Nhằm nội luật hóa các quy định của Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em và tạo hành lang pháp lý xử lý những hành vi xâm hại đến trẻ em, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, trong đó, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định một tội danh mới là Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147). Tuy nhiên, quá trình áp dụng tội danh này trên thực tiễn đã bộc lộ một số hạn chế; đặt ra yêu cầu tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện.
1. Khung pháp lý quốc tế về xử lý hành vi xâm hại trẻ em
Hiện nay, một số Công ước quốc tế đã tạo ra một khung pháp lý cho việc xây dựng các biện pháp tư pháp hình sự bảo vệ trẻ em trước những hành vi xâm hại liên quan đến tình dục, như: Công ước về quyền trẻ em năm 1989 (The Convention on the Rights of the Child, 1989 - CRC), Nghị định thư không bắt buộc bổ sung Công ước quyền trẻ em về việc buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em năm 2000 (Optional Protocol to the Convention on the Rights of the Child on the sale of children, child prostitution and child pornography, 2000 - OPSC), Công ước của Hội đồng Châu Âu về tội phạm mạng (Công ước Budapest) ngày 23/11/2001 (The Council of Europe’s Convention on Cybercrime) và Công ước của Hội đồng Châu Âu về bảo vệ trẻ em chống lại khai thác và lạm dụng tình dục (Công ước Lanzarote) ngày 25/10/2007 (The Council of Europe’s Convention on the Protection of children against sexual exploitation and sexual abuse)[1]. Trong đó, Công ước về quyền trẻ em năm 1989 (CRC)[2] và Nghị định thư không bắt buộc bổ sung Công ước quyền trẻ em về việc buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em năm 2000 (OPSC)[3] là hai văn bản pháp lý đưa ra những khuyến nghị mang tính ràng buộc đối với các quốc gia thành viên trong việc bảo vệ trẻ em khỏi các hành vi bóc lột và lạm dụng tình dục. Trong mối tương quan với các văn bản pháp luật quốc tế khác về việc bảo vệ trẻ em khỏi các hành vi xâm phạm tình dục thì CRC được coi là nền tảng pháp lý vững chắc nhất để bảo vệ tất cả các quyền của trẻ em; còn OPSC và các văn kiện pháp lý khác có liên quan được coi là công cụ thực tiễn có ý nghĩa cụ thể hóa những quy định của CRC để bảo đảm bảo vệ trẻ em không bị rơi vào các hoàn cảnh bị buôn bán, làm mại dâm và bị sử dụng vào việc sản xuất văn hóa phẩm khiêu dâm[4].
Thứ nhất, về độ tuổi của trẻ em bị sử dụng vào mục đích khiêu dâm:
Trong các văn bản pháp luật quốc tế, khái niệm người chưa thành niên và khái niệm trẻ em được sử dụng đồng nhất. Cụ thể, tại điểm a mục 2.2 các Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về hoạt động tư pháp đối với vị thành niên, được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 29/11/1985 (Các quy tắc Bắc Kinh) quy định: “Người chưa thành niên là trẻ em hay thanh thiếu niên mà tùy theo từng hệ thống pháp luật có thể bị xử lý khi phạm tội, theo một phương thức khác với người lớn”. Đồng thời, điểm a Mục 11 Phần II Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do thông qua ngày 14/12/1990 cũng quy định: Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Giới hạn độ tuổi thấp hơn mức này, phải được pháp luật tước tự do của người chưa thành niên.
Tương tự như trên, các văn bản pháp luật quốc tế có quy định về hành vi bóc lột và lạm dụng tình dục trẻ em cũng quy định “trẻ em” là người dưới 18 tuổi. Cụ thể, Điều 1 CRC quy định: “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”; điểm d Điều 3 Nghị định thư Palermo quy định: “Trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi”; Điều 2 Công ước 182 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cũng quy định: “Trong Công ước này, thuật ngữ “trẻ em” sẽ áp dụng cho tất cả những người dưới 18 tuổi”; Điều 3 Công ước Lanzarote quy định: “Trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi”.
