Theo pháp luật hiện hành thì quyền được thừa kế của cá nhân được sinh ra bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) sau thời điểm mở thừa kế đang bị hạn chế bởi một số quy định chưa rõ ràng. Để bảo đảm sự bình đẳng của cá nhân trong việc thừa kế, pháp luật dân sự cần sửa đổi theo hướng: Ghi nhận mối quan hệ cha mẹ cho con được sinh ra bằng kỹ thuật IVF sau thời điểm mở thừa kế như con đẻ khi thoả mãn một số điều kiện nhất định.
Khoản 21 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình (HNGĐ) năm 2014 quy định: “Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm”. Mặc dù điều luật chưa giải thích được cách hiểu như thế nào là sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, cũng như chỉ ra được đặc trưng của kỹ thuật này nhưng đã cho thấy IVF là một trong hai hình thức của kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Sinh con bằng IVF là việc sinh con thông qua các kỹ thuật y sinh học, được thực hiện bởi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được cấp phép, khi có đủ các điều kiện nhất định, nhằm giúp các cặp vợ chồng vô sinh hoặc những người phụ nữ độc thân có được đứa con của mình.
Quyền thừa kế của cá nhân được sinh ra bằng IVF sau thời điểm mở thừa kế được xem xét theo các quy định pháp luật của từng khu vực pháp lý, qua đó cho thấy, quyền thừa kế của người được sinh ra bằng IVF sau thời điểm mở thừa kế được bảo đảm như thế nào và điều kiện để được hưởng di sản thừa kế giữa họ so với cá nhân được sinh ra trong thời kì hôn nhân.
1. Quy định của pháp luật Việt Nam về quyền thừa kế của cá nhân sinh ra bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm sau thời điểm mở thừa kế
- Người thừa kế:
Theo Điều 613 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015: “Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết”. Điều luật này nằm trong phần quy định chung về thừa kế nên được hiểu là sẽ áp dụng với cả trường hợp thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Quy định đã xác định điều kiện về người thừa kế sinh ra bằng kỹ thuật IVF sau thời điểm mở thừa kế phải là người sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản qua đời. Điều này là phù hợp với quy định trong phần chung của BLDS năm 2015 (Điều 16): “Năng lực pháp luật của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết”. Tuy nhiên, trên thực tế, có nhiều trường hợp cá nhân được sinh ra bằng kỹ thuật IVF sau thời điểm mở thừa kế nhưng không được thành thai trước khi người cha qua đời và đối chiếu theo các quy định hiện nay, nếu di sản được phân chia thì người này sẽ không được hưởng di sản thừa kế dù là theo di chúc hay theo pháp luật. Có thể thấy, phôi thai không phải là người nhưng cũng không phải là tài sản, phôi thai thuộc về một “phạm trù tạm thời cho phép chúng được tôn trọng đặc biệt vì tiềm năng của chúng đối với cuộc sống con người” [1] và sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật sinh con bằng IVF đã đặt ra các vấn đề pháp lý là quy định tại Điều 613 BLDS năm 2015 hiện nay có tạo ra sự phân biệt giữa một đứa trẻ được thụ thai bằng kỹ thuật IVF vào thời điểm người cha qua đời với đứa trẻ được thụ thai bằng kỹ thuật IVF sau khi người cha qua đời hay không?
- Diện và hàng thừa kế của người chết:
Điều 651 BLDS năm 2015 quy định người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: “Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”. Quy định này cho thấy, người thừa kế theo pháp luật nếu là cha, mẹ và con thì phải là cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi hoặc phải là con đẻ hoặc con nuôi của người chết. Như vậy, người được sinh ra bằng kỹ thuật IVF sau thời điểm mở thừa kế có đáp ứng các điều kiện đó hay không? Việc xác định cha, mẹ cho con được sinh ra bằng kỹ thuật IVF sau thời điểm mở thừa kế được ghi nhận tại khoản 1 Điều 93 Luật HNGĐ năm 2014 như sau: “Trong trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha, mẹ được áp dụng theo quy định tại Điều 88 của Luật này” và Điều 88 Luật HNGĐ năm 2014 quy định: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân”. Như vậy, đối với trường hợp cha, mẹ vô sinh, theo Điều 88 Luật HNGĐ năm 2014, việc xác định cha mẹ trong trường hợp này căn cứ vào thời kỳ hôn nhân của cặp vợ chồng. Điều luật đã đặt ra hai trường hợp đủ điều kiện xác định mối quan hệ cha mẹ cho con, bao gồm đứa trẻ được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân và đứa trẻ đã thành thai trong thời kỳ hôn nhân được xác định là con chung của vợ chồng. Để đảm bảo nguyên tắc tự nguyện, người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh được xác định là mẹ của đứa trẻ trong mọi trường hợp, kể cả khi người mẹ là người nhận tinh trùng, nhận noãn hay nhận phôi của người khác và người chồng hợp pháp của người mẹ đó cũng chính là cha đứa trẻ, ngay kể cả chồng không phải là người cho tinh trùng. Khoản 3 Điều 93 Luật HNGĐ năm 2014 đã quy định rằng giữa người hiến trứng hoặc tinh trùng hay phôi thai với người con được sinh ra từ nguồn được hiến tặng không phát sinh quan hệ quan hệ cha, mẹ và con.
