Mua bán trẻ em là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, vi phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người được Hiến pháp và pháp luật tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ. Bài viết tập trung phân tích, so sánh các tiêu chí của pháp luật quốc tế và Việt Nam về Tội mua bán trẻ em; nêu những bất cập, tồn tại và đề xuất hoàn thiện pháp luật nhằm bảo vệ tốt hơn quyền không bị mua bán của trẻ em.
Mua bán trẻ em là tội phạm mang tính toàn cầu, diễn biến phức tạp và đang có chiều hướng gia tăng. Theo Báo cáo toàn cầu về tình trạng mua bán người của Văn phòng Liên hợp quốc về ma túy và tội phạm thì đến năm 2018, có 142 quốc gia và vùng lãnh thổ đã quy định trong Bộ luật Hình sự (BLHS) hay tại một đạo luật riêng rằng mua bán người và mua bán trẻ em là tội phạm hình sự phải bị trừng phạt nghiêm khắc[1]. Đến năm 2020, con số này là 169 quốc gia và vùng lãnh thổ[2]. Tội phạm này có thể xảy ra trong nội địa từng quốc gia, giữa các quốc gia láng giềng hoặc giữa các châu lục.
Ở Việt Nam, tình hình tội phạm mua bán người, mua bán trẻ em có diễn biến phức tạp. Hoạt động tội phạm này diễn ra ở tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương dưới các dạng như mua bán người ở trong nước và mua bán người rồi đưa ra nước ngoài.
Điều 151 BLHS của Việt Nam năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) quy định về Tội mua bán người dưới 16 tuổi đã mô tả cụ thể các dấu hiệu trong cấu thành cơ bản của tội phạm, gần tương đồng với tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, quy định tại Điều 151 BLHS năm 2015 vẫn còn một số tồn tại, hạn chế nhất định như: Chưa xác định rõ phạm vi của Tội mua bán người dưới 16 tuổi, một số tình tiết tại cấu thành cơ bản còn gây nhầm lẫn với các tội khác, chưa thực sự mô tả rõ ràng về hành vi phạm tội, chưa quy định đầy đủ về chủ thể của tội phạm… Do vậy, cần chỉ rõ những hạn chế của tội danh này trong sự so sánh với các tiêu chí của pháp luật quốc tế về Tội buôn bán trẻ em, qua đó kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
1. Tội buôn bán trẻ em theo pháp luật quốc tế
Nghị định thư về ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, bổ sung Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia của Liên hợp quốc (Nghị định thư chống buôn bán người), Nghị định thư không bắt buộc bổ sung Công ước về quyền trẻ em về việc buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em năm 2000 (Nghị định thư năm 2000), Công ước ASEAN về phòng, chống buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em (Công ước ASEAN) đã đưa ra các dấu hiệu pháp lý của Tội buôn bán trẻ em như sau:
- Về định nghĩa: Nghị định thư năm 2000 đã đưa ra định nghĩa về buôn bán trẻ em tại khoản 1 Điều 2: “Buôn bán trẻ em có nghĩa là bất kỳ hành động hoặc giao dịch nào mà qua đó trẻ em bị chuyển giao từ bất kỳ một người hay một nhóm người nào cho một người hay một nhóm người khác để lấy tiền hay một giá trị trao đổi gì khác”. Khoản c Điều 3 Nghị định thư chống buôn bán người và khoản c Điều 2 Công ước ASEAN định nghĩa: “Việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hay nhận một đứa trẻ nhằm mục đích bóc lột sẽ bị coi là “buôn bán người” ngay cả khi việc này được thực hiện không cần dùng đến bất kỳ cách thức, thủ đoạn nào”.
- Về hành vi, thủ đoạn và mục đích của tội phạm: Khoản a Điều 3 Nghị định thư chống buôn bán người và khoản a Điều 2 Công ước ASEAN đã định nghĩa về buôn bán người như sau: “Buôn bán người được hiểu là việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp và nhận người nhằm mục đích bóc lột bằng cách sử dụng hay đe dọa sử dụng bạo lực hay các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương hay bằng việc đưa hoặc nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người có quyền kiểm soát đối với những người khác”.
Như vậy, Tội buôn bán người phải gồm 03 yếu tố cơ bản là: (1) Hành vi (tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc nhận một người); (2) Thủ đoạn (sử dụng hay đe dọa sử dụng bạo lực hay các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương hay bằng việc đưa hoặc nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người có quyền kiểm soát đối với những người khác); (3) Mục đích (bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể, mại dâm, các hình thức bóc lột khác). Đối với Tội buôn bán trẻ em thì không phải có yếu tố sử dụng thủ đoạn. Buôn bán trẻ em được hiểu là việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp và nhận người nhằm mục đích bóc lột.