Như vậy, theo các văn bản pháp luật quốc tế, “trẻ em” được hiểu là người dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, các văn bản này có quy định mở để các quốc gia thành viên có quyền xác định tuổi thành niên sớm hơn trong pháp luật của quốc gia đó. Điều này đồng nghĩa với việc các quốc gia thành viên có thể quy định độ tuổi để được coi là “trẻ em” thấp hơn so với các chuẩn mực quốc tế.
Thứ hai, về hành vi sử dụng trẻ em vào mục đích khiêu dâm:
Có thể thấy, các văn bản pháp luật quốc tế hiện nay không sử dụng thuật ngữ “sử dụng trẻ em vào mục đích khiêu dâm” mà chủ yếu sử dụng các thuật ngữ như “bóc lột trẻ em trong các cuộc biểu diễn” hay “tài liệu, văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em” hoặc “khiêu dâm trẻ em” để mô tả cho việc sử dụng trẻ em (thông qua hình ảnh, tài liệu hoặc video hoặc trực tiếp chứng kiến) vào mục đích tình dục. Cụ thể: Tại Điều 34 CRC, có ba hành vi thể hiện hình thức bóc lột và lạm dụng tình dục trẻ em được quy định là: (1) Xúi giục hay ép buộc trẻ em tham gia bất kỳ hoạt động tình dục trái pháp luật nào; (2) Sử dụng có tính chất bóc lột trẻ em trong hoạt động mại dâm hay các hoạt động tình dục trái pháp luật khác; (3) Sử dụng có tính chất bóc lột trẻ em trong các cuộc biểu diễn hay trong các tài liệu khiêu dâm. Trên cơ sở quy định tại Điều 34 CRC, Điều 1 OPSC yêu cầu các quốc gia thành viên phải cấm việc buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em như đã được quy định trong Nghị định thư này. Điều 2 OPSC cũng đã đưa ra các khái niệm: (1) Buôn bán trẻ em có nghĩa là bất kỳ hành động hoặc giao dịch nào mà qua đó trẻ em bị chuyển giao từ bất kỳ một người hay một nhóm người nào cho một người hay một nhóm người khác để lấy tiền hay một giá trị trao đổi gì khác; (2) Mại dâm trẻ em là việc sử dụng trẻ em trong các hoạt động tình dục để lấy tiền hay bất kỳ giá trị trao đổi nào khác; (3) Văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em nghĩa là bất kỳ sự trình bày nào, bằng bất kỳ phương tiện gì, về trẻ em tham gia vào các hoạt động tình dục một cách thực sự hoặc mô phỏng, hay bất cứ sự trình bày nào về các cơ quan sinh dục của trẻ em, mà chủ yếu là nhằm các mục đích tình dục.
Tại Điều 9 Công ước Budapest quy định rằng “tài liệu khiêu dâm trẻ em” bao gồm bất cứ tài liệu nào bằng hình ảnh mô tả: Người chưa thành niên thực hiện hành vi tình dục hoặc người giống người chưa thành niên thực hiện hành vi tình dục hoặc hình ảnh thực tế diễn tả người chưa thành niên thực hiện hành vi tình dục. Công ước quy định các quốc gia thành viên phải ban hành luật hoặc các biện pháp cần thiết khác đối với hành vi (được thực hiện một cách cố ý của người không được phép) về sản xuất tài liệu khiêu dâm trẻ em để phát tán qua hệ thống máy tính.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 20 Công ước Lanzarote, “khiêu dâm trẻ em” có nghĩa là bất kỳ tài liệu nào mô tả trực quan một đứa trẻ tham gia vào hành vi khiêu dâm thực tế hoặc mô phỏng hoặc bất kỳ hình ảnh nào miêu tả cơ quan sinh dục của trẻ em chủ yếu nhằm mục đích tình dục.