Tuy nhiên, người con được mang thai hộ hoặc không có cùng huyết thống với cha, mẹ hoặc cả hai thì trong trường hợp này đứa trẻ được xác định như thế nào? Theo Điều 94 Luật HNGĐ năm 2014, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28/01/2015 của Chính phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo chỉ quy định đứa trẻ sẽ là con của cặp vợ chồng vô sinh mà không xác định đó là con nuôi hay con đẻ. Điều 26 BLDS năm 2015 quy định: “Cha đẻ, mẹ đẻ được quy định trong Bộ luật này là cha, mẹ được xác định dựa trên sự kiện sinh đẻ; người nhờ mang thai hộ với người được sinh ra từ việc mang thai hộ theo quy định của Luật HNGĐ”. Điều này cho thấy, con được sinh ra bằng kỹ thuật IVF sau thời điểm mở thừa kế có thể được nhìn nhận là “con đẻ” của cặp vợ chồng vô sinh áp dụng kỹ thuật IVF cho dù giữa họ có tồn tại mối quan hệ huyết thống hay không. Tuy nhiên, căn cứ vào diện thừa kế theo huyết thống cho phép xác định con đẻ của người chết phải là con có cùng huyết thống với cha mẹ đẻ thì dường như quy định Điều 26 BLDS năm 2015 là chưa phù hợp. Nếu đối chiếu với Điều 651 BLDS năm 2015, đứa trẻ sinh ra bằng kỹ thuật IVF trong trường hợp được xin noãn, tinh trùng hay phôi sẽ không được nhận di sản thừa kế của cha mẹ bởi những đứa trẻ này không thoả mãn điều kiện của diện thừa kế là quan hệ huyết thống hay quan hệ nuôi dưỡng của người chết. Có thể thấy, nếu áp dụng trực tiếp quy định pháp luật về thừa kế thì quyền thừa kế của cá nhân sinh ra bằng IVF sau thời điểm mở thừa kế sẽ không được bảo đảm. Tương tự như vậy, xét về hàng thừa kế thứ hai và hàng thừa kế thứ ba thì người sinh ra bằng kỹ thuật IVF cũng không được coi là cháu ruột hoặc anh chị em ruột của người chết hoặc cháu ruột của người chết mà người chết là cô dì, chú bác… vì giữa những người này không có cùng huyết thống. Chính vì vậy, để đảm bảo quyền thừa kế của cá nhân được sinh ra bằng kỹ thuật IVF sau thời điểm mở thừa kế, Điều 651 BLDS năm 2015 cần sửa đổi theo hướng ghi nhận con sinh ra bằng kỹ thuật IVF vào hàng thừa kế. Ngoài ra, việc sửa đổi này cũng dẫn đến việc phải sửa đổi cả hàng thừa kế thứ hai và hàng thừa kế thứ ba theo hướng thừa nhận mối quan hệ của cá nhân được sinh ra bằng kỹ thuật IVF sau thời điểm mở thừa kế với những người khác trong quan hệ gia đình như anh, chị, em, ông bà, cô, dì, chú bác.
Ngoài ra, Điều 88 Luật HNGĐ năm 2014 cũng cho phép việc xác định cha mẹ cho con sinh ra bằng kỹ thuật IVF sau thời điểm mở thừa kế qua nội dung: “Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân”. Đa số các nghiên cứu y học khẳng định thai nghén có thời gian là từ 280 đến 285 ngày [2]; tuy nhiên, để tiệm cận với pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam đã ghi nhận giới hạn thời gian là 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân (Pháp ghi nhận thời gian thai nghén tối đa là 300 ngày, ở Đức tối đa là 302 ngày và ở Hà Lan là 306 ngày). Ở một khía cạnh nào đó, quy định này dường như đã gián tiếp thừa nhận quyền thừa kế của cá nhân sinh ra bằng kỹ thuật IVF sau thời điểm mở thừa kế mặc dù có giới hạn rất ngắn về thời gian.
