Qua công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh, thương mại, lao động trong thời gian từ 01/01/2013 đến 30/6/2015. VKSND tối cao thấy số lượng tranh chấp các vụ án này ngày càng tăng về số lượng và tính chất phức tạp của tranh chấp này kèm theo đó là số lượng án phải sửa và hủy ngày càng tăng (năm sau cao hơn năm trước). Thực tiễn áp dụng các quy định về giải quyết vụ án hành chính...
Một số bài học kinh nghiệm và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại và lao động
Qua công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh, thương mại, lao động trong thời gian từ 01/01/2013 đến 30/6/2015. VKSND tối cao thấy số lượng tranh chấp các vụ án này ngày càng tăng về số lượng và tính chất phức tạp của tranh chấp này kèm theo đó là số lượng án phải sửa và hủy ngày càng tăng (năm sau cao hơn năm trước). Thực tiễn áp dụng các quy định về giải quyết vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh, thương mại, lao động còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, nhất là những quy định liên quan đến việc khởi kiện đối với các quyết định hành chính về quản lý đất đai như quyết định thu hồi đất, đền bù và giải phóng mặt bằng, các quyết định hành chính trong lĩnh vực thuế, lâm nghiệp, quản lý thị trường xảy ra rất gay gắt. Có những quyết định thu hồi đất liên quan đến hàng nghìn hộ dân. Vấn đề tranh chấp hợp đồng vay tài sản nhất là hợp đồng tín dụng, hợp đồng mua bán cổ phiếu, vàng, tranh chấp hợp đồng sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ; tranh chấp hợp đồng vận chuyển, bảo hiểm; tranh chấp giữa thành viên với công ty và thành viên công ty với nhau trong quá trình thành lập, hoạt động, tổ chức lại và giải thể công ty. Tranh chấp lao động chủ yếu là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, sa thải, nợ bảo hiểm, ngoài ra tranh chấp hợp động lao đồng giữa người sử dụng lao động là người Việt Nam và lao động là người nước ngoài.
Nguyên nhân của tình trạng này là do Pháp luật có sự thiếu thống nhất, chưa đồng bộ, chậm đi vào cuộc sống như giữa Bộ luật dân sự với Luật các tổ chức tín dụng; Luật đất đai với Luật khiếu nại và Luật tố tụng hành chính; Bộ Luật Tố tụng dân sự với Luật trọng tài thương mại; các quy định về thẩm quyền ban hành quyết định hành chính, quyết định xử phạt vi phạm hành chính… Bên cạnh đó việc nhận thức và áp dụng các đạo luật này còn chưa đúng vµ cã sù kh¸c nhau giữa các cơ quan quản lý nhà nước với các cơ quan tư pháp cũng như ngay trong nội bộ từng cơ quan tư pháp nh: về thời hiệu khởi kiện, vÒ x¸c định điều kiện khởi kiện, đối tượng khởi kiện, xác định tư cáchtham gia tố tụng, vÒ ®¸nh gi¸ chøng...
Công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh, thương mại, lao động là một trong những nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân các cấp, gắn liền với chức năng họat động của viện kiểm sát nhân dân theo quy định của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Tố tụng hành chính, Bộ luật Tố tụng dân sự. Thực tiễn thực hiện công tác kiểm sát trong những năm qua cho thấy có rất nhiều vấn đề cần tổng kết, đánh giá, trao đổi, rút kinh nghiệm để công tác kiểm sát ngày càng đạt hiệu quả cao hơn.
Trang tin VKSND tối cao trích đăng một số khó khăn,vướng mắc khi áp dụng và bài học kinh nghiệm của một số đơn vị để bạn đọc tham khảo:
1. VKSND thành phố Hà Nội:
Hà Nội là thành phố có diện tích và dân số lớn, đang ở giai đoạn xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng, mở rộng nhiều khu đô thị và các khu công nghiệp, là nơi tập trung nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh thương mại. Trong những năm gần đây số lượng các vụ án tranh chấp về Hành chính, kinh doanh thương mại và lao động gia tăng kể cả về số lượng và tính chất phức tạp đặc biệt là án KDTM.
