Nhận thức đầy đủ tính chất nguy hiểm và tác hại của tệ tham nhũng, VKSND tối cao đã quán triệt và chỉ đạo thực hiện nghiêm túc chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác phòng chống tham nhũng, đặc biệt là các yêu cầu đề ra trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng...
Những khó khăn và giải pháp nâng cao hiệu quả trong xử lý tội phạm
về tham nhũng, chức vụ của Viện kiểm sát nhân dân
Nhận thức đầy đủ tính chất nguy hiểm và tác hại của tệ tham nhũng, VKSND tối cao đã quán triệt và chỉ đạo thực hiện nghiêm túc chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác phòng chống tham nhũng, đặc biệt là các yêu cầu đề ra trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng; Nghị quyết về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng,lãng phí”; Chỉ thị số 21- CT/TW của Ban Bí thư về việc đẩy mạnh thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí gắn với việc triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị TW lần thứ 4 (khóa XI) của Đảng; Luật phòng, chống tham nhũng và các văn bản pháp luật khác. Toàn ngành Kiểm sát đã chủ động và tích cực thực hiện nội dung nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng và đạt được những kết quả đáng khích lệ, cụ thể: Đã kiểm sát giải quyết 1.341 vụ việc về tham nhũng, trong đó khởi tố 283 vụ án. Viện kiểm sát kiểm sát tiến hành kiểm sát chặt chẽ hoạt động điều tra ngay từ đầu tội tham nhũng, chức vụ; đã truy tố 689 vụ/1.540 bị can; thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm 524 vụ/1.125 bị cáo. Riêng cơ quan điều tra của VKSND tối cao đã phát hiện và khởi tố 69 vụ/82 bị can về tội tham nhũng và chức vụ, bằng 10% tổng số án tham nhũng được khởi tố điều tra trong toàn quốc. Việc phát hiện và khởi tố điều tra của Cơ quan điều tra VKSND tối cao luôn đảm bảo có đầy đủ căn cứ và đúng quy định của pháp luật; không để xảy ra trường hợp oan, sai, bỏ lọt tội phạm; không để xảy ra trường hợp nào phải đình chỉ điều tra vì bị can không phạm tội hoặc hết thời hạn điều tra mà không chứng nminh đựoc tội phạm, hoặc quyết định truy tố nhưng Tòa án xét xử tuyên không phạm tội. Số vụ án phạm tội tham nhũng, chức vụ trong hoạt động tư pháp chiếm tỷ lệ 45% trên tổng số án do Cơ quan điều tra VKĐNTC khởi tố điều tra. Việc điều tra xử lý tội phạm tham nhũng thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra VKSND tối cao thời gian qua đã góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm về tham nhũng, chức vụ.
Như vậy công tác phòng, chống tham nhũng thời gian qua đã có nhiều chuyển biến tích cực , tuy nhiên vẫn chưa đạt yêu cầu và mục tiêu đề ra là ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tệ tham nhũng. Việc phát hiện, điều tra, truy tố và xét xử các vụ án tham nhũng được phát hiện, xử lý chủ yếu ở cấp cơ sở, quy mô nhỏ. Số vụ án có quy mô lớn được phát hiện xử lý còn ít. Việc xử lý các vụ án về tham nhũng còn kéo dài, người bị kết tội về tham nhũng được cho hưởng án treo còn chiếm tỷ lệ cao; tài sản bị tham nhũng, gây thiệt hại do tham nhũng được thu hồi và bồi thường còn hạn chế…Tình hình tham nhũng vẫn diễn biến phức tạp ở nhiều lĩnh vực, nhiều cấp gây bức xúc và bất bình trong xã hội, tiếp tục thách thực đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
VKSND là cơ quan thực hành q uyền công tố nhà nước và kiểm sát hoạt động tư pháp trong điều tra, truy tố và xét xử và thi hành án, bảo đảm không làm oan người vô tội và chống bỏ lọt tội phạm. Do vậy, thành tích đạt được trong công tác phòng, chống tội phạm tham nhũng có phần đóng góp của VKSND. Qua hoạt động thực tiễn của công tác phòng chống tham nhũng, VKSND thấy, sở dĩ còn tồn tại hạn chế trên là bởi nguyên nhân như:
VKSND không có chức năng kiểm sát xử lý vi các phạm hành chính nên không có điều kiện nắm bắt được tình hình số vụ việc tham nhũng được phát hiện, sau đó chỉ xử lý hành chính mà không kiến nghị khởi tố để truy cứu trách nhiệm hình sự- đây là một nguồn, một “kênh” dẫn đến bỏ lọt tội phạm.
Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với cơ quan tổ chức khác trong việc cung cấp thông tin, tố giác về tội tham nhũng để đảm bảo việc chống làm oan, chống bỏ lọt tội phạm thực sự có hiệu quả còn chưa phù hợp và có chất lượng cao.
Chưa có cơ chế hữu hiệu bảo đảm khuyến khích và bảo vệ người tố giác, báo tin về hành vi, tội phạm tham nhũng, dẫn đến việc cung cấp thông tin về tội phạm tham nhũng từ phía người dân chocác cơ quan tố tụng còn trất hạn chế, hiệu quả rất thấp.
Chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc xử lý các vụ án tham nhũng ở một số đơn vị còn hạn chế. Vẫn còn tình trạng trả hồ sơ điều tra bổ sung với tỷ lệ cao; hồ sở trả đi trả lại nhiều lần giữa các cơ quan tố tụng dẫn đến việc giải quyết vụ án bị kéo dài, không kịp thời, giảm thiểu nhiều ý nghĩa và tác dụng thời sự của giáo dục pháp luật, gây bức xúc trong dư luận và nhân dân.
Sự chuyển biến về nhận thức, ý thức trách nhiệm của một bộ phận cán bộ đối với công tác phòng, chống tham nhũng còn chưa cao. Tính chiến đấu của bộ phận này còn thấp, tính tiên phong gương mẫu của một số người đứng đầu trong phòng chống tham nhũng còn chưa mạnh mẽ, quyết liệt. Việc tự phát hiện hành vi tham nhũng trong từng cơ quan đơn vị còn hạn chế. Rất ít vụ việc tham nhũng được phát hiện do kiểm tra nội bộ đơn vị mà chủ yếu là do nhân dân tốgiác, báo chí phản ánh.
Công tác phối hợp trong thông tin, xử lý vụ việc tham nhũng giữa các cơ quan Nội chính, Tư pháp hiệu quả chưa cao. Viêc xử lý người đứng đầu cơ quan đơn vị có xảy ra hành vi, tội phạm tham nhũng chưa được quan tâm đúng mức, không tương xứng với số lượng, mức độ, hậu quả của hành vi, tội phạm về tham nhũng gây ra.
Vận dụng một số chủ trương, chính sách và áp dụng các quy định của pháp luật vào phòng chống tham nhũng chưa sát với tình hinh thực tê. Một số chính sách, quy định về phòng chống tham nhũng còn chậm được sửa đổi, bổ sung, áp dụng trong xử lý vi phạm tội phạm tham nhũng còn lúng túng, kém hiệu quả. Tổ chức, hoạt động của các cơ quan, đơn vị chuyên trách về phòng chống tham nhũng còn nhiều bất cập, chưa bảo đảm tính độc lập của các thiết chế quyền lực phòng chống tham nhũng, hiệu quả còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra.
Để công tác phòng chống tham nhũng đạt hiệu quả cao, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đặt ra và nâng cao niềm tin của nhân dân, VKSND thấy càn thiết phải áp dụng một số giải pháp cần thiết như :
Quốc hội cần thiết thành lập mới hoặc giao cho một cơ quan, đơn vị chuyên trách để thực hiện giám sát việc tuân theo pháp luật trong việc xử lý vi phạm hành chính nhằm ngăn ngừa, khắc phục tình trạng bỏ lọt tội phạm tham nhũng. “Khoảng trống” quyền lực này (giám sát việc xử lý vi phạm hành chính) trước đây Quốc hội giao cho Viện kiểm sát nhân dân, nhưng từ 2002 nhiệm vụ này không còn thuộc VKSND mà do các cơ quan thẩm quyền xử lý tự kiểm tra. Cơ chế này không phát huy hiệu quả, do vậy, nhiều vụ việc tham nhũng lẽ ra cần phải xử lý hình sự nhưng lại xử lý hành chính, dẫn đến bỏ lọt tội phạm tham nhũng.
