Kháng nghị phúc thẩm là một trong những quyền năng pháp lý quan trọng Nhà nước giao cho Viện kiểm sát và duy nhất chỉ Viện kiểm sát có quyền năng này. Đây không chỉ là quyền mà còn là trách nhiệm của Viện kiểm sát nhằm đảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa án được ban hành có căn cứ, đúng pháp luật. Vừa qua, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã đánh giá 5 năm thực hiện Chỉ thị số 03/2008/CT-VKSTC-VPT1 ngày 19/6/2008 của Viện trưởng Viện trưởng VKSNDTC về công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự...
Những giải pháp nhằm tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự
Kháng nghị phúc thẩm là một trong những quyền năng pháp lý quan trọng Nhà nước giao cho Viện kiểm sát và duy nhất chỉ Viện kiểm sát có quyền năng này. Đây không chỉ là quyền mà còn là trách nhiệm của Viện kiểm sát nhằm đảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa án được ban hành có căn cứ, đúng pháp luật. Vừa qua, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã đánh giá 5 năm thực hiện Chỉ thị số 03/2008/CT-VKSTC-VPT1 ngày 19/6/2008 của Viện trưởng Viện trưởng VKSNDTC về công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự. Qua đó đã đánh giá toàn diện kết quả đã đạt được, thẳng thắn chỉ ra những mặt còn tồn tại hạn chế và đề ra các giải pháp cụ thể, thiết thực nhằm phát huy kết quả đạt được trong các năm qua, tiếp tục tăng cường và nâng cao hơn nữa chất lượng kháng nghị phúc thẩm theo đúng tinh thần Chỉ thị, qua đó góp phần hoàn thành tốt chức năng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp của Ngành. Trang tin điện tử VKSND tối cao trích đăng những giải pháp nhằm tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm án hình sự để bạn đọc tham khảo:
Kháng nghị phúc thẩm án hình sự nói chung trong các lĩnh vực tố tụng, trong đó có lĩnh vực tố tụng hình sự là thẩm quyền pháp lý mà pháp luật chỉ giao cho Viện kiểm sát. Đây không chỉ là quyền mà còn là trách nhiệm mà Ngành kiểm sát nhân dân phải thực hiện, qua đó cũng khẳng định và nâng cao vị thế, vai trò của Viện kiểm sát.
Để làm tốt công tác kháng nghị phúc thẩm án hình sự cần:
Tăng cường công tác chỉ đạo điều hành
Kháng nghị phúc thẩm không những là biện pháp để thực hiện tốt chức năng luật định của Ngành mà còn đảm bảo bảo pháp luật được thực thi thống nhất, đồng thời phục vụ có hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác kháng nghị phúc thẩm trước hết cần khắc phục những nhận thức không đúng liên quan đến công tác này như: Tư tưởng thoả hiệp để giữ quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát với Tòa án; e ngại cấp phúc thẩm phát hiện ra các vi phạm của cấp sơ thẩm, từ đó ảnh hưởng đến Thẩm phán, Kiểm sát viên trong đánh giá thi đua và tái bổ nhiệm chức danh… Quá trình chỉ đạo điều hành cần tiếp tục quán triệt thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 03/CT-VKSTC-VPT1 ngày 19/6/2008 về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm, coi đây là một công việc phải làm thường xuyên, Lãnh đạo đơn vị phải có chương trình, biện pháp cụ thể để tổ chức thực hiện Chỉ thị, phải có chỉ tiêu cụ thể về công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự; quản lý chặt chẽ và thường xuyên kiểm tra công tác kiểm sát bản án sơ thẩm của Kiểm sát viên sau khi tham gia phiên toà; sắp xếp, bố trí cản bộ, Kiểm sát viên chuyên trách có năng lực thực tiễn làm công tác kiểm sát bản án, phát hiện vi phạm và dự thảo kháng nghị với bản án sơ thẩm của Toà án cấp dưới; đồng thời có sự chỉ đạo, kiểm tra sâu sát, toàn diện, kịp thời. Phân công cụ thể và tăng cường trách nhiệm của Lãnh đạo Viện kiểm sát cấp tỉnh trong việc đôn đốc, kiểm tra các phòng THQCT, KSĐT và KSXX sơ thẩm án hình sự trong việc nghiên cứu bản án sơ thẩm và gửi bản án sơ thẩm lên cho các Viện phúc thẩm. Quan tâm chỉ đạo và phân công cán bộ ghi chép đầy đủ, kịp thời các sổ sách theo dõi kết quả xét xử, phục vụ tốt cho công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo Viện.