Hơn nữa, sự phát triển của công nghệ sinh sản đặt ra trường hợp đứa trẻ sinh ra đã quá 300 ngày kể từ thời điểm mở thừa kế thì đứa trẻ có được xác định là con chung của vợ, chồng để được hưởng thừa kế hay không? Theo nguyên tắc tại Điều 88 Luật HNGĐ năm 2014 thì đứa trẻ trong trường hợp này không phải con chung của vợ, chồng nên không thuộc phạm vi điều chỉnh tại Điều 613 BLDS năm 2015. Tuy nhiên, nếu áp dụng máy móc quy định này sẽ không phù hợp vì thực tế đứa trẻ mang huyết thống hay không mang huyết thống của người cha đã chết và được sinh ra hoàn toàn dựa trên sự ý chí của người cha này.
2. Pháp luật Hoa Kỳ về quyền thừa kế của cá nhân sinh ra bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm sau thời điểm mở thừa kế và khuyến nghị cho Việt Nam
Theo dữ liệu do Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC) cung cấp, vào năm 2021, 86.146 trong số 3,683,596 (2,3%) trẻ sơ sinh được sinh ra ở Hoa Kỳ đã được thụ thai bằng ART [3]. ART được CDC định nghĩa là tất cả các phương pháp điều trị sinh sản trong đó cả trứng và phôi đều được xử lý. Tương tự với pháp luật Việt Nam, Hoa Kỳ từ lâu cho phép những đứa trẻ đã thành thai trước khi cha, mẹ qua đời và được sinh ra sau đó được thừa kế giống như những đứa trẻ được sinh ra trước khi cha, mẹ qua đời. IVF không chỉ giúp trẻ em được sinh ra sau khi cha, mẹ qua đời mà còn bao gồm trường hợp có thể được thụ thai sau khi cha, mẹ qua đời. Thực tế cho thấy, nếu người chồng qua đời, người vợ có thể quyết định chuyển phôi vào tử cung. Tuy nhiên, mở rộng hơn so với pháp luật Việt Nam, pháp luật Hoa Kỳ còn cho phép trong trường hợp khi người vợ qua đời thì người đàn ông còn sống có thể nhờ mang thai hộ. Đây là điểm mà pháp luật Việt Nam có thể cân nhắc trong quá trình hoàn thiện pháp luật.
Tại Hoa Kỳ, Bộ luật chứng thực thống nhất (UPC) và Đạo luật về huyết thống thống nhất (UPA) cung cấp các cách tiếp cận khác nhau về các vấn đề thừa kế có thể phát sinh từ IVF.
Theo UPC, xét về điều kiện chung, người thừa kế được coi là một đứa trẻ khi đã thành thai vào thời điểm cha hoặc mẹ qua đời, đồng thời sinh ra và còn sống được ít nhất 120 giờ (05 ngày) sau khi sinh. Quy định này được áp dụng khi người mẹ còn sống để xác định quyền thừa kế. Tuy nhiên, trên thực tế, mối quan hệ cha, mẹ và con còn tồn tại giữa người đã chết và đứa trẻ được sinh ra khi có bằng chứng rõ ràng, thuyết phục thể hiện ý chí của cha, mẹ đã qua đời để xác định là cha, mẹ của đứa trẻ. Nội dung này cho thấy quyền thừa kế của một đứa trẻ được sinh ra từ kỹ thuật IVF còn có thể phát sinh sau thời điểm mở thừa kế. UPC được sửa đổi năm 2010 quy định nếu có một văn bản có chữ ký chứng minh ý chí của người quá cố rằng đứa con được sinh ra được coi là người thừa kế của người quá cố thì đứa trẻ đó sẽ có quyền thừa kế hợp pháp.