- Về độ tuổi của nạn nhân là trẻ em: Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (Điều 1), Nghị định thư chống buôn bán người (khoản d Điều 3) và Công ước ASEAN (khoản d Điều 2) đều khẳng định: “Trẻ em là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi”. Đây cũng là một trong những dấu hiệu pháp lý quan trọng (cùng với việc xác định không cần dấu hiệu phương thức, thủ đoạn) để phân biệt Tội buôn bán người với Tội buôn bán trẻ em.
- Về chủ thể thực hiện tội phạm: Các văn kiện quốc tế như Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (Công ước TOC)[3], Nghị định thư chống buôn bán người (Điều 4), Công ước ASEAN (Lời nói đầu, Điều 3) đều khẳng định buôn bán trẻ em chính là tội phạm nghiêm trọng liên quan đến nhóm tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Ngoài việc xác định các cá nhân thực hiện hành vi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự (TNHS), thì Công ước TOC còn yêu cầu các quốc gia thành viên phải xác định trách nhiệm pháp lý của pháp nhân trong việc tham gia thực hiện các tội phạm nghiêm trọng liên quan đến nhóm tội phạm có tổ chức; đồng thời, khẳng định trách nhiệm pháp lý của pháp nhân không ảnh hưởng đến TNHS của cá nhân phạm tội (Điều 10).
- Về hậu quả của tội phạm: Các văn kiện pháp lý quốc tế nói trên đều khẳng định buôn bán trẻ em là những hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến các quyền cơ bản và nhân phẩm của con người. Hậu quả của các hành vi phạm tội là đẩy trẻ em vào hoàn cảnh bị buôn bán, bị cưỡng bức lao động, bóc lột tình dục, bóc lột kinh tế, mại dâm và bị sử dụng vào việc sản xuất văn hóa phẩm khiêu dâm, nguy hại cho sức khỏe hoặc cho sự phát triển về thể chất, tinh thần, trí tuệ, đạo đức hay xã hội của trẻ em.
2. Hạn chế, bất cập trong quy định của Tội mua bán người dưới 16 tuổi trong Bộ luật Hình sự năm 2015 và đề xuất hoàn thiện
Quy định về Tội mua bán người dưới 16 tuổi trong BLHS năm 2015 còn một số hạn chế nhất định so với các tiêu chí của pháp luật quốc tế, cụ thể như sau:
Thứ nhất, về độ tuổi của trẻ em bị mua bán:
Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em, Nghị định thư chống buôn bán người và Công ước ASEAN đều quy định: “Trẻ em là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi”. Trong khi đó, Điều 1 Luật trẻ em năm 2016 và Điều 151 BLHS năm 2015 quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi. Việc pháp luật nước ta quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi sẽ dẫn tới bất lợi trong định tội danh mua bán trẻ em. Nghị định thư chống buôn bán người quy định hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp, chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 18 tuổi nhằm mục đích bóc lột được coi là phạm tội buôn bán trẻ em, mà không dùng đến bất cứ phương thức hoặc thủ đoạn nào. Điều 151 BLHS năm 2015 cũng quy định chỉ cần đủ 02 yếu tố là hành vi và mục đích mà không cần yếu tố thủ đoạn là cấu thành Tội mua bán người dưới 16 tuổi. Như vậy, trường hợp có 02 yếu tố hành vi và mục đích nhưng nạn nhân bị mua bán là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì không cấu thành Tội mua bán người dưới 16 tuổi và cũng không cấu thành Tội mua bán người. Vì cấu thành của Tội mua bán người đòi hỏi phải có đủ 03 yếu tố là hành vi, thủ đoạn và mục đích. Rõ ràng, quy định tại Điều 1 Luật trẻ em năm 2016 và Điều 151 BLHS năm 2015 về độ tuổi trẻ em là chưa hoàn toàn phù hợp với pháp luật quốc tế, gây khó khăn cho hoạt động phòng, chống mua bán trẻ em và việc bảo vệ quyền, lợi ích của người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.
Do vậy, tác giả đề xuất nâng độ tuổi trẻ em quy định tại Điều 1 Luật trẻ em năm 2016 và Điều 151 BLHS năm 2015 thành “người dưới 18 tuổi” thay vì “người dưới 16 tuổi”, đồng thời sửa tên tội danh tại Điều 151 BLHS năm 2015 là “Tội mua bán trẻ em” để phù hợp với quy định quốc tế.