Đối với những vụ án có quan điểm xử lý khác nhau lớn giữa Viện kiểm sát và Tòa án, Lãnh đạo đơn vị cần trực tiếp nghiên cứu hồ sơ để kiểm tra tính hợp pháp, có căn cứ của bản án sơ thẩm trước khi xem xét quyết định kháng nghị, tránh thụ động trên cơ sở báo cáo của Kiểm sát viên. Cần đưa công tác kháng nghị phúc thẩm là một nội dung trong các cuộc kiểm tra định kỳ hàng năm của các cấp Kiểm sát, qua đó biểu dương kịp thời với những cá nhân làm tốt hoặc kiểm điểm làm rõ trách nhiệm cá nhân chưa thực hiện hết trách nhiệm trong công tác kháng nghị phúc thẩm, gắn chất lượng công tác kháng nghị vào việc bình xét thi đua tập thể, cá nhân.
Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nâng cao trách nhiệm của mỗi cấp kiểm sát, của cán bộ, Kiểm sát viên
Để làm tốt công tác kháng nghị, Kiểm sát viên phải tinh thông nghiệp vụ, thường xuyên nghiên cứu cập nhật văn bản pháp luật làm cơ sở cho việc thực hiện kháng nghị. Ngành cần có sự đổi mới trong công tác tuyển dụng, đào tạo, đào tạo lại nhằm hình thành đội ngũ cán bộ hiểu biết chuyên sâu về từng lĩnh vực; thường xuyên mở các lớp tập huấn, hội thảo khoa học về kỹ năng thu thập thông tin, phát hiện vi phạm, kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, kỹ năng xây dựng một bản kháng nghị phúc thẩm. Bên cạnh đó, các đơn vị làm công tác THQCT, KSXX phúc thẩm cần tăng cường trao đổi, toạ đàm về nghiệp vụ cho cán bộ, Kiểm sát viên trong đơn vị. Mỗi cán bộ, Kiểm sát viên cũng cần tự đào tạo, rèn luyện để nâng cao nhận thức pháp luật, ý thức trách nhiệm trong quá trình thực hiện công vụ.
Tổ chức thực hiện tốt công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên toà cũng như sau phiên tòa nhằm phát hiện kịp thời các vi phạm của bản án sơ thẩm để kháng nghị. Trường hợp Tòa án tuyên khác quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát thì Kiểm sát viên phải nghiên cứu lại vụ án, viết báo cáo án xét xử khác quan điểm, đề xuất việc kháng nghị, nếu không kháng nghị phải nêu rõ lý do. Tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát bản án, quyết định sơ thẩm ở đều khắp các đơn vị trong Ngành. Các Viện kiểm sát cấp huyện và các phòng Kiểm sát điều tra cần tăng cường chất lượng công tác kiểm tra bản án sơ thẩm và lập phiếu kiểm sát bản án theo đúng quy định; có biện pháp khắc phục ngay việc vi phạm thời hạn gửi bản án sơ thẩm cho Viện kiểm sát cấp phúc thẩm. Qua công tác kiểm sát bản án, phát hiện các bản án có thiếu sót, vi phạm cần kiên quyết kháng nghị phúc thẩm, với những trường hợp eo vi phạm nhưng không nghiêm trọng thì tập hợp để kiến nghị yêu cầu Toà án khắc phục. Định kỳ hàng tháng, Viện kiểm sát cấp trên ban hành thông báo về tình hình, kết quả kiểm sát bản án, quyết định sơ thẩm của Viện kiểm sát cấp dưới để chấn chỉnh, rút kinh nghiệm.