Theo UPA, khi kỹ thuật IVF phát triển, người phụ nữ có thể sinh ra một đứa trẻ mà không phải là mẹ hợp pháp hoặc mẹ đẻ của đứa trẻ đó. Có hai cách tiếp cận khác nhau để xác định cha mẹ và yếu tố di truyền không phải là yếu tố quyết định. Tòa án sẽ dựa trên cơ sở ý chí và yếu tố di truyền để xác định cha mẹ cho con, UPA ủng hộ quan điểm trên cơ sở huyết thống hơn, tuy nhiên UPA có giải thích rằng mối quan hệ cha, mẹ và con cái cũng được hình thành sau thời điểm mở thừa kế khi người qua đời để lại bằng chứng thể hiện ý định làm cha mẹ rõ ràng và thuyết phục. Nhìn chung, UPA đã quy định cơ sở để xác định cha, mẹ của một đứa trẻ được sinh ra sau khi họ qua đời, điều này giúp xác định rõ ràng phôi thai được hưởng thừa kế từ ai. Tuy nhiên, UPA không minh thị về quyền thừa kế của những đứa trẻ được sinh ra từ phôi thai thông qua di chúc như UPC [4].
Trên cơ sở nguyên tắc phúc lợi an sinh xã hội, Tòa án một số bang ở Hoa Kỳ đã có cách tiếp cận khác nhau về quyền thừa kế của cá nhân được sinh ra từ kỹ thuật IVF sau thời điểm mở thừa kế. Tương tự như quy định của Việt Nam, điều khoản 9:17-43a Luật sửa đổi của New Jersey năm 2023 ghi nhận [5]: “Một người đàn ông được coi là cha ruột của một đứa trẻ nếu: Anh ta và mẹ ruột của đứa trẻ đang hoặc đã kết hôn với nhau và đứa trẻ được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân, hoặc trong vòng 300 ngày sau khi cuộc hôn nhân chấm dứt do qua đời, hủy hôn hoặc ly hôn”. Tòa án Thượng thẩm New Jersey tuyên bố rằng hai đứa trẻ được thụ thai trong ống nghiệm bằng tinh trùng của người chồng đã khuất và được sinh ra sau thời điểm cha ruột chết 18 tháng đủ điều kiện nhận trợ cấp bảo hiểm theo Đạo luật an sinh xã hội vì có bằng chứng rõ ràng và thuyết phục rằng Amanda và Elyse là con ruột của William Kolacy [6]. Tương tự như vậy, một Tòa án ở Massachusetts đã công nhận quyền thừa kế của những đứa trẻ sinh ra bằng kỹ thuật IVF sau thời điểm mở thừa kế với ba điều kiện: (1) Mối quan hệ huyết thống giữa đứa trẻ và cha mẹ đã qua đời; (2) Sự đồng ý của cha mẹ đã qua đời đối với việc thụ thai sau khi chết; (3) Bằng chứng cho thấy cha mẹ đã chết đã đồng ý cung cấp hỗ trợ cho bất kỳ đứa trẻ nào được sinh ra từ việc thụ thai sau khi chết [7]. Có thể thấy, mặc dù một số Tòa án đã ghi nhận quyền thừa kế theo di chúc của những đứa trẻ được sinh ra sau thời điểm mở thừa kế, tuy nhiên sự công nhận này vẫn chưa phổ biến. Một Tòa án ở Arkansas đã quyết định rằng một đứa trẻ được sinh ra từ IVF sau cái chết của người cha không đáp ứng định nghĩa “được thụ thai trước khi chết”. Luật chứng thực Arkansas không thừa nhận quyền thừa kế từ cha ruột cho một đứa trẻ được sinh ra từ kỹ thuật IVF sau thời điểm người cha qua đời [8].
Ngoài ra, có thể thấy, luật đề cập đến điều kiện và giới hạn thời gian con sinh ra bằng kỹ thuật IVF sau thời điểm mở thừa kế cũng rất khác nhau giữa các tiểu bang, một số tiểu bang trong đó có Louisiana coi trẻ em được thụ thai không muộn hơn 36 tháng sau thời điểm mở thừa kế là người thừa kế của cha mẹ đã qua đời nếu cha mẹ để lại văn bản có chữ ký hoặc bằng chứng rõ ràng và thuyết phục khác cho thấy ý định coi đứa trẻ đó là con của họ [9]. Các tiểu bang khác trong đó có bang California lại yêu cầu đứa trẻ phải được sinh ra trong vòng 02 năm kể từ thời điểm mở thừa kế, một số tiểu bang khác lại yêu cầu sự đồng ý bằng văn bản có chữ ký của cha mẹ đã qua đời và được lưu giữ bởi bác sĩ hỗ trợ sinh sản cho thấy ý định của người quá cố là cha mẹ của đứa trẻ [10]. Ở một cách tiếp cận khác, Florida lại yêu cầu một thỏa thuận bằng văn bản của cặp vợ chồng và bác sĩ điều trị để xử lý trứng hoặc tinh dịch của họ trong trường hợp ly hôn hoặc tử vong. Một đứa trẻ được thụ thai và sinh ra sau thời điểm mở thừa kế chỉ có thể được hưởng thừa kế nếu cha, mẹ có khẳng định rõ ràng trong di chúc của mình [11].
