Năm 2013, tình hình kinh tế - xã hội nước ta tiếp tục có những chuyển biến tích cực; chính trị, xã hội ổn định; trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; công tác cải cách tư pháp, đấu tranh phòng, chống tội phạm được đẩy mạnh. Tình hình tội phạm nói chung đã cơ bản được kiềm chế, tuy nhiên vẫn còn diễn biến phức tạp:..
Viện kiểm sát nhân dân tối cao nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh
phòng, chống tội phạm; phòng, chống tội phạm mua bán người năm 2013
Năm 2013, tình hình kinh tế - xã hội nước ta tiếp tục có những chuyển biến tích cực; chính trị, xã hội ổn định; trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; công tác cải cách tư pháp, đấu tranh phòng, chống tội phạm được đẩy mạnh. Tình hình tội phạm nói chung đã cơ bản được kiềm chế, tuy nhiên vẫn còn diễn biến phức tạp: Các thế lực thù địch và tổ chức phản động lợi dụng việc góp ý Dự thảo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) để tuyên truyền, phát tán tài liệu với nội dung đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Tội phạm về tham nhũng tăng, xẩy ra ở nhiều lĩnh vực, gây thất thoát lớn về tài sản của Nhà nước. Tội phạm xâm phạm sở hữu, trật tự quản lý kinh tế tăng, tác động tiêu cực đến quá trình phát triển kinh tế xã hội. Vi phạm, tội phạm về môi trường xảy ra nhiều. Hoạt động của các băng, nhóm tội phạm có tính chất “xã hội đen” diễn biến phức tạp trở lại; nhiều vụ phạm tội xuất phát từ việc bảo kê, đòi nợ thuê, cho vay nặng lãi. Tội phạm có nguyên nhân do suy thoái về đạo đức xã hội, tội phạm trong thanh thiếu niên, tội phạm liên quan đến “vũ khí nóng” xảy ra nhiều...
Tội phạm mua bán người có tính chất, quy mô và thủ đoạn hoạt động ngày càng tinh vi xảo quyệt, có tổ chức chặt chẽ, xuyên quốc gia. Thủ đoạn chủ yếu của tội phạm là lợi dụng phụ nữ, trẻ em ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa có hoàn cảnh khó khăn, hạn chế về nhận thức pháp luật, việc sinh con ngoài ý muốn; lợi dụng sự nhẹ dạ, mất cảnh giác của những người có nhu cầu đi lao động ở nước ngoài hoặc tìm việc làm; lợi dụng kẽ hở trong công tác quản lý nhà nước về môi giới hôn nhân, cho nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài để dụ dỗ, lừa gạt rồi bán các nạn nhân ra nước ngoài hoặc làm gái mại dâm, cưỡng bức lao động.
Trước tình hình đó, chủ động thực hiện kế hoạch của Chính phủ, kế hoạch của Ủy ban quốc giaphòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm,cùng với việc thành lập Ban chỉ đạo ngành Kiểm sát nhân dân về các chương trình phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội, Viện trưởng VKSND tối cao đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-VKSTC ngày 02/01/2013 của Viện KSND tối cao quán triệt sâu sắc về nội dung phòng, chống tội phạm, đã chủ độngxây dựng kế hoạch của từngchương trình, hướng dẫn cho các đơn vị trong toàn Ngành để tổ chức triển khai thực hiện.
Ban chỉ đạo xây dựng kế hoạch chung cho các Chương trình (Kế hoạch số 30/KH-VKSTC-BCĐ ngày 02/4/2013 thực hiện các chương trình phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội năm 2013), qua đó yêu cầu thống nhất thực hiện tốt các tiêu chí: tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng chủ động phòng ngừa, kiềm chế sự gia tăng của các loại tội phạm và tệ nạn xã hội, nhất là tội phạm về ma túy, tội phạm mua bán người; xử lý kịp thời, nghiêm minh các vụ án trọng điểm, phức tạp, gây bức xúc trong xã hội.
Hàng quý, Ban Chỉ đạo tiến hành họp kiểm điểm đánh giá tình hình và kết quả thực hiện các nhiệm vụ cụ thể trong các kế hoạch, chương trình công tác, kịp thời bổ sung nhiệm vụ mới; làm rõ nguyên nhân những hạn chế, vướng mắc trong quá trình triển khai, thực hiện và đề ra biện pháp khắc phục. Chấp hành nghiêm túc việc báo cáo kết quả công tác kiểm sát phục vụ nhiệm vụ phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội. Kịp thời phân bổ kinh phí cho các đơn vị trực thuộc trực tiếp làm nhiệm vụ phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội, bảo đảm việc quản lý, sử dụng kinh phí hỗ trợ có hiệu quả, tiết kiệm, đúng quy định của Nhà nước.