Phát huy vai trò của Viện kiểm sát cùng cấp trong việc chủ động, thường xuyên đôn đốc Tòa án gửi bản án, quyết định sơ thẩm đúng quy định. Để khắc phục những vi phạm trong việc gửi bản án của Tòa án, Viện kiểm sát cấp sơ thẩm cần xây dựng, sửa đổi, bổ sung Quy chế phối hợp trong hoạt động truy tố, xét xử với ngành Tòa án về nội dung, phương pháp chuyển, tiếp nhận bản án sơ thẩm. Bên cạnh đó cần thường xuyên tích lũy vi phạm, thông tin trao đổi giữa các cấp Kiểm sát để kiến nghị với Tòa án cùng cấp hoặc Tòa án cấp dưới yêu cầu khắc phục kịp thời việc gửi bản án sơ thẩm không đầy đủ và quá hạn luật định Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần tổng hợp số liệu gửi bản án sơ thẩm của ngành Tòa án để xem xét kiến nghị với Ủy ban Tư pháp của Quốc hội về việc chấp hành Điều 229 Bộ luật tố tụng hình sự khi thấy cần thiết. Hàng năm, các Viện phúc thẩm cần tập hợp vi phạm của Toà án trong việc gửi bản án sơ thẩm cho Viện kiểm sát để báo cáo Viện trưởng VKSNDTC xem xét; đề xuất đưa vào báo cáo của Viện trưởng VKSNDTC trước Quốc hội trong việc thực hiện Nghị quyết 37 của Quốc hội về báo cáo tình hình chấp hành pháp luật trong hoạt động tư pháp.
Tăng cường công tác phối hợp giữa các đơn vị Kiểm sát ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm
Cần tăng cường phối kết hợp giữa các đơn vị Kiểm sát ở cấp sơ thẩm và phúc thẩm trong giải quyết kháng nghị, trong đó có việc báo cáo, tham khảo ý kiến Viện kiểm sát cấp trên trước khi kháng nghị phúc thẩm ngang cấp. Sau khi đã ra quyết định kháng nghị phúc thẩm, Viện kiểm sát cấp dưới cần trao đổi thêm với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp về quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, đặc biệt nêu rõ căn cứ, lý do kháng nghị phúc thẩm. Viện kiểm sát cấp trên phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, các căn cứ và lý do kháng nghị, cần thiết có thể thực hiện các biện pháp khác nhau để củng cố hồ sơ, thu thập thêm chứng cứ phục vụ cho việc bảo vệ quan điểm trong kháng nghị. Nếu Viện kiểm sát cấp trên thấy kháng nghị của Viện kiểm sát cấp dưới chưa chính xác thì trao đổi với với Viện kiểm sát ra kháng nghị có quyết định kháng nghị bổ sung (nếu còn thời hạn) hoặc rút kháng nghị (nếu không có căn cứ kháng nghị), hoặc Viện kiểm sát cấp trên ra quyết định kháng nghị bổ sung (nếu còn thời hạn kháng nghị). Thường xuyên ban hành thông báo rút kinh nghiệm về các kháng nghị phúc thẩm có chất lượng tốt cũng như các kháng nghị bị Toà án không chấp nhận hoặc bị Viện kiểm sát cấp phúc thẩm rút kháng nghị. Hàng năm cần xây dựng những chuyên đề nghiệp vụ để đánh giá, rút kinh nghiệm đối với trường hợp Viện kiểm sát cấp trên rút kháng nghị hoặc Tòa cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng nghị.