3. Khuyến nghị cho Việt Nam
Có thể thấy, ở Hoa Kỳ, nếu cha, mẹ có để lại di chúc, di chúc này thường quy định rõ ràng về việc phân chia tài sản cho con cái, bao gồm cả những người con sinh ra sau này. Cá nhân hưởng thừa kế theo di chúc là người bất kỳ theo chỉ định của người lập chúc. Điều kiện về người thừa kế dường như chỉ đặt ra với trường hợp thừa kế theo pháp luật. Nếu không có di chúc hoặc di chúc bị hủy bỏ, trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng và quyền được bảo vệ của trẻ em, pháp luật của Hoa Kỳ sẽ xác định phần thừa kế dành cho trẻ em đã thành thai và sinh sau khi người cha qua đời. Tuy nhiên, đối với trường hợp trẻ được thụ thai và sinh ra sau thời điểm mở thừa kế thì một số bang của Hoa Kỳ còn có quan điểm pháp luật khác nhau.
Khi bàn tới phạm vi khái niệm “người thừa kế”, mỗi tiểu bang định nghĩa người thừa kế theo luật khác nhau, trong đó, diện thừa kế thứ hai thường được xác định là “con cái” [12] mà không ghi nhận một cách rõ ràng đối tượng phải là “con đẻ”, “con nuôi” như Điều 651 BLDS năm 2015 của Việt Nam. Luật Louisiana năm 2023 ghi nhận thành viên gia đình bao gồm “con” [13] mà không dùng khái niệm “con đẻ” như Điều 3 Luật HNGĐ năm 2014. Để đảm bảo việc thực hiện được thống nhất giữa pháp luật dân sự và pháp luật về hôn nhân gia đình, Tòa án nhân dân tối cao có thể công bố án lệ hoặc ban hành nghị quyết hướng dẫn về nội dung này theo hướng thừa nhận con được sinh ra bằng kỹ thuật IVF sau thời điểm mở thừa kế được coi như con đẻ của cha mẹ thực hiện việc sinh con bằng kỹ thuật này, từ đó sẽ phát sinh các mối quan hệ của những người thân trong gia đình với người được sinh ra bằng kỹ thuật IVF sau thời điểm mở thừa kế như đối với con đẻ. Tuy nhiên, để hạn chế tối đa sự xáo trộn trong những mối quan hệ thừa kế, việc áp dụng kỹ thuật IVF sau thời điểm mở thừa kế cần được đặt trong một khoảng thời gian với những điều kiện nhất định:
Về giới hạn thời gian: Để gần hơn với pháp luật các quốc gia về quyền thừa kế của trẻ em được thụ thai và sinh ra bằng kỹ thuật IVF sau thời điểm mở thừa kế; đồng thời, đảm bảo phù hợp với sự phát triển của kỹ thuật IVF cũng như với giá trị nhân văn mà kỹ thuật sinh sản này mang lại, tham khảo kinh nghiệm của bang Louisiana, Hoa Kỳ, Điều 88 Luật HNGĐ năm 2014 có thể mở rộng giới hạn thời gian: “Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân” thành “Con được sinh ra trong thời hạn 36 tháng kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân”. Khoảng thời gian 36 tháng được đánh giá không ngắn nhưng cũng không quá dài so với khả năng trữ đông các vật liệu di truyền trong công nghệ hỗ trợ sinh sản ngày nay. Điều quan trọng nhất của việc ghi nhận này là khả năng đảm bảo hài hoà giữa lợi ích của Nhà nước trong vấn đề quản lý tài sản với lợi ích của trẻ em được sinh ra.