Trên cơ sở các quy định nêu trên, mỗi Công ước đều yêu cầu các quốc gia thành viên phải đảm bảo nội luật hóa vào trong pháp luật hình sự nước mình những hành vi được coi là cấu thành tội phạm như sau: Điều 3 OPSC yêu cầu hành vi sản xuất, phân phối, phổ biến, nhập khẩu, xuất khẩu, chào mời, buôn bán hay sở hữu văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em phải được coi là cấu thành tội phạm trong pháp luật hình sự nước mình. Điều 9 Công ước Budapest quy định các quốc gia thành viên phải ban hành luật và các biện pháp cần thiết khác để quy định tội phạm trong luật quốc gia mình đối với hành vi (được thực hiện một cách cố ý) của người không được phép về việc sản xuất tài liệu khiêu dâm trẻ em để phát tán qua hệ thống máy tính; đề nghị cung cấp hoặc cung cấp tài liệu khiêu dâm trẻ em qua hệ thống máy tính; phát tán hoặc truyền tải tài liệu khiêu dâm trẻ em qua hệ thống máy tính; mua tài liệu khiêu dâm trẻ em cho mình hoặc cho người khác thông qua hệ thống máy tính, sở hữu tài liệu khiêu dâm trẻ em trong hệ thống máy tính hoặc trong phương tiện lưu trữ dữ liệu máy tính. Tuy nhiên, đối với hai hành vi mua tài liệu cho mình hoặc cho người khác thông qua hệ thống máy tính và sở hữu tài liệu trong hệ thống máy tính hoặc trong phương tiện lưu trữ dữ liệu máy tính thì các quốc gia thành viên có quyền bảo lưu không áp dụng toàn bộ hoặc một phần.
Khoản 1 Điều 20 Công ước Lanzarote cũng quy định các hành vi tương tự như Điều 9 Công ước Budapest, bổ sung thêm hành vi cố ý tiếp cận nội dung khiêu dâm trẻ em thông qua công nghệ thông tin và truyền thông vào dấu hiệu cấu thành tội phạm. Đồng thời, đối với hành vi sản xuất tài liệu khiêu dâm trẻ em và hành vi sở hữu tài liệu khiêu dâm trẻ em thì các quốc gia thành viên có quyền bảo lưu không áp dụng toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp sản xuất và sở hữu tài liệu khiêu dâm dưới dạng hình ảnh mô phỏng hoặc hình ảnh thực tế của một đứa trẻ không tồn tại; tài liệu liên quan đến trẻ đã đạt độ tuổi được quan hệ tình dục, được sản xuất và sở hữu với sự đồng ý của họ và chỉ cho mục đích sử dụng riêng của họ. Bên cạnh đó, các quốc gia thành viên cũng có quyền bảo lưu không áp dụng toàn bộ hoặc một phần đối với hành vi cố ý tiếp cận nội dung khiêu dâm trẻ em thông qua công nghệ thông tin và truyền thông.
Như vậy, có thể thấy rằng, bên cạnh các hành vi tác động trực tiếp đến thân thể của trẻ em như buôn bán, mại dâm, bóc lột, xâm hại tình dục... thì hành vi sử dụng hình ảnh, video hay bất kỳ tài liệu nào khác liên quan đến trẻ em nhằm mục đích tình dục cũng đều được xem là tội phạm, cần được quy định trong pháp luật hình sự của mỗi quốc gia.
Qua các Công ước nêu trên, thì các thuật ngữ “khiêu dâm trẻ em”, “sử dụng tài liệu/văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em”, “bóc lột trẻ em trong các cuộc biểu diễn”... đều mang ý nghĩa sử dụng trẻ em vào mục đích khiêu dâm. Hành vi sử dụng trẻ em vào mục đích khiêu dâm bao gồm toàn bộ nhưng không giới hạn việc sản xuất, cung cấp, phát tán, truyền tải, mua bán, sở hữu, tiếp cận... nội dung/tài liệu/văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em.
