Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Quốc phòngvừa xây dựng Dự thảo Thông tư này hướng dẫn thực hiện các quy định tố tụng hình sự về việc bắt, tạm giữ hình sự và kiểm sát việc bắt, tạm giữ hình sự tại các đồn Biên phòng thuộc Bộ đội Biên phòng Quân đội nhân dân Việt Nam...
Thông tư liên tịch Hướng dẫn thực hiện việc bắt, tạm giữ hình sựvà kiểm sát việc bắt, tạm giữ hình sự tại các đồn Biên phòng.
Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Quốc phòngvừa xây dựng Dự thảo Thông tư này hướng dẫn thực hiện các quy định tố tụng hình sự về việc bắt, tạm giữ hình sự và kiểm sát việc bắt, tạm giữ hình sự tại các đồn Biên phòng thuộc Bộ đội Biên phòng Quân đội nhân dân Việt Nam.
Trang thông tin điện tử VKSND tối cao đăng toàn văn để các đơn vị có liên quan nghiên cứu góp ý kiến cho Thông tư được hoàn thiện (mọi ý kiến gửi về Đ/c: Viện kiểm sát quân sự Trung ương, 165 Xã Đàn, quận Đống Đa, Tp. Hà Nội).
|
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO-BỘ QUỐC PHÒNG
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập -Tự do - Hạnh phúc
|
|
Số: /2013/TTLT-VKSTC-BQP
|
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
|
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH
Hướng dẫn thực hiện việc bắt, tạm giữ hình sự
và kiểm sátviệc bắt, tạm giữhình sự tại các đồn Biên phòng.
–––––––––
Để bảo đảm thi hành đúng các quy định pháp luật về việc bắt, tạm giữ hình sự và kiểm sát việc bắt, tạm giữ hình sự tại các đồn Biên phòng, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Quốc phòng thống nhất hướng dẫn thực hiện như sau:
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Thông tư này hướng dẫn thực hiện các quy định tố tụng hình sự về việc bắt, tạm giữ hình sự và kiểm sát việc bắt, tạm giữ hình sự tại các đồn Biên phòng thuộc Bộ đội Biên phòng Quân đội nhân dân Việt Nam.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Đối tượng áp dụng của Thông tư này bao gồm:
- Các đồn Biên phòng ở khu vực biên giới trên đất liền, bờ biển và hải đảo thuộc Bộ đội Biên phòng (sau đây gọi chung là các đồn Biên phòng);
- Các Viện Kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện) nơi có đồn Biên phòng đóng quân trên địa bàn .
- Các cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc bắt, tạm giữ hình sự và kiểm sát việc bắt, tạm giữ hình sự tại các đồn Biên phòng.
Điều 3. Nguyên tắc
Việc áp dụng thực hiện Thông tư phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự, đảm bảo cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong công tác đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm; bảo đảm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.
Bảo đảm giải quyết các vụ án hình sự liên quan đến thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng trong Quân đội và ngoài Quân đội kịp thời, hiệu quả, đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan.
Chương II
BẮT, TẠM GIỮ HÌNH SỰ TẠI CÁC ĐỒN BIÊN PHÒNG
Điều 4. Thẩm quyền bắt, tạm giữ hình sự của đồn Biên phòng
1. Bộ đội Biên phòng khi thực hiện nhiệm vụ mà phát hiện tội phạm hình sự xảy ra trong khu vực biên giới trên đất liền, bờ biển, hải đảo và trên các vùng biển do Bộ đội Biên phòng quản lý thì Đồn trưởng đồn Biên phòng (gọi tắt là Đồn trưởng) có quyền bắt, tạm giữ hình sự trong các trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang và truy nã theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Khi Đồn trưởng vắng mặt thì một Phó Đồn trưởng được ủy nhiệm thực hiện quyền hạn của Đồn trưởng trong việc bắt, tạm giữ hình sự và phải chịu trách nhiệm trước Đồn trưởng về nhiệm vụ được giao. Đồn trưởng, Phó Đồn trưởng chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình trong việc bắt, tạm giữ hình sự.