Thứ hai, về hành vi và mục đích phạm tội:
Nghị định thư chống buôn bán người quy định trường hợp thực hiện hành vi tuyển mộ, vận chuyển hoặc chứa chấp người nhằm mục đích bóc lột được coi là mua bán người, mua bán trẻ em. Trong khi đó, điểm c khoản 1 Điều 151 BLHS năm 2015 quy định hành vi tuyển mộ, vận chuyển hoặc chứa chấp người dưới 16 tuổi nhằm mục đích chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi mới được coi là mua bán người dưới 16 tuổi; còn trường hợp thực hiện hành vi tuyển mộ, vận chuyển hoặc chứa chấp người dưới 16 tuổi nhằm mục đích giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác (trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo) hoặc mục đích bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc mục đích vô nhân đạo khác thì không được coi là mua bán người dưới 16 tuổi. Quy định này là không phù hợp với pháp luật quốc tế, gây khó khăn cho hoạt động hợp tác quốc tế trong đấu tranh chống tội phạm mua bán trẻ em.
Vì vậy, để tương thích với pháp luật quốc tế, tác giả đề xuất sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 1 Điều 151 BLHS năm 2015 như sau: “Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 18 tuổi nhằm mục đích giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo; hoặc nhằm mục đích bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác”. Việc sửa đổi, bổ sung này là phù hợp, thống nhất với quy định về hành vi bị nghiêm cấm tại Luật phòng, chống mua bán người năm 2011: Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy các bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác[4].
Thứ ba, về chủ thể thực hiện tội phạm:
Khoản 1 Điều 151 BLHS năm 2015 quy định: “Người nào thực hiện một trong các hành vi…”. Quy định này được hiểu theo hướng chủ thể của tội phạm mua bán người dưới 16 tuổi chỉ có thể là cá nhân. Trong khi đó, theo tinh thần của pháp luật quốc tế thì Tội buôn bán trẻ em có tính chất xuyên quốc gia, diễn ra trên mọi châu lục của thế giới. Các văn kiện pháp lý quốc tế và pháp luật hình sự của nhiều quốc gia đã quy định TNHS của pháp nhân đối với loại tội phạm mua bán trẻ em. Điều 76 BLHS năm 2015 quy định về phạm vi chịu TNHS của pháp nhân thương mại đối với 03 nhóm tội phạm là: Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; các tội phạm về môi trường và các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Như vậy, pháp nhân thương mại không phải chịu TNHS về Tội mua bán người dưới 16 tuổi (thuộc nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người). Việc BLHS năm 2015 không quy định TNHS của pháp nhân thương mại đối với Tội mua bán người dưới 16 tuổi sẽ dẫn tới những trường hợp xung đột pháp luật, khó khăn trong hợp tác quốc tế và đấu tranh phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia.
Do đó, tác giả đề xuất bổ sung quy định pháp nhân thương mại phải chịu TNHS về Tội mua bán người dưới 16 tuổi tại khoản 1 Điều 151 BLHS năm 2015 nhằm phù hợp với pháp luật quốc tế và yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Thứ tư, chưa thống nhất với quy định về hành vi và mục đích phạm tội trong Luật phòng, chống mua bán người năm 2011:
Khoản 1 Điều 3 Luật phòng, chống mua bán người năm 2011 vẫn đang dẫn chiếu đến Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em quy định tại Điều 120 BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Tội danh này đã được thay thế bằng Tội mua bán người dưới 16 tuổi quy định tại Điều 151 BLHS năm 2015 với sự khác biệt lớn về cấu thành cơ bản của tội phạm. Cụ thể, Điều 120 BLHS năm 1999 không quy định các hành vi khách quan và mục đích của tội phạm là để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân; đưa ra nước ngoài; sử dụng vào mục đích vô nhân đạo; sử dụng vào mục đích mại dâm. Còn Điều 151 BLHS năm 2015 quy định các hành vi phạm tội cụ thể như chuyển giao, tiếp nhận, tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi; mục đích phạm tội là để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác.
Như vậy, để phù hợp với bản chất của Tội mua bán người dưới 16 tuổi quy định tại Điều 151 BLHS năm 2015, tác giả đề xuất sửa đổi khoản 1 Điều 3 Luật phòng, chống mua bán người năm 2011 như sau: “1. Mua bán người theo quy định tại Điều 150 và Điều 151 của BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025”. Việc sửa đổi này sẽ tạo thuận lợi cho hoạt động áp dụng pháp luật về phòng, chống mua bán người nói chung và mua bán trẻ em nói riêng.