Cần sớm xây dựng và hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan như Ủy ban kiểm tra TW, Ban Nội chính TW, với các cơ quan chuyên trách như Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng; đảm bảo hoạt động của các cơ quan này được độc lập, khách quan trong phát hiện, xử lý tội phạm tham nhũng, chức vụ.
Cần thiết thành lập ngay một cơ quan chuyên trách điều tra độc lập trong phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm tham nhũng và chức vu để giúp Đảng, Nhà nước thực hiện có hiệu quả công tác phòng chống tham nhũng. Cơ quan này phải thực sự độc lập, khách quan, không chịu sự tác động, can thiệp của bất kỳ lực lương nào trong xem xét, xử lý vụ việc tham nhũng.
Hoàn thiện thể chế về phòng chống tham nhũng bằng việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự 1999: như quy định là tội phạm những hành vi tham nhũng nguy hiểm cho xã hội đã được quy định trong Luật phòng chống tham nhũng năm 2005 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012); ban hành hướng dẫn áp dụng Điều 25 BLHS nhằm quy định cụ thể, chặt chẽ các trường hợp và điều kiện người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự để tránh tình trạng lợi dụng, phát sinh tham nhũng, tiêu cực.
Sửa đổi, bổ sung các điều kiện về cho hưởng án treo một cách chặt chẽ (Điều 60 BLHS), để hạn chế việc cho hưởng án treo đối với tội phạm tham nhũng và phát sinh tiêu cực tham nhũng trong việc cho hưởng án treo.
Bổ sung quy định về miễn trách nhiệm hình sự đối với người đã đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng sau khi đưa hối lộ đã chủ động khai báo khi chưa bị phát giác thay cho quy định “có thể được miễn trách nhiệm hình sự” tại khoản 6 Điều 289 BLHS hiện nay.
Sửa đổi, bổ sung một số quy định của Bộ luật TTHS như: bổ sung chế định, các quy định về miễn tố với căn cứ, điều kiện áp dụng chặt chẽ để tránh việc lạm dụng khi thi hành; sửa đổi, bổ sung các quy định về tiếp nhận giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố bảo đảm cho Viện kiểm sát nắm được đầy đủ, kịp thời các tố giác, tin báo về tội phạm theo hướng: các cơ quan tổ chức xã hội khi tiếp nhận tin báo tố giác về tội phạm phải có trách nhiệm thông báo ngay cho VKSND, đồng thời bổ sung quy định VKSND có quyền trực tiếp xác minh tố giác tin báo về tội phạm khi xét thấy cần thiết.
Xây dựng và bổ sung các quy định về biện pháp hữu hiệu và cụ thể nhằm bảo vệ người tố cáo, phát hiện các hành vi tham nhũng để tránh nguy cơ bị trả thù, trù dập.
Tăng cường năng lực cho các cơ quan tư pháp trong đấu tranh phòng chống tham nhũng như: chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có năng lực, phẩm chất tốt, tinh thần trách nhiệm cao, trình độ và bản lĩnh nghề nghiệp vững vàng, dũng cảm đấu tranh phòng chống tham nhũng.
Tăng cường cơ sở vật chất trang thiết bị, phương tiện, điều kiện cho cơ quan tư pháp và cán bộ trực tiếp làm công tác phòng chống tham, nhũng.
Tăng cường hợp tác, chủ động hội nhập quốc tế về phòng chống tham nhũng, nâng cao chất lượng hiệu quả của việc tương trợ tư pháp nhất là về hình sự để xử lý hành vi tham nhũng có yếu tố nước ngoài và thu hồi tài sản bị thnam nhũng.
Thái Hưng