Điều 5. Thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang hoặc truy nã
1. Khi có đủ tài liệu chứng minh việc bắt khẩn cấp thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 81 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Đồn trưởng phải: Ra lệnh bắt khẩn cấp, lệnh bắt khẩn cấp phải ghi rõ bắt khẩn cấp trong trường hợp nào theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; lập biên bản bắt người trong trường hợp khẩn cấp theo quy định tại Điều 84 Bộ luật Tố tụng hình sự; lấy lời khai, thu thập tài liệu về nhân thân, hành vi phạm tội của người bị bắt; ra quyết định tạm giữ nếu xét thấy cần thiết; đồng thời làm văn bản đề nghị phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp kèm theo hồ sơ gửi ngay đến Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi đồn Biên phòng đóng quân để kịp thời phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp.
Hồ sơ đề nghị Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện xét phê chuẩn lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp phải đầy đủ thủ tục tố tụng và các tài liệu có liên quan, kèm theo bảng thống kê tên các tài liệu và được đóng dấu bút lục hoặc số trang theo quy định. Nếu Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện quyết định không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp thì Đồn trưởng phải trả tự do ngay cho người bị bắt.
2. Trường hợp bắt người phạm tội quả tang hoặc nhận người bị bắt do phạm tội quả tang,đồn Biên phòng phải tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, cách ly đối tượng, ghi lời khai, niêm phong vật chứng, ghi lời khai người làm chứng. Đồn trưởng phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt trong thời gian 24 giờ kể từ khi đã dẫn giải người bị bắt về đến đồn Biên phòng và thông báo cho Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi đồn Biên phòng đóng quân biết. Nếu xác định không thuộc thẩm quyền điều tra thì phải giải ngay người bị bắt đến cơ quan điều tra có thẩm quyền.
3. Trường hợp bắt người đang bị truy nã hoặc nhận người bị bắt theo lệnh truy nã, đồn Biên phòng phải lập biên bản, lấy lời khai người bị bắt, lập danh bản, chỉ bản người bị bắt và gửi ngay thông báo kèm theo danh, chỉ bản của người đó cho cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã đến nhận người bị bắt. Trường hợp xét thấy cơ quan ra quyết định truy nã không thể đến nhận ngay người bị bắt thì Đồn trưởng ra quyết định tạm giữ hình sự và gửi ngay quyết định tạm giữ cho Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi đồn Biên phòng đóng quân, chậm nhất trước khi hết thời hạn tạm giữ 12 giờ.
4. Đồn trưởng đồn Biên pḥòng ra lệnh bắt phải thông báo ngay cho gia đ́nh người bị bắt, chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó cư trú hoặc làm việc biết, nếu việc thông báo đó cản trở đến việc điều tra th́ì sau khi cản trở không c̣òn, phải thông báo ngay.
Điều 6. Trường hợp bắt ngườicó hành vi phạm tội là người nước ngoài
1. Khi bắt người nước ngoài phạm tội, phải tuân theo các quy định từ Điều 79 đến Điều 82 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) trừ trường hợp người được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao và lãnh sự.
2. Đối với người nước ngoài được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao và lãnh sự, nếu họ phạm tội quả tang, thì đồn Biên phòng chỉ lập biên bản, thu giữ vật chứng sau đó trả tự do cho họ và báo cáo ngay cho Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố để giải quyết theo thẩm quyền .
3. Đối với người nước ngoài không được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao phạm tội, sau khi bắt, Đồn trưởng đồn Biên phòng phải báo cáo ngay cho Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố để xin ý kiến chỉ đạo giải quyết theo quy định pháp luật.
Điều 7. Thủ tục tạm giữ
1. Khi đưa người bị tạm giữ hình sự vào buồng tạm giữ phải bảo đảm:
a) Đúng đối tượng người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã; đúng thủ tục và thời hạn theo quy định của pháp luật.
b) Kiểm tra xác định tình trạng sức khoẻ của người bị tạm giữ, kiểm tra đồ vật mang theo của họ trước khi đưa vào buồng tạm giữ.
Việc kiểm tra xác định tình trạng sức khỏe của người bị tạm giữ do quân y đồn Biên phòng và những người có liên quan thực hiện.Việc kiểm tra thân thể người bị tạm giữ là nam giới, do cán bộ nam thực hiện, nữ giới do cán bộ nữ thực hiện và được tiến hành ở phòng kín.Nếu đồn Biên phòng không có quân nhân nữ hoặc công nhân viên quốc phòng là nữ thì Đồn trưởng đồn Biên phòng phối hợp với chính quyền địa phương nơi đóng quân, mời một công dân nữ ở địa phương giúp thực hiện việc kiểm tra thân thể người bị tạm giữ.