Thứ năm, chưa thống nhất với quy định về đối tượng được trợ giúp pháp lý là trẻ em tại Luật trợ giúp pháp lý năm 2017:
Một trong những người được trợ giúp pháp lý theo quy định tại Điều 7 Luật trợ giúp pháp lý năm 2017 là: Trẻ em (khoản 3), người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi (khoản 5), người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án hình sự có khó khăn về tài chính (điểm đ khoản 7). Quy định này gây khó khăn cho người chưa thành niên khi thụ hưởng quyền được hỗ trợ về pháp luật. Cụ thể, người không bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi sẽ không thuộc diện được trợ giúp pháp lý, trong khi họ có thể là nạn nhân của Tội mua bán người dưới 16 tuổi và là người chưa thành niên, chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm sinh lý, nên rất cần có sự trợ giúp pháp lý. Quy định bị hại trong vụ án hình sự là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có khó khăn về tài chính mới được trợ giúp pháp lý cũng là một bất cập. Vì thực tiễn cho thấy việc chứng minh điều kiện tài chính khó khăn đối với người không sống cùng gia đình, không có người đại diện sẽ gặp nhiều vướng mắc về thủ tục hành chính. Mặt khác, bản thân họ là bị hại trong vụ án hình sự, tức là người bị xâm hại về thể chất, vật chất, tinh thần, lại là người chưa thành niên nên rất cần sự hỗ trợ pháp luật phù hợp của Nhà nước.
Ở góc độ pháp luật quốc tế, Nghị định thư chống buôn bán người quy định các quốc gia sẽ bảo đảm hệ thống pháp luật và hành chính của nước mình có những biện pháp để cung cấp cho các nạn nhân của việc buôn bán người[5]. Nghị định thư năm 2000 cũng quy định các quốc gia thành viên phải cung cấp cho các nạn nhân trẻ em những dịch vụ hỗ trợ phù hợp trong suốt quá trình tố tụng pháp lý[6]. Còn Công ước ASEAN quy định các nạn nhân bị buôn bán được cung cấp thông tin, bảo vệ, hỗ trợ và giúp đỡ theo pháp luật quốc gia và theo Công ước này[7].
Do đó, để tương thích với pháp luật quốc tế và hỗ trợ pháp lý một cách tốt nhất đối với nạn nhân là trẻ em bị buôn bán, tác giả đề xuất sửa đổi khoản 3, khoản 5 và điểm đ khoản 7 Điều 7 Luật trợ giúp pháp lý năm 2017 theo hướng: Người dưới 18 tuổi được trợ giúp pháp lý.
Như vậy, mua bán trẻ em là hành vi chống lại con người, xâm phạm nghiêm trọng những nguyên tắc cơ bản nhất về quyền con người như quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được bảo vệ sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm… đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và bảo vệ. Pháp luật quốc tế và hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quy định mua bán trẻ em là tội phạm trong pháp luật hình sự với chế tài nghiêm khắc. Đấu tranh phòng, chống mua bán trẻ em là vấn đề mang tính chiến lược toàn cầu, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của cộng đồng quốc tế cũng như sự nỗ lực quyết liệt ở mỗi quốc gia. Chính vì vậy, việc hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự quốc gia về phòng, chống mua bán trẻ em là điều tất yếu, phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế và đáp ứng các yêu cầu thực tiễn đấu tranh đối với loại tội phạm này.
Tài liệu tham khảo:
1. Lê Thị Vân Anh, Tội mua bán người và tội mua bán trẻ em theo pháp luật hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2022.
2. Ban Chỉ đạo phòng, chống tội phạm của Chính phủ 138/CP (2019), Báo cáo số 20/BC-BCĐ về tình hình và kết quả thực hiện Chương trình phòng, chống mua bán người năm 2018.
3. Ban Chỉ đạo phòng, chống tội phạm của Chính phủ 138/CP (2020), Báo cáo số 20/BC-BCĐ về tình hình và kết quả thực hiện Chương trình phòng, chống mua bán người năm 2019.
4. Bộ Công an (2018), Báo cáo số 358/BC-BCA-C02 về tình hình thực hiện pháp luật về phòng, chống mua bán người từ khi Luật phòng, chống mua bán người năm 2012 có hiệu lực đến hết năm 2017.
5. United Nations Office on Drugs and Crime, (2018), Global Report on Trafficking in Person.
6. United Nations Office on Drugs and Crime, (2020), Global Report on Trafficking in Person.
7. Lê Huy Vũ, Hoạt động mua bán phụ nữ, trẻ em của nhóm tội phạm có tổ chức và vấn đề hoàn thiện pháp luật hình sự về các tội mua bán người, Kỷ yếu hội thảo quốc tế, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10/3/2021.
[1] United Nations Office on Drugs and Crime (2018), Global Report on Trafficking in Person, United Nations, p.16.
[2] United Nations Office on Drugs and Crime (2020), Global Report on Trafficking in Person, United Nations, p.62.
[3] Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, thông qua tại New York ngày 15/11/2000. Việt Nam đã thông qua Công ước này, có hiệu lực đối với Việt Nam kể từ ngày 08/6/2012.
[4] Khoản 3 Điều 3 Luật phòng, chống mua bán người năm 2011.
[5] Khoản 2 Điều 6 Nghị định thư chống buôn bán người
[6] Điểm d khoản 1 Điều 8 Nghị định thư năm 2000.
[7] Khoản 9 Điều 14 Công ước ASEAN.