thứ tư, quy định về chuẩn bị phạm tội vẫn còn có điểm mâu thuẫn giữa BLHS và BLTTHS.
Điều 110 BLTTHS năm 2015 quy định về căn cứ giữ người trong trường hợp khẩn cấp: “Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”. Quy định này phù hợp với Điều 17 BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 về trách nhiệm hình sự đối với chuẩn bị phạm tội, theo đó: “Người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện”. Tuy nhiên, BLHS năm 2015 đã có sự điều chỉnh về trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm tội theo hướng chỉ xác định trách nhiệm hình sự đối với 25 loại tội cụ thể và không cần xác định đó là loại tội nào theo phân loại tội phạm tại Điều 9 Bộ luật này.
Như vậy, so với quy định của BLHS hiện hành, BLTTHS quy định về căn cứ giữ người trong trường hợp khẩn cấp trong trường hợp người phạm tội chuẩn bị thực hiện tội phạm có sự mâu thuẫn với nhau. Điều này có thể gây lúng túng cho cơ quan có thẩm quyền trong việc có áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với người chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà theo quy định của BLHS hiện hành tội phạm đó có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không? Nếu áp dụng thì các biện pháp xử lý sau này sẽ tiếp tục được thực hiện như thế nào trong bối cảnh pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đặt ra hết sức nặng nề. Bên cạnh đó, trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội, rất khó có thể xác định được loại tội nào là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, đặc biệt là đối với những tội mà trong cấu thành tội phạm có cả loại tội không phải tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng như Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả...
2. Một số kiến nghị hoàn thiện
Thứ nhất, cần làm rõ khái niệm nhóm tội phạm được quy định trong khái niệm chuẩn bị phạm tội, bảo đảm sự rõ ràng, thống nhất trong áp dụng pháp luật.
Theo tác giả, nên thay thế thuật ngữ nhóm tội phạm bằng thuật ngữ tổ chức tội phạm. Do vậy, cần sửa đổi khái niệm chuẩn bị phạm tội tại khoản 1 Điều 14 BLHS năm 2015 như sau: “Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia tổ chức tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia tổ chức tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này.
Đồng thời, cần bổ sung khái niệm tổ chức tội phạm vào một khoản trong Điều 17 BLHS năm 2015 như sau: “Tổ chức tội phạm là một nhóm từ 03 người trở lên có sự liên kết với nhau trong một thời gian nhất định nhằm thực hiện một hoặc nhiều tội phạm”.
Thứ hai, cần rà soát, điều chỉnh phạm vi các loại tội phạm phải chịu trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội cho phù hợp, bảo đảm sự công bằng trong chính sách pháp luật hình sự.
Theo đó, nghiên cứu bổ sung một số loại tội phạm có tính nguy hiểm tương đương với các tội phạm phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS như: Tội cướp giật tài sản (Điều 171); Tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy (Điều 282); Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành công cụ chuyển nhượng giả hoặc các giấy tờ có giá giả khác (Điều 208); đồng thời, loại bỏ quy định về trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội đối với một số tội phạm cụ thể để bảo đảm tính logic trong hình thức lập pháp, tính khả thi trong thực tiễn áp dụng pháp luật, như đối với Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 109); Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134).
Khoản 2 Điều 14 BLHS năm 2015 cần sửa đổi như sau: “… 2. Người chuẩn bị phạm tội quy định tại một trong các
điều 108, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 168, 169,171, 207, 208, 282, 299, 300, 301, 302, 303 và 324 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự”; đồng thời, xóa bỏ khoản 3 Điều 109 và khoản 6 Điều 134 BLHS cho phù hợp với quy định trên.
Thứ ba, sửa đổi quy định của BLTTHS bảo đảm sự thống nhất nội dung với quy định của BLHS về chuẩn bị phạm tội.
Theo đó, cần sửa đổi căn cứ thứ nhất về áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp theo hướng chỉ được áp dụng biện pháp này đối với những hành vi chuẩn bị phạm tội thuộc các tội danh bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đồng thời, mở rộng phạm vi áp dụng biện pháp này đối với cả những hành vi chuẩn bị thực hiện tội phạm nghiêm trọng và ít nghiêm trọng, cụ thể, cần sửa điểm a khoản 1 Điều 110 BLTTHS năm 2015 như sau: “a. Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm quy định tại khoản 2 Điều 14 BLHS”.
---------------------------------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Công an (2024), Báo cáo sơ kết 05 năm thi hành BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 trong Công an nhân dân.
2. Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.
3. Đinh Thị Nguyễn, Bàn về thuật ngữ nhóm tội phạm theo quy định của Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và kinh nghiệm cho pháp luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Pháp luật và thực tiễn, số 45/2020.
[1]. Điểm a Điều 2 Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.
[2]. Đinh Thị Nguyễn, Bàn về thuật ngữ nhóm tội phạm theo quy định của Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và kinh nghiệm cho pháp luật hình sự Việt Nam, Tạp chí pháp luật và thực tiễn, số 45/2020, tr.40.