Việc xác định tình trạng sức khỏe, kiểm tra thân thể người bị tạm giữ phải được ghi vào phiếu khám sức khỏe, biên bản kiểm tra thân thể người bị tạm giữ theo mẫu quy định và được lưu vào hồ sơ tạm giữ;
c) Giải thích quyền và nghĩa vụ theo Điều 48 Bộ luật Tố tụng hình sự; phổ biến nội quy buồng tạm giữ cho người bị tạm giữ.
2. Những đồn Biên phòng không có buồng tạm giữ, Đồn trưởng cử cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền dẫn giải người có lệnh tạm giữ đến nhà tạm giữ của Công an cấp huyện hoặc trại tạm giam của Công an cấp tỉnh thuộc địa phương nơi đồn đóng quân để tạm giữ và tiến hành lấy lời khai hoặc các hoạt động điều tra khác theo quy định của pháp luật.
Điều 8. Chế độ quản lý tạm giữ tại đồn Biên phòng
1. Buồng tạm giữ hình sự ở đồn Biên phòng do Đồn trưởng trực tiếp quản lý. Đồn trưởng có nhiệm vụ, quyền hạn: Điều hành và chịu trách nhiệm về hoạt động tạm giữ; thực hiện việc tạm giữ hoặc trả tự do cho người tạm giữ; giao người tạm giữ cho cơ quan có thẩm quyền; tiến hành các hoạt động khác theo quy định của pháp luật.
2. Việc tạm giữ phải bố trí theo khu vực, phân loại người tạm giữ theo quy định. Người tạm giữ phải ở trong buồng tạm giữ và phải được tổ chức canh gác, bảo vệ an toàn trong quá trình tạm giữ. Việc trích xuất, dẫn giải người bị tạm giữ và bàn giao người bị tạm giữ phải theo quy định của pháp luật.
3. Đồn trưởng giao cho một cán bộ lập và quản lý hồ sơ tạm giữ gồm các tài liệu có liên quan đến việc bắt và tạm giữ hình sự.
Hồ sơ tạm giữ phải có: Lệnh bắt (hoặc quyết định truy nã, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tiếp nhận người ra đầu thú...); quyết định tạm giữ; biên bản bắt; biên bản giao nhận người bị bắt khi chuyển đến buồng tạm giữ; quyết định phê chuẩn của Viện Kiểm sát (trường hợp bắt khẩn cấp và gia hạn tạm giữ); biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ghi nhận tình trạng sức khỏe; nhật ký theo dõi quá trình tạm giữ (ghi chép thực hiện nội quy, tiếp xúc thăm nuôi...); lệnh trích xuất; biên bản bàn giao khi chuyển người tạm giữ cho cơ quan khác; quyết định trả tự do hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; các văn bản của Viện kiểm sát thể hiện việc kiểm sát tạm giữ và các văn bản liên quan khác (nếu có).
Tài liệu trong hồ sơ phải được đánh số thứ tự, có bản thống kê kèm theo đóng vào bìa hồ sơ và được quản lý công với các loại sổ sách theo dõi thủ tục, chế độ tạm giữ theo quy định của pháp luật.
Điều 9. Chế độ ăn, mặc, ở đối với người bị tạm giữ
Các đồn Biên phòng thực hiện chế độ ăn, mặc, ở đối với người tạm giữ theo Quy chế về tạm giữ, tạm giam (Ban hành kèm theo Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 07 tháng 11 năm 1998 của Chính phủ) và các văn bản pháp luật hiện hành. Quá trình thực hiện phải ghi chép đầy đủ vào sổ đăng ký cho mượn trang phục, chăn màn… và sổ theo dõi chế độ ăn hàng ngày của người bị tạm giữ.