2. Khuyến nghị hoàn thiện quy định về Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm
Thứ nhất, về độ tuổi của trẻ em:
Trên tinh thần các Công ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia thì trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật quốc gia quy định tuổi thành niên sớm hơn 18 tuổi thì trẻ em sẽ là người dưới độ tuổi đó, các quốc gia thành viên phải hình sự hóa độ tuổi của trẻ em là dưới 18 tuổi.
Khoản 1 Điều 20 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “Người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên”, như vậy, có thể hiểu là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi đều là trẻ em. Tuy nhiên, Điều 1 Luật trẻ em năm 2016 quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”, đồng thời, BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) quy định một loạt các tình tiết định tội đều xác định độ tuổi trẻ em bị xâm phạm tình dục là “người dưới 16 tuổi” hoặc “người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Điều này tạo ra khoảng trống trong quy định về trẻ em dẫn đến pháp luật nói chung và pháp luật hình sự Việt Nam nói riêng chưa có chính sách phù hợp và cần thiết trong việc bảo vệ người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi. Điển hình, nếu một người có hành vi sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm thì phạm tội, nhưng nếu có hành vi sử dụng người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vào mục đích khiêu dâm thì không phạm tội.
Như vậy, quy định về độ tuổi để được coi là trẻ em trong pháp luật Việt Nam chưa tương thích, chưa phù hợp với chuẩn mực quốc tế cũng như khu vực, dẫn đến một số khó khăn, thách thức khi xử lý hình sự đối với hành vi sử dụng người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vào mục đích khiêu dâm. Do đó, BLHS năm 2015 cần nâng độ tuổi của đối tượng bị tác động là trẻ em từ dưới 16 tuổi lên thành dưới 18 tuổi.
Đồng thời, cần có sự điều chỉnh các quy định pháp luật để đảm bảo sự phù hợp, thống nhất trong quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam về độ tuổi của trẻ em là dưới 18 tuổi, trong đó, trước tiên cần điều chỉnh Điều 1 Luật trẻ em năm 2016 thành: “Trẻ em là người dưới 18 tuổi”.
Thứ hai, về tên tội danh “sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm” (Điều 147 BLHS năm 2015):
Cùng với việc điều chỉnh độ tuổi của trẻ em nói trên thì cần điều chỉnh độ tuổi của người bị sử dụng vào mục đích khiêu dâm là người dưới 18 tuổi. Đồng thời, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 52 BLHS năm 2015, các tình tiết định khung tăng nặng trong các điều luật tương ứng có quy định cụm từ “người dưới 16 tuổi” cần được thay thế bằng cụm từ “người dưới 18 tuổi”.
Cần bổ sung thêm cụm từ “khiêu dâm người dưới 18 tuổi” vào trong tên tội danh của Điều 147 BLHS năm 2015.
Điều 147 BLHS năm 2015 quy định: “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Hành vi “trình diễn khiêu dâm” và “trực tiếp chứng kiến trình diễn khiêu dâm” được hướng dẫn tại Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của BLHS năm 2015 và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi (Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP) như sau: “Trình diễn khiêu dâm là hành vi dùng cử chỉ, hành động, lời nói, chữ viết, ký hiệu, hình ảnh, âm thanh nhằm kích thích tình dục người dưới 16 tuổi; phô bày bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, khỏa thân, thoát y hoặc thực hiện các động tác mô phỏng hoạt động tình dục (bao gồm giao cấu, thủ dâm và các hành vi tình dục khác) dưới mọi hình thức”; còn “trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm là trường hợp người dưới 16 tuổi trực tiếp chứng kiến người khác trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức”.
Như vậy, hành vi “trình diễn khiêu dâm” là do chính người dưới 16 tuổi thực hiện nhằm kích thích, làm thỏa mãn một đối tượng khác, tương ứng với hành vi sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm; còn hành vi “trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm” là một đối tượng khác thực hiện việc trình diễn nhằm kích thích, làm thỏa mãn người dưới 16 tuổi, tương ứng với hành vi khiêu dâm người dưới 16 tuổi. Nếu Điều 147 BLHS năm 2015 chỉ quy định tên tội danh là “sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm” thì chưa bao hàm được hành vi “trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm”.