Tăng cường quan hệ phối hợp với các đơn vị Viện kiểm sát cấp giám đốc thẩm. Nếu kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nhưng Tòa án không chấp nhận thì cần kịp thời báo cáo Viện kiểm sát cấp trên xem xét kháng nghị giám đốc thẩm. Tăng cường vai trò của các đơn vị Kiểm sát làm nhiệm vụ THQCT và KSXX theo thủ tục giám đốc thẩm. Về vấn đề này cần giải quyết tốt hai khía cạnh:
- Thứ nhất là Viện kiểm sát cấp giám đốc thẩm (Phòng 3 Viện kiểm sát cấp tỉnh và Vụ 3 VKSNDTC) cần quan tâm hơn nữa tới các báo cáo, đề nghị của các Viện kiểm sát địa phương và của các Viện phúc thẩm trong việc đề nghị nghiên cứu, xem xét kháng nghị giám đốc thẩm. Những vụ việc này, hoặc là do cấp phúc thẩm không có thẩm quyền giải quyết hoặc những vụ bị Toà án cấp phúc thẩm bác kháng nghị, bác quan điểm của Viện kiểm sát cấp phúc thẩm không có căn cứ. Các đơn vị làm công tác giám đốc thẩm cần khẩn trương nghiên cứu, sớm có quan điểm đối với những vụ việc loại này. Đối với những vụ việc mà quan điểm của cấp giám đốc thẩm cho rằng tuy Toà án có vi phạm nhưng chưa đến mức'' hoặc ''không cần thiết'' phải kháng nghị giám đốc thẩm thì cần tập hợp, có thông báo rút kinh nghiệm chung với Toà án và Viện kiểm sát cấp sơ thẩm và phúc thẩm. Đây đồng thời cũng là biện pháp bảo vệ quan điểm đúng đắn của Viện kiểm sát cấp sơ thẩm và phúc thẩm; qua đó có ý nghĩa ''động viên'' Viện kiểm sát cấp sơ thẩm và phúc thẩm; mặt khác cũng “cảnh báo'' và công khai vi phạm của Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm để rút kinh nghiệm chung.
- Thứ hai là, trong điều kiện hoàn thiện Bộ luật TTHS theo yêu cầu cải cách tư pháp, định hướng coi giám đốc thẩm là một thủ tục đặc biệt; do vậy những vụ việc có vi phạm nghiêm trọng mới có thể bị kháng nghị và xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm. Vì vậy sẽ có nhiều vụ việc mà Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm có vi phạm nhưng sẽ không bị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, vì thế trong quá trình hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự, cần nghiên cứu để đổi mới vị trí, vai trò của cấp phúc thẩm (Tòa án và Viện kiểm sát) theo hướng khẳng định cấp phúc thẩm là một cấp xét xử, là cấp xét xử lại, do vậy cần có những quyền hạn đổi mới hơn để có thể giải quyết được những vướng mắc, vi phạm của cấp sơ thẩm mà không cần phải chuyển lên cho cấp giám đốc thẩm.
Từ các phân tích nêu trên, khẳng định nhu cầu khách quan cần sửa đổi Bộ luật TTHS theo hướng tăng cường hơn quyền hạn cho cấp phúc thẩm để kịp thời khắc phục những vi phạm của cấp sơ thẩm.
Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự:
Một là: Quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của Ngành đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp cần tăng cường nguồn lực đầu tư hơn nữa cho công tác thực hành quyền công tố và KSXXHS mà trước hết là đầu tư về con người. Thực tế công tác cho thấy, hoạt động của Kiểm sát viên làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ vai trò quyết định đến chất lượng công tố tại phiên toà. Do đó cần có sự lựa chọn cán bộ có trình độ, năng lực, ý thức trách nhiệm cao, trong đó nhấn mạnh kỹ năng tranh luận để bố trí vào công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử.