Điều 10. Giải quyết người bị tạm giữ hình sự trong trường hợp bị bệnh hoặc chết trong thời gian bị tạm giữ
1. Người bị tạm giữ bị ốm đau, thương tích được cán bộ y tế của đồn Biên phòng khám và điều trị.
Trường hợp người bị tạm giữ bị ốm đau, thương tích nặng, vượt quá khả năng khám, điều trị của cán bộ y tế đồn thì đồn Biên phòng làm các thủ tục chuyển họ đến cơ sở y tế ở địa phương nơi đóng quân hoặc bệnh viện tuyến trên để điều trị và tổ chức canh giữ họ. Chi phí khám và chữa bệnh do đồn Biên phòng thanh toán với cơ sở y tế đó.
2. Trường hợp người bị tạm giữ chết tại buồng tạm giữ, thì Đồn trưởng phải tổ chức bảo vệ hiện trường, thông báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền và Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi đồn Biên phòng đóng quân biết để tiến hành khám nghiệm. Đồn trưởng Biên phòng phải chứng kiến việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và thông báo cho thân nhân người chết biết.
Mọi thủ tục tiếp theo được thực hiện theo quy định tại Quy chế về tạm giữ, tạm giam (Ban hành kèm theo Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 07 tháng 11 năm 1998 của Chính phủ) và các văn bản pháp luật hiện hành.
Điều 11. Chuyển hồ sơ để giải quyết theo thẩm quyền
Khi có căn cứ xác định người bị tạm giữ không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, Đồn trưởng làm văn bản đề nghị Cơ quan Điều tra có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ, tang vật và người bị tạm giữ đồng thời thông báo cho Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi đồn Biên phòng đóng quân biết.
Việc giao nhận hồ sơ, tang vật và người bị tạm giữ phải được lập biên bản theo quy định tại Khoản 1 Điều 95 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Việc chuyển vụ án để điều tra theo thẩm quyền, đồn Biên phòng thực hiện theo quy định tại Điều 116 Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật liên quan.
Chương III
KIỂM SÁT VIỆC BẮT, TẠM GIỮ HÌNH SỰ TẠI CÁC ĐỒN BIÊN PHÒNG
Điều 12. Thẩm quyền kiểm sát việc bắt, tạm giữ hình sự tại các đồn Biên phòng
1. Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi có các đồn Biên phòng đóng quân trên địa bàn thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật của đồn Biên phòng và người có trách nhiệm trong việc bắt, tạm giữ hình sự nhằm bảo đảm: Việc bắt, tạm giữ hình sự phải theo đúng quy định của pháp luật; chế độ tạm giữ được chấp hành nghiêm chỉnh; đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị tạm giữ và các quyền khác của họ không bị pháp luật tước bỏ được tôn trọng.
2. Khi thực hiện công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ hình sự tại các đồn Biên phòng, Viện Kiểm sát nhán dân cấp huyện có quyền:
a) Định kỳ và đột xuất trực tiếp kiểm sát buồng tạm giữ hình sự tại các đồn Biên phòng đóng quân trên địa bàn ;
b) Yêu cầu đồn Biên phòng thông báo, cung cấp hồ sơ tài liệu có liên quan và tự kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong việc bắt, tạm giữ hình sự;
c) Tiếp nhận, giải quyết các khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc bắt, tạm giữ hình sự tại các đồn Biên phòng;
d) Kháng nghị, kiến nghị theo quy định của pháp luật.
3. Đồn trưởng và các cá nhân có liên quan có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh các quyết định và yêu cầu của Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện theo quy định của pháp luật.
Điều 13. Việc phê chuẩn lệnh bắt và quyết định gia hạn tạm giữ
1. Khi tiếp nhận hồ sơ phê chuẩn lệnh bắt, phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ do đồn Biên phòng chuyển đến, Viện Kiếm sát nhân dân cấp huyện phải vào sổ thụ lý và ghi ngày nhận hồ sơ vào bìa hồ sơ. Kiểm sát viên được phân công tiến hành kiểm tra ngay tính có căn cứ và hợp pháp của việc bắt, tạm giữ hình sự, gia hạn tạm giữ hình sự của đồn Biên phòng, báo cáo Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng để giải quyết theo thẩm quyền.
2. Khi cần gặp, hỏi người bị bắt, Kiểm sát viên phải thông báo trước cho đồn Biên phòng để phối hợp trong quá trình gặp, hỏi người bị bắt. Việc gặp, hỏi người bị bắt phải được lập biên bản đúng quy định của pháp luật.