Chú trọng công tác kiểm tra, giám sát, ngoài việc nắm bắt tình hình thông qua báo cáo định kỳ của các đơn vị, địa phương, của Tổ thường trực giúp việc, Ban chỉ đạo cử thành viên trực tiếp tham gia cùng các đoàn kiểm tra toàn diện kết quả công tác của Ngành tại các tỉnh, thành phố để kiểm tra việc triển khai, thực hiện Kế hoạch các chương trình phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội. Qua đó, đánh giá các mặt làm được, chưa được trong quá trình thực hiện, đồng thời chỉ đạo áp dụng các biện pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong công tác này.
Tích cực, chủ động phối hợp với các bộ, ngành trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội. Thực hiện kế hoạch của Thường trực Ban Chỉ đạo 138/CP, Văn phòng VKSND tối cao chủ trì Đoàn khảo sát liên ngành về tình hình và kết quả một năm thực hiện công tác chuyển hóa địa bàn trọng điểm, phức tạp về an ninh trật tự và 03 năm thực hiện Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2011-2013 tại các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh. Qua kiểm tra, đã kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những hạn chế, thiếu sót của địa phương, đồng thời ghi nhận, tổng hợp nhiều đề xuất, kiến nghị báo cáo Ban chỉ đạo 138/CP có giải pháp, biện pháp chỉ đạo, khắc phục kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm... triển khai thực hiện Chỉ thị số 48-CT/TW, ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới,VKSND tối cao đã xây dựng kế hoạch tổ chức sơ kết trong toàn Ngành, xây dựng báo cáo sơ kết, qua đó đánh giá được toàn diện thực trạng tình hình triển khai, kết quả thực hiện Chỉ thị trong ngành Kiểm sát nhân dân; Tập trung nghiên cứu góp ý kiến xây dựng các văn bản của Ban chỉ đạo 138/CP và các cơ quan chức năng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, như: KÕ ho¹ch xây dựng chiến lược Quốc gia phòng, chống tội phạm; Quy chế hoạt động và phân công nhiệm vụ thành viên Ban chỉ đạo 138/CP; Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống tội phạm; Thông tư liên tịch quy định việc quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống tội phạm...
VKSND tối cao chỉ đạo toàn Ngành thực hiện nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hành quyền công tố ngay trong giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, bảo đảm mọi hành vi phạm tội bị phát hiện đều được khởi tố điều tra, chống oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm; chủ động phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ký Thông tư liên tịch số 06, ngày 02/8/2013 hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Trong năm, đã thụ lý kiểm sát 93.879tố giác, tin báo về tội phạm; Cơ quan điều tra đã giải quyết 82.498tố giác, tin báo; đã kiểm sát trực tiếp tại 473 Cơ quan điều tra, ban hành 372 kiến nghị yêu cầu khắc phục vi phạm, thiếu sót.
Viện kiểm sát các cấp thực hiện nhiều biện pháp để nâng cao trách nhiệm trong việc phê chuẩn, đảm bảo các lệnh, quyết định về bắt, tạm giữ, tạm giam đủ căn cứ, đúng pháp luật. Đã kiểm sát việc bắt, tạm giữ về hình sự 72.021 người. Viện kiểm sát các cấp đã giải quyết 68.979 vụ/125.038 bị can; trong đó, quyết định truy tố 68.449 vụ/123.996 bị can, ®· ban hµnh 530 kiÕn nghÞ yªu cÇu C¬ quan ®iÒu tra kh¾c phôc vi ph¹m trong ho¹t ®éng ®iÒu tra, 164 kiÕn nghÞ víi c¸c c¬ quanhữu quan về phßng ngõa vi ph¹m, téi ph¹m.
Toàn ngành Kiểm sát đã chú trọng đề ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử theo thủ tục sơ thẩm 66.079 vụ; theo thủ tục phúc thẩm 12.135 vụ (có 861 vụ do Viện kiểm sát kháng nghị) và theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 240 vụ (có 102 vụ do Viện kiểm sát kháng nghị); ban hành 366 kiến nghị yêu cầu Tòa án khắc phục vi phạm , 32 kiến nghị đối với các cơ quan hữu quan đề nghị áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm và tội phạm.Cơ quan điều tra VKSND tối cao chú trọng nâng cao chất lượng khởi tố, điều tra các vụ án thuộc thẩm quyền: khởi tố, điều tra 41 vụ/41 bị can, đề nghị truy tố 24 vụ/33 bị can; chú trọng làm rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh vi phạm, tội phạm, đã ban hành 81 kiến nghị yêu cầu cơ quan tư pháp khắc phục và tăng cường các biện pháp giáo dục và phòng ngừa chung.