Ngành cần có chiến lược xây dựng hệ thống giáo trình, bài giảng về kỹ năng THQCT và KSXX hình sự; tổ chức nhiều lớp, nhiều loại hình đào tạo nhằm nâng cao nhận thức pháp luật nói chung về hình sự, tố tụng hình sự, dân sự và các pháp luật khác cho đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên.
Hai là: Đề xuất sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự, Bộ luật TTHS và xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành, thực hiện các quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật TTHS.
Nghiên cứu đề xuất cơ quan có thẩm quyền sớm sửa đổi, bổ sung Bổ sung luật hình sự theo hướng thu hẹp khoảng cách trong khung hình phạt của các điều luật nhằm hạn chế sự tùy tiện trong áp dụng pháp luật, dẫn đến tình trạng ''xử thế nào cũng được''. Quy định rõ các tình tiết định khung liên quan đến định lượng giá trị tài sản, giá trị vật, giá trị thiệt hại... Đối với một số tội phạm tham nhũng cần quy định rõ khách thể, chủ thể của tội phạm, đảm bảo việc kháng nghị cũng như bảo vệ kháng nghị có căn cứ (nhất là vướng mắc về tội Tham ô tài sản có liên quan đến các doanh nghiệp có một phần vốn thuốc sở hữu Nhà nước). Đề nghị xây dựng Thông tư liên tịch và văn bản hướng dẫn tháo gỡ các khó khăn vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật hình sự, nhất là các vướng mắc về nhận thức và áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Đề xuất xây dựng Bộ luật TTHS theo hướng: Bổ sung căn cứ kháng nghị phúc thẩm hình sự. Xuất phát từ vị trí, vai trò của Viện kiểm sát là cơ quan kiểm sát hoạt động tư pháp, lại là cơ quan duy nhất có quyền kháng nghị phúc thẩm, do vậy cần quy định Toà án cấp sơ thẩm phải gửi biên bản phiên tòa, biên bản nghị án cho Viện kiểm sát cùng cấp. Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi bản án, quyết định sơ thẩm cho Viện kiểm sát cấp trên; Toà án cấp phúc thẩm phải gửi bản án, quyết định phúc thẩm cho Viện kiểm sát cùng cấp trong mọi trường hợp (có hoặc không có kháng nghị). Sửa đổi quy định thời hạn kháng nghị phúc thẩm cần được tính kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được bản án, quyết định sơ thẩm, chứ không tính từ ngày tuyên án như hiện nay. Sửa đổi, bổ sung, quy định rõ hơn thẩm quyền, phạm vi giới hạn xét xử phúc thẩm đối với trường hợp sửa bản án sơ thẩm không cho bị cáo hưởng án treo, áp dụng hoặc tăng hình phạt bổ sung. Bổ sung thêm căn cứ hủy án sơ thẩm do “có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử'' và trong trường hợp có vi phạm nghiêm trọng trong áp dụng Bộ luật hình sự hạn chế tùy tiện trong việc hủy án sơ thẩm của cấp phúc thẩm như hiện nay. Quy định rõ về việc đính chính bản án (một số vụ án Viện kiểm sát kháng nghị do bản án vi phạm về nội dung, sai sót về số liệu, Tòa án sơ thẩm ngay sau đó đính chính bản án dẫn tới căn cứ để kháng nghị không thuyết phục). Quy định rõ căn cứ để hoãn phiên tòa phúc thẩm, tránh trường hợp hoãn phiên tòa quá nhiều lần gây khó khăn, tốn kém cho nhà nước, cho đương sự. Qui định rõ thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm trường hợp cấp phúc thẩm phát hiện cấp sơ thẩm có sai lầm trong áp dụng tội danh hoặc khung hình phạt, cần phải xét xử bị cáo theo khung hình phạt nặng hơn, có mức cao nhất là tử hình nhưng ở cấp sơ thẩm, bị cáo chỉ bị xét xử với Hội đồng xét xử 3 người và không có người bào chữa. Qui định rõ quyền hạn của cấp phúc thẩm có được huỷ bản án sơ thẩm trong trường hợp cấp sơ thẩm bỏ lọt hành vi và người phạm tội hay không?