Điều 14. Thủ tục kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ hình sự tại đồn Biên phòng
1. Định kỳ 6 thángmột lần, các Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện trực tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc bắt, tạm giữ hình sự đối với các đồn Biên phòng đóng quân trên địa bàn có buồng tạm giữ hình sự nếu có việc bắt, tạm giữ hình sự.
2. Khi có người bị tạm giữ hình sự và xét thấy cần thiết như: Người bị tạm giữ trốn, chết tại buồng tạm giữ, khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong việc bắt, tạm giữ hình sự, Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện kiểm sát đột xuất buồng tạm giữ hình sự tại các đồn Biên phòng đóng quân trên địa bàn .
3. Trước khi tiến hành kiểm sát trực tiếp theo định kỳ hoặc đột xuất phải có quyết định, kế hoạch trực tiếp kiểm sát; nội dung quyết định, kế hoạch trực tiếp kiểm sát thực hiện theo hướng dẫn của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.
4. Kết thúc cuộc kiểm sát, Viện Kiểm sát công bố kết luận trước Chỉ huy đồn Biên phòng và những người có trách nhiệm trong việc bắt, tạm giữ hình sự. Nội dung kết luận, kiến nghị, khỏng nghị thực hiện theo hướng dẫn của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.
5. Trực tiếp kiểm sát định kỳ và đột xuất do Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát hoặc Kiểm sát viên được uỷ quyền tiến hành.
Điều 15. Nội dung kiểm sát trực tiếp
1. Kiểm sát việc lập hồ sơ, lưu giữ tài liệu, ghi chép sổ theo dõi và đối chiếu với người bị tạm giữ theo quy định của pháp luật. Người bị tạm giữ phải có lệnh hoặc quyết định tạm giữ hợp pháp và đang còn hiệu lực pháp luật của cơ quan và người có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hồ sơ tiếp nhận người bị tạm giữ theo đúng quy định của pháp luật và được cập nhật đầy đủ các tài liệu phát sinh trong quá trình tạm giữ.
2. Kiểm sát việc phân loại tạm giữ, việc trích xuất, bàn giao người bị tạm giữ theo quy định pháp luật. Kiểm sát việc thực hiện các chế độ đối với người bị tạm giữ. Đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm người bị tạm giữ; thực hiện đầy đủ các chế độ ăn, ở…đối với người bị tạm giữ theo quy định của pháp luật.
3. Kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót và vi phạm pháp luật trong công tác quản lý người bị tạm giữ, để kiến nghị yêu cầu Đồn trưởng có biện pháp chấn chỉnh, tổ chức phòng ngừa và khắc phục, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất vi phạm, tội phạm xảy ra ở nơi tạm giữ.
Điều 16. Thực hiện quyền yêu cầu
Khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc đã có vi phạm xảy ra ở buồng tạm giữ hình sự tại đồn Biên phòng nhưng chưa có điều kiện kiểm sát hoặc xét thấy cần thiết, Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện làm văn bản yêu cầu Đồn trưởng đồn Biên phòng đóng quân trên địa bàn: Thông báo tình hình chấp hành pháp luật; trả lời về quyết định, biện pháp hoặc việc làm vi phạm pháp luật trong việc bắt, tạm giữ hình sự theo quy định của pháp luật; tự kiểm tra và thông báo kết quả hoặc cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc bắt, tạm giữ hình sự cho Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện biết.
Điều 17. Thực hiện quyền khỏng nghị, kiến nghị
1. Khi thực hiện công tác kiểm sát việc bắt, tạm giữ hình sự tại các đồn Biên phòng, phát hiện có vi phạm phỏp luật của cỏn bộ cú trỏch nhiệm trong việc bắt, tạm giữ hình sự, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện có quyền: Kháng nghị, yêu cầu đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bói bỏ quyết định có vi phạm pháp luật trong việc bắt, tạm giữ hình sự; chấm dứt việc làm vi phạm pháp luật của đơn vị và người có trách nhiệm trong việc bắt, tạm giữ hình sự và yêu cầu xử lý người vi phạm pháp luật.