Về điều kiện ý chí: UPA của Hoa Kỳ cho thấy, để xác định quan hệ cha, mẹ khi trẻ được thụ thai và sinh ra sau thời điểm mở thừa kế, bên cạnh cơ sở là việc xét nghiệm AND để xác định quyền thừa kế thì Toà án có thể dựa vào ý chí của người quá cố để thay thế mối liên hệ huyết thống. Bên cạnh đó, UPC cũng cho thấy để xác định quyền thừa kế cho cá nhân được sinh ra từ kỹ thuật IVF cần dựa vào ý chí của cha, mẹ được nêu rõ trong một văn bản trước khi tiến hành thủ tục IVF hoặc thể hiện dưới dạng một di chúc. Hiện nay, Điều 93 Luật HNGĐ năm 2014 đã ghi nhận việc xác định cha, mẹ cho con trong bốn trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Tuy nhiên, lại chưa có quy định rõ ràng điều chỉnh về trường hợp xác định cha, mẹ cho con sinh ra bằng kỹ thuật IVF sau thời điểm mở thừa kế (bao gồm cả trường hợp sinh con từ noãn, tinh trùng của người chết và phôi thai trữ đông). Vì vậy, bên cạnh việc ghi nhận quyền thừa kế của cá nhân sinh ra bằng kỹ thuật IVF sau thời điểm mở thừa kế thì pháp luật dân sự và pháp luật về hôn nhân gia đình cần bổ sung các quy định về giới hạn thời gian và cả các quy định thể hiện ý chí của người để lại di sản về việc để lại di sản thừa kế.
Ngoài ra, có thể thấy, Điều 88 Luật HNGĐ năm 2014 mới dừng lại ở việc cho phép xác định cha cho con trong trường hợp con đã thành thai khi người cha qua đời và con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm mở thừa kế để xác lập quyền thừa kế. Tuy nhiên, bên cạnh trường hợp trẻ có thể được thụ thai và sinh ra sau thời điểm mở thừa kế của người cha, thực tế này cũng đặt ra trường hợp khi người vợ qua đời thì cũng cần thừa nhận quyền nhờ mang thai hộ của người cha đối với phôi thai của chính cặp vợ chồng? Xét từ góc độ quyền con người thì quyền làm cha và mẹ là như nhau, trên cơ sở đó, xác lập quyền thừa kế cho cả cha và mẹ là như nhau.
--------------------------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Zhang, Mark, Chapman, Jennifer E., (2013) Davis v. Davis (1992), https://embryo.asu.edu/pages/davis-v-davis-1992, truy cập ngày 16/7/2024.
2. F.terré và D. Fenuoilet: Droit civil, Précis-Dalloz, (2005), 163, như đã trích dẫn Đỗ Văn Đại, Luật thừa kế Việt Nam (Tập 1), Bản án và bình luận bản án, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2019, tr.133-134.
3. Saswati Sunderam, Yujia Zhang, Amy Jewett, MPH; Sarah Mardovich, MPH; Dmitry M. Kissin, MD, (2024), State-Specific Assisted Reproductive Technology Surveillance, https://www.cdc.gov/art/state-specific-surveillance/2021/index.html, truy cập ngày 16/7/2024.
4. Morgan G. Valeo, The ART of Inheritance, (2022), Comparing the UPC and UPA to Determine Which Act Suits Embryo Inheritance Rights Best (https://scholarship.shu.edu/student_scholarship/1269/, truy cập ngày 16/7/2024.
5. Điều 9 Luật sửa đổi New Jersey năm 2023, https://law.justia.com/codes/new-jersey/title-9/, truy cập ngày 16/7/2024.
6. Superior Court of New Jersey, (2000), Chancery Division, Morris County, In the matter of the estate of william J.Kolacy, deceased, https://casetext.com/case/in-re-estate-of-kolacy, truy cập ngày 16/7/2024.
7. Supreme Judicial Court of Massachusetts, Suffolk, (2002), Lauren woodward vs.commissioner of social security, https://casetext.com/case/woodward-v-commissioner-of-social-security, truy cập ngày 16/7/2024.
8. United States District Court, E.D. Arkansas, Western Division, (2009), Amy FINLEY o/b/o Herself and W.F., a minor child, Plaintiff v. Michael J…, https://casetext.com/case/finley-v-astrue-4, truy cập ngày 20/7/2024.
9. Điều 9.391.1 Luật sửa đổi Louisiana năm 2013, https://law.justia.com/codes/louisiana/2023/, truy cập ngày 25/7/2024.
10. Điều 249 Bộ luật chứng thực California năm 2020, https://law.justia.com/codes/california/code-prob/, truy cập ngày 25/7/2024.
11. Điều 742, Luật Florida năm 2023, https://www.flsenate.gov/Laws/Statutes/2023/Chapter742, truy cập ngày 25/7/2024.
12. Cornell Law School, (2022), Heir at law, https://www.law.cornell.edu/wex/heir_at_law, truy cập ngày 20/7/2024.
13. Điều 46:2121.1, Luật Louisiana năm 2023, https://law.justia.com/codes/louisiana/2023/, truy cập ngày 25/7/2024.