Viện kiểm sát các cấp kiểm sát chặt chẽ việc ra quyết định thi hành án hình sự; đã yêu cầu Tòa án ra quyết định thi hành án đối với 95 bị án; yêu cầu Công an áp giải 251 bị án. Qua kiểm sát, ban hành 136 kháng nghị, 451 kiến nghị yêu cầu Cơ quan Công an, Tòa án khắc phục vi phạm trong công tác này. Tiến hành kiểm sát trực tiếp tại 2.272 UBND cấp xã, phường. Qua kiểm sát, ban hành 181 kháng nghị và 952 kiến nghị yêu cầu UBND cấp huyện, cấp xã chỉ đạo, khắc phục một số vi phạm, qua đó góp phần chấn chỉnh công tác quản lý, giáo dục người bị phạt án treo, cải tạo không giam giữ tại địa phương.
Viện kiểm sát các cấp tiếp tục tăng cường phối hợp với các ngành chức năng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; công tác phối hợp từ cấp trung ương đến địa phương ngày càng hiệu quả hơn, nhất là trong việc điều tra, truy tố và xét xử các vụ án trọng điểm, phức tạp, dư luận quan tâm. Trong năm, Viện kiểm sát các cấp phối hợp với Cơ quan điều tra, Tòa án xác định 3.234 vụ án điểm, tổ chức 9.152 phiên tòa xét xử lưu động, qua đó góp phần giáo dục ý thức pháp luật và trách nhiệm đấu tranh phòng, chống tội phạm trong nhân dân.
Nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác thống kê tội phạm, Viện trưởng VKSND tối cao đã ban hành Chỉ thị 06/CT-VKSTC ngày 05/11/2012 về tăng cường công tác thống kê và ứng dụng công nghệ thông tin trong Ngành, thực hiện nhiều đổi mới trong công tác này, bảo đảm số liệu thống kê chính xác, đầy đủ và kịp thời phục vụ hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm, tội phạm.
Tiếp tục tăng cường hợp tác với Viện kiểm sát, Viện công tố các nước, với các tổ chức quốc tế trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Thực hiện tốt việc tiếp nhận, quản lý, giải quyết các yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam và các nước trên thế giới. VKSND tối cao chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành tiến hành đàm phán thành công Hiệp định tương trợ tư pháp với Nam Phi, Australia, ký Hiệp định tương trợ tư pháp hình sự với Indonesia; nghiên cứu, xây dựng Hiệp định tương trợ tư pháp hình sự với Tây Ban Nha, Kazakhstan,…; hoàn thành Hiệp định mẫu tương trợ tư pháp về hình sự.
Thực hiện Kế hoạch số 01/KH-BCĐ130 (VPTT) ngày 02/01/2013 của Ban chỉ đạo 130/CP thực hiện chương trình hành động phòng, chống tội phạm mua bán người năm 2013, VKSND tối cao xây dựng Kế hoạch số 13/VKSTC-V1A ngày 14/3/2013 chỉ đạo VKSND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nhất là các địa bàn trọng điểm triển khai thực hiện Chương trình hành động phòng, chống tội phạm mua bán người tại địa phương mình.Năm 2013, Viện kiểm sát các cấp đã thụ lý kiểm sát 188 vụ/413 bị can về tội mua bán người, 24 vụ/97 bị can về tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em; đã truy tố 144 vụ/338 bị can về tội mua bán người, 44 vụ/78 bị can về tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em; thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm 156 vụ/333 bị cáo về tội mua bán người, 42 vụ/74 bị cáo về tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em.
VKSND tối cao chủ động phối hợp với cơ quan hữu quan ban hành Thông tư liên tịch 01/2013/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTP hướng dẫn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi mua bán người; mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em. Góp ý kiến xây dựng Nghị định số 09/2013/NĐ-CP ngày 11/01/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều luật phòng, chống mua bán người. Đã triển khai và tổng kết hai tháng cao điểm đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người trên các tuyến biên giới và địa bàn trọng điểm; tổ chức tập huấn nghiệp vụ về "Kỹ năng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử các vụ án mua bán người" cho Kiểm sát viên ở hai miền Nam và Bắc, góp phần nâng cao nhận thức, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn, tháo gỡ một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ án mua bán người.