Ba là:Cần sửa đổi, bổ sung một số quy chế nghiệp vụ của Ngành theo tinh thần của Chỉ thị. Đối với “Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự'' cần bổ sung một số quy định như: Quy định về thời hạn gửi bản án, quyết định từ cấp sơ thẩm lên cấp phúc thẩm; quy định về trách nhiệm đôn đốc việc gửi bản án, quyết định sơ thẩm; quy định về trách nhiệm theo dõi quản lý các bản án, quyết định sơ thẩm được gửi đến; quy định về việc kiểm sát và lập phiếu kiểm sát bản án, quyết định sơ thẩm ở 2 cấp sơ - phúc thẩm; trách nhiệm của Kiểm sát viên, lãnh đạo đơn vị trong việc phát hiện vi phạm và ban hành kháng nghị phúc thẩm; quy định về việc báo cáo, kiểm tra với những trường hợp có sự khác nhau giữa đề nghị của Viện kiểm sát và quyết định Tòa án về áp dụng Bộ luật hình sự, về mức án...
Bổ sung vào “Quy chế về tổ chức và hoạt động của Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự'' các quy định để Vụ 3 làm tốt nhiệm vụ tổng hợp rút kinh nghiệm chung trong toàn Ngành về những vi phạm của Toà án trong việc chấp hành các quy định của pháp luật; từ đó để kiến nghị hoặc phối hợp với ngành Toà án xây dựng các văn bản hướng dẫn liên ngành.
Sửa đổi, bổ sung một số quy định trong ''Quy chế thi đua - khen thưởng ngành Kiểm sát nhân dân''. Tại điểm a Điều 12 Quy chế quy định một trong các tiêu chuẩn để các tập thể được xét tặng ''Cờ thi đua của Chính phủ'' hoặc các danh hiệu thi đua khác là ''phát hiện vi phạm của Tòa án, kháng nghị theo các thủ tục tố tụng và được Tòa án chấp nhận 90% trở lên''. Thực tế cho thấy đánh giá chất lượng kháng nghị cần căn cứ vào kết quả xét xử và nội dung kháng nghị. Việc lấy tiêu chí là tỷ lệ kháng nghị được Tòa án chấp nhận là chưa phù hợp, không khuyến khích các đơn vị kháng nghị phúc thẩm. Cần thiết phải sửa quy định này theo hướng lấy tỷ lệ kháng nghị được Viện kiểm sát cấp phúc thẩm chấp nhận bảo vệ làm chỉ tiêu khi xét thi đua. Bên cạnh đó cần bổ sung quy định một cách hợp lý các chỉ tiêu về kháng nghị phúc thẩm khi xét tặng các danh hiệu thi đua khác đối với tập thể, cá nhân.
Bốn là: Cần nâng cao trách nhiệm của Kiểm sát viên khi đề xuất và của Lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp khi quyết định kháng nghị phải thực hiện đúng các qui định của ngành trong Quy chế nghiệp vụ. Khi ban hành kháng nghị phải chú ý đảm bảo chặt chẽ từ hình thức đến nội dung và đúng thủ tục, thời hạn pháp luật quy định. Hình thức kháng nghị phải thực hiện đúng mẫu quy định. Trước khi phát hành kháng nghị phải thận trọng rà soát các lỗi chính tả không để xảy ra những sai sót đáng tiếc. Nội dung kháng nghị phải đúng thẩm quyền và phạm vi quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm, phải thể hiện tính tranh tụng thông qua phân tích, làm rõ thiếu sót, vi phạm của bản án sơ thẩm, 1ý do, căn cứ kháng nghị, tránh tình trạng đề cập một cách chung chung. Phần quyết định của kháng nghị phải chính xác, phù hợp với nội dung đã phân tích, đề nghị rõ ràng, đúng quy định của Bộ luật TTHS.
TH