Từ những phân tích nêu trên, tác giả kiến nghị bên cạnh việc điều chỉnh về độ tuổi thì cần bổ sung thêm cụm từ “khiêu dâm người dưới 18 tuổi” vào trong tên tội danh của Điều 147 BLHS năm 2015. Do đó, Điều 147 BLHS năm 2015 cần được sửa đổi, bổ sung thành: “Tội sử dụng người dưới 18 tuổi vào mục đích khiêu dâm, khiêu dâm người dưới 18 tuổi”.
Thứ ba, tội phạm hóa đầy đủ các hành vi sử dụng trẻ em vào mục đích khiêu dâm được quy định trong CRC và OPSC vào Điều 147 BLHS năm 2015:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 34 CRC thì hành vi “sử dụng có tính chất bóc lột trẻ em trong các tài liệu khiêu dâm” phải được các quốc gia thành viên của CRC thiết lập các biện pháp ngăn ngừa. Mặc dù CRC không có quy định cụ thể và Liên hợp quốc cũng không giải thích hành vi “sử dụng có tính chất bóc lột trẻ em trong các tài liệu khiêu dâm” được thể hiện dưới những dạng hành vi nào. Tuy nhiên, với vai trò là Nghị định thư thúc đẩy hơn nữa việc đạt được những mục tiêu của CRC và việc thực hiện những quy định của Công ước, điểm c khoản 1 Điều 3 OPSC đã quy định hai dạng hành vi liên quan đến các tài liệu khiêu dâm trẻ em, gồm[5]: (1) Sản xuất, phân phối, phổ biến, nhập khẩu, xuất khẩu, chào mời, buôn bán văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em; (2) Sở hữu văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em.
Đối chiếu với Điều 147 BLHS năm 2015, thì hiện nay chưa có quy định về các hành vi “sản xuất, phân phối, phổ biến, nhập khẩu, xuất khẩu, chào mời, buôn bán văn hóa phẩm/ các tài liệu khiêu dâm trẻ em” và hành vi “sở hữu văn hóa phẩm/các tài liệu khiêu dâm trẻ em”. Mặc dù BLHS năm 2015 có một điều luật quy định tội danh tương ứng là Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy (Điều 326), tuy nhiên, điều luật này vẫn chưa hoàn toàn tương đồng và chưa nội luật hóa được các hành vi phạm tội liên quan đến văn hoá phẩm/ tài liệu khiêu dâm trẻ em. Do đó, cần thiết phải bổ sung thêm các hành vi “sản xuất, phân phối, phổ biến, nhập khẩu, xuất khẩu, chào mời, buôn bán văn hóa phẩm/ các tài liệu khiêu dâm trẻ em” và hành vi “sở hữu văn hóa phẩm/ các tài liệu khiêu dâm trẻ em” vào Điều 147 BLHS năm 2015. Điều này là hoàn toàn phù hợp với chuẩn mực quốc tế.
Như vậy, khoản 1 Điều 147 BLHS năm 2015 cần được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 147. Tội sử dụng người dưới 18 tuổi vào mục đích khiêu dâm, khiêu dâm người dưới 18 tuổi
1. Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 18 tuổi trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức; bao gồm nhưng không giới hạn việc sản xuất, phân phối, phổ biến, nhập khẩu, xuất khẩu, chào mời, buôn bán, sở hữu các tài liệu khiêu dâm trẻ em, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
----------------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em 1989.
2. Công ước của Hội đồng Châu Âu về tội phạm mạng (Công ước Budapest) ngày 23/11/2001.
3. Công ước của Hội đồng Châu Âu về bảo vệ trẻ em chống lại khai thác và lạm dụng tình dục (Công ước Lanzarote) ngày 25/10/2007.
4. Luật trẻ em năm 2016.
5. Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của BLHS năm 2015 và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi.