Công tác tuyên truyền về phòng, chống tội phạm, và phòng, chống tội phạm mua bán người:Các cơ quan báo chí của Ngành, Trang tin điện tử của VKSND tối cao, Viện kiểm sát các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung tuyên truyền phản ánh kịp thời kết quả thực hiện các chương trình phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội của Ngành; các chủ trương, đường lối, Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước; kết quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát các cấp theo tinh thần cải cách tư pháp; các phong trào thi đua, những điển hình tiên tiến trong Ngành; quán triệt chỉ đạo của VKSND tối cao với Viện kiểm sát địa phương trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và phòng, chống tội phạm mua bán người. Tập trung thông tin về các vụ án, về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan bảo vệ pháp luật, về giải đáp, tư vấn pháp luật...VKSND tối cao chủ động phối hợp với kênh Truyền hình An ninh nhân dân, Bộ Công an xây dựng và phát sóng định kỳ 02 số/tháng chương trình truyền hình Kiểm sát nhân dân nhằm đẩy mạnh công tác tuyên truyền về tổ chức, hoạt động của Ngành và nâng cao vai trò của Viện kiểm sát đối với công tác phòng, chống tội phạm, và phòng, chống tội phạm mua bán người.
* Để nâng cao hiệu quả và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phòng, chống ma túy và tội phạm mua bán người, VKSND thấy cần phải thực hiện các giải pháp sau:
Thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra”, “Nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa”. Phối hợp chặt chẽ với cơ quan có thẩm quyền giải quyết tốt các vụ án trọng điểm, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm, các vụ án về ma tuý, mua bán người;lựa chọn các vụ án điểm đưa ra xét xử lưu động; nâng cao số lượng, chất lượng các kiến nghị về phòng ngừa vi phạm, tội phạm.
Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về phòng, chống tội phạm để cán bộ, công chức, viên chức trong Ngành nâng cao nhận thức và đề cao trách nhiệm trong công tác này. Thông qua hoạt động công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của nhân dân về trách nhiệm đấu tranh phòng, chống tội phạm, phòng, chống ma túy và phòng, chống tội phạm mua bán người.
Tiếp tục nghiên cứu, xây dựng Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi), Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi). Phối hợp với các ngành hữu quan xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành luật. Tiếp tục thực hiện Tiểu Đề án 3 thuộc Đề án II về nâng cao hiệu quả truy tố và xét xử tội phạm mua bán người theo các mục tiêu mà Chương trình đã đặt ra.
Tăng cường hợp tác quốc tế về phòng, chống tội phạm, phòng, chống ma tuý và phòng, chống tội phạm mua bán người. Thực hiện tốt công tác tương trợ tư pháp về hình sự; tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác với Viện kiểm sát, Viện Công tố các nước, các tổ chức quốc tế trong công tác phòng, chống tội phạm.
Các cấp ủy đảng tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc các cấp, các ngành trong việc thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm đã đề ra trong Chỉ thị số 48-CT/TW, Chỉ thị số 21-CT/TW, Chỉ thị số 09-CT/TW; sự tham gia tích cực của các ban, ngành, đoàn thể và toàn thể nhân dân trong công tác phòng, chống tội phạm, phòng, chống ma tuý và phòng, chống tội phạm mua bán người.
Các cơ quan chức năng tiếp tục nghiên cứu, đề ra chính sách phát triển kinh tế - xã hội phù hợp, nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, tạo thêm việc làm để từng bước nâng cao đời sống của nhân dân, góp phần quan trọng loại bỏ những nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh, gia tăng tội phạm.
Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách về công tác phòng, chống tội phạm, phòng chống ma tuý và phòng, chống tội phạm mua bán người: đẩy nhanh tiến độ xây dựng các dự án Bộ luật Hình sự sửa đổi, Bộ luật Tố tụng Hình sự sửa đổi, Luật tổ chức điều tra hình sự; ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành luật, nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong áp dụng pháp luật.
Tăng cường năng lực cho các cơ quan bảo vệ pháp luật, lực lượng trực tiếp phòng, chống tội phạm, phòng, chống ma tuý và tội phạm mua bán người: tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị làm việc; tăng kinh phí thực hiện các chương trình; đổi mới chế độ, chính sách cho đội ngũ cán bộ chuyên trách trong công tác này nhằm khuyến khích sự tận tâm cho công việc và góp phần ngăn ngừa tiêu cực trong thực thi nhiệm vụ.
Thái Hưng