2. Khi phát hiện những việc được xác định là nguyên nhân, điều kiện dẫn đến vi phạm pháp luật hoặc những việc nếu không có biện pháp khắc phục sẽ dẫn đến vi phạm pháp luật, Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện kiến nghị đến cơ quan có thẩm quyền và người có trách nhiệm trong việc bắt, tạm giữ hình sự có biện pháp khắc phục, phòng ngừa vi phạm pháp luật.
3. Đồn trưởng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện và trả lời kháng nghị, kiến nghị của Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện theo quy định của pháp luật.
4. Trong trường hợp không nhất trí với nội dung kháng nghị, kiến nghị của Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện, Đồn trưởng vẫn phải thực hiện nhưng có quyền làm văn bản kiến nghị Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh xem xét lại đồng thời gửi một bản đến Viện Kiểm sát quân sự Bộ đội Biên phòng để phối hợp giải quyết. Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh xem xét, giải quyết và trả lời kiến nghị của Đồn trưởng Biên phòng trong thời hạn 15 ngày.
Điều 18. Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc bắt, tạm giữ hình sự tại các đồn Biên phòng
1. Khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ hình sự của đồn Biên phòng đối với các đối tượng thuộc thẩm quyền truy tố của Viện Kiểm sát quân sự do Viện Kiểm sát quân sự có thẩm quyền truy tố giải quyết.
2. Khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ hình sự của đồn Biên phòng đối với các đối tượng thuộc thẩm quyền truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân và các khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc chấp hành các quy định của pháp luật về chế độ quản lý và thực hiện chế độ đối với người bị tạm giữ tại các đồn Biên phòng do Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi đồn Biên phòng đóng quân giải quyết.
3. Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo phải được thể hiện bằng văn bản. Văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo phải được gửi đến người khiếu nại, tố cáo, người bị khiếu nại, tố cáo và người có quyền, lợi ích có liên quan. Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo phải lập hồ sơ và được lưu trữ theo quy định của pháp luật.
4. Thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều 19. Quan hệ phối hợp
1. Trong phạm vi trách nhiệm của mình, đồn Biên phòng và Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện quan hệ phối hợp chặt chẽ với nhau để thông báo tình hình và giải quyết những vấn đề liên quan đến việc bắt, tạm giữ hình sự và kiểm sát việc bắt, tạm giữ hình sự tại các đồn Biên phòng, nhằm phục vụ tốt yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm ở khu vực biên giới, hải đảo.
2. Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi có các đồn Biên phòng đóng quân trên địa bàn chủ động phối hợp với Viện Kiểm sát quân sự Bộ đội Biên phòng để nắm tình hình bắt, tạm giữvà giải quyết các vướng mắc như: Việc chuyển hồ sơ để giải quyết theo thẩm quyền; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc bắt, tạm giữ hình sự và kiểm sát việc bắt, tạm giữ hình sự tại các đồn Biên phòng; các kháng nghị, kiến nghị của Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện đối với các đồn Biên phòng.
Chương IV
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 20. Hiệu lực thi hành
Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 12 năm 2013
Điều 21. Tổ chức thực hiện
Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng chỉ đạo Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các đơn vị liên quantổ chức triển khai thực hiện Thông tư liên tịch này đến các đồn Biên phòng và các đơn vị có liên quan. Hướng dẫn các đồn Biên phòng sử dụnghệ thống sổ sách, mẫu biểu liên quan đến việc bắt, tạm giữ hình sự đúng quy định của pháp luật.
Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức triển khai thực hiện Thông tư liên tịch này đến các Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện có các đồn Biên phòng đóng quân trên địa bàn và các cơ quan, đơn vị có liên quan.
Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, các cơ quan, đơn vị tổng hợp ý kiến gửi về Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng để xem xét, giải quyết./.
|
KT.VIỆN TRƯỞNGVKSND TỐI CAO
PHÓ VIỆN TRƯỞNG
|
KT. BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG
THỨ TRƯỞNG
|
Nơi nhận:
- Ủy ban Tư pháp của QH;
- Ủy ban Pháp luật của QH;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Văn phòng Chính phủ;
- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
- Bộ Quốc phòng;
- Bộ Công an;
- Bộ Ngoại giao;
-Cục Kiểm tra văn bản QPPL Bộ Tư pháp;
- Website VKSNDTC; Website Bộ Quốc phòng;
- Lưu: VKSNDTC, VTVKSQSTW; VTBQP.