6. Nghị định thư không bắt buộc bổ sung Công ước quyền trẻ em về việc buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em năm 2000.
7. International Centre for Missing & Exploited Children, 7th Edition. 2012. “Child pornography: Model legislation & global review”, The Koons Family Institute on International Law & Policy.
8. Trần Xuân Thiên An (2023), “Một số hạn chế và kiến nghị trong quy định của pháp luật hình sự về các tội xâm phạm tình dục trẻ em”, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, số 7.
9. Trần Xuân Thiên An (2023), “International conference on globalizing regulatory and business environments”, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
10. Lê Xuân Lục (2021), “Bàn về Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm”, https://vksndtc.gov.vn/tintuc/Pages/lists.aspx?Cat=10&ItemID=9672.
11. UNICEF Việt Nam, đăng ngày 13/11/2019, “Kỷ niệm 30 năm công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em - Vì quyền của tất cả trẻ em”, https://www.unicef.org/vietnam/vi/nh%E1%BB%AFng-c%C3%A2u-chuy%E1%BB%87n/k%E1%BB%B7-ni%E1%BB%87m-30-n%C4%83m-c%C3%B4ng-%C6%B0%E1%BB%9Bc-li%C3%AAn-h%E1%BB%A3p-qu%E1%BB%91c-v%E1%BB%81-quy%E1%BB%81n-tr%E1%BA%BB-em.
----------------------------------------------------------
[1] International Centre for Missing & Exploited Children. 7th Edition, 2012. “Child pornography: Model legislation & global review”, The Koons Family Institute on International Law & Policy, p.9.
[2] Việt Nam đã phê chuẩn CRC vào ngày 20/2/1990. Xem: https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ho-so-su-kien-nhan-chung/luat-quoc-te/cong-uoc-lien-hop-quoc-ve-quyen-tre-em-ky-ket-ngay-20-thang-11-nam-1989-3356, truy cập ngày 09/9/2023.
[3] Việt Nam đã phê chuẩn OPSC vào ngày 20/12/2001. Xem: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Linh-vuc-khac/Nghi-dinh-thu-khong-bat-buoc-bo-sung-Cong-uoc-quyen-tre-em-ve-tre-em-tham-gia-vu-trang-2000-276363.aspx, truy cập ngày 09/9/2023.
[4] Xem: Lời nói đầu của OPSC.
Các văn kiện quốc tế khác có liên quan như: Sổ tay về Nghị định thư không bắt buộc bổ sung Công ước quyền trẻ em về việc buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa khiêu dâm trẻ em (Handbook on the Optional Protocol on the sale of children, child prostitution and child pornography) năm 2009 của Trung tâm nghiên cứu Innocenti của Unicef; Những hướng dẫn liên quan đến việc thực thi Nghị định thư không bắt buộc bổ sung Công ước quyền trẻ em về việc buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa khiêu dâm trẻ em - Hướng dẫn OPSC (Guidelines regarding the implementation of the Optional Protocol to the Convention on the Rights of the Child on the sale of children, child prostitution and child pornography) năm 2019 của Ủy ban Liên hợp quốc về quyền trẻ em; Báo cáo giải thích hướng dẫn liên quan đến việc thực thi Nghị định thư không bắt buộc bổ sung Công ước quyền trẻ em về việc buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa khiêu dâm trẻ em của ECPAT (End Child Prostitution in Asian Tourism) - một mạng lưới toàn cầu của các tổ chức xã hội dân sự hoạt động nhằm phối hợp nghiên cứu, vận động và hành động để chấm dứt tình trạng bóc lột tình dục trẻ em. Xem: https://ecpat.org/our-members/, truy cập ngày 09/9/2023.
[5] Điểm c khoản 1 Điều 3 OPSC.
Nguồn bài viết: https://kiemsat.vn/phap-luat-quoc-te-ve-xu-ly-hanh-vi-xam-hai-tre-em-va-khuyen-nghi-cho-viet-nam-76604.html