Qua thực tiễn công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc kinh doanh thương mại, lao động trên địa bàn Thành phố Hà Nội thấy có một số vấn đề khó khăn, vướng mắc như sau:
Về vấn đề áp dụng pháp luật và tính lãi suất trong các vụ án tranh chấp HĐTD:
Theo quy định của BLDS, lãi suất do các bên thoả thuận nhưng không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định (Điều 476 BLDS). Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng thì các bên có quyền thỏa thuận về mức lãi suất. Trong thực tế, bên cho vay là các tổ chức tín dụng và bên vay thường thoả thuận lãi suất rất cao so với mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định và khi đến hạn bên vay không thanh toán được nợ gốc và lãi thì Ngân hàng khởi kiện ra Tòa án yêu cầu bên vay phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo mức lãi suất thỏa thuận tại thời điểm ký hợp đồng hoặc theo lãi suất tại thời điểm chuyển nợ quá hạn tính đến thời điểm xét xử, mà không điều chỉnh theo thời hạn điều chỉnh lãi suất của khoản vay theo thỏa thuận trong HĐ và khế ước nhận nợ cũng như quy định điều chỉnh của Ngân hàng Nhà nước về lãi suất. Mét sè tòa án cấp sơ thẩm khi giải quyết không yêu cầu đương sự cung cấp văn bản về thay đổi, điều chỉnh lãi suất theo từng thời kỳ để làm cơ sở và căn cứ giải quyết vụ án nhưng vẫn chấp nhận yêu cầu khởi kiện về lãi suất nợ quá hạn theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tại thời điểm ký kết (hoặc thời điểm chuyển nợ quá hạn), trong khi lãi trong hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng rất cao, có vụ mức lãi suất theo thỏa thuận tại thời điểm ký hợp đồng lên tới 25%/năm (tương ứng theo đó lãi suất nợ quá hạn yêu cầu lên tới 37,5%), mặc dù tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm, lãi suất trong hạn đã được tổ chức tín dụng thay đổi và điều chỉnh nhiều lần theo quy định và điều chỉnh của Ngân hàng Nhà nước (hiện đã điều chỉnh về dưới 9%/năm). Hiện nay, có 2 quan điểm cho rằng: Tòa án áp dụng lãi suất theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng như trên là đúng do theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng, thì các bên có quyền thỏa thuận về mức lãi suất và Điều 1 TT số 12/14.4.2010 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam có quy định tổ chức tín dụng thực hiện cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận đối với khách hàng…Còn quan điểm khác lại cho rằng nên áp dụng theo lãi suất do ngân hàng Nhà nước qui định tại Điều 476 Bộ luật dân sự.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 91 Luật các tổ chức Tín dụng: Trong trường hợp hoạt động ngân hàng có diễn biến bất thường, để bảo đảm an toàn của hệ thống tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước có quyền quy định cơ chế xác định phí, lãi suất trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng); Điều 2 TT số 12/14.4.2010 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam quy định việc điều chỉnh lãi suất cho vay phù hợp với mức biến động của lãi suất huy động vốn bằng đồng Việt Nam và mục tiêu, giải pháp điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Do đó, quan điểm cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận việc tính lãi suất như trên của Nguyên đơn là trái với quy định tại khoản 3 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, quy định của Ngân hàng nhà nước và thỏa thuận của các bên tại HĐTD về điều chỉnh lãi suất, gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của đương sự và trong thực tiễn giải quyết tại cấp phúc thẩm, việc tính lãi suất như trên được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận dẫn đến án sơ thẩm bị cấp phúc thẩm hủy án hoặc sửa án liên quan đến lãi suất trong lĩnh vực này còn nhiều. Hiện nay, đang có 2 quan điểm khác nhau như trên về cách áp dụng lãi suất. Do đó, đề nghị VKSTC phối hợp với các cơ quan ban hành liên quan sớm ban hành văn bản hướng dẫn và thống nhất áp dụng để tránh và hạn chế việc án sơ thẩm bị cấp phúc thẩm hủy, sửa…
Mặt khác, việc quy định về lãi suất vay khác nhau giữa BLDS và Luật các tổ chức tính dụng dẫn đến sự bất cập và tạo ra sự không công bằng giữa các đương sự trong hợp đồng vay tài sản và hợp đồng tín dụng. Do đó, cần thiết kiến nghị sửa đổi quy định tại Điều 476 BLDS và Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng về lãi suất cho phù hợp với thực tế.
Về vấn đề Hợp đồng thế chấp QSD đất của bên thứ ba trong các tranh chấp HĐTD:
Thực tiễn xảy ra tình trạng khi ký hợp đồng thế chấp QSD đất, trên đất đã có nhà cửa, vật kiến trúc, tài sản khác, nhưng ba bên thống nhất chỉ thế chấp và nhận thế chấp là giá trị QSD đất và đã làm đầy đủ thủ tục đăng ký giao dịch đảm bảo. Sau khi bên vay vi phạm nghĩa vụ, ngân hàng khởi kiện, toà án thụ lý giải quyết và ban hành bản án quyết định: trong trường hợp người vay không trả được nợ gốc và lãi theo quy định thì NH có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mại kê biên tài sản đã thế chấp là giá trị QSD đất theo hợp đồng thế chấp. Đến khi thi hành, cơ quan thi hành án không thi hành án được do vướng mắc tài sản trên đất không thuộc tài sản thế chấp. Hiện nay có hai quan điểm như sau. Quan điểm thứ 1 cho rằng: Vẫn tiến hành kê biên thi hành án đối với QSDĐ và tài sản gắn liền với đất theo điều 113 Luật thi hành án. Quan điểm thứ 2 cho rằng: Chỉ được kê biên thi hành án đối với QSDĐ theo hợp đồng thế chấp mà không được kê biên thi hành án đối với tài sản gắn liền với đất áp dụng theo điểm b khoản 2 điều 117 Luật thi hành án ( không thi hành được).
Về việc kiểm sát giải quyết các vụ án về TTTM:
Theo quy định của Luật TCVKSND và BLTTDS thì VKSND có quyền kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án, tuy nhiên theo quy định tại khoản 10 Điều 71 Luật TTTM thì QĐ của Tòa án (hủy hoặc không hủy phán quyết trọng tài) là QĐ cuối cùng và có hiệu lực thi hành. Do đó, khi VKS tham gia giải quyết các vụ việc dân sự theo quy định của BLTTDS liên quan đến TTTM, trong trường hợp có căn cứ xác định QĐ của Tòa án không đúng quy định của pháp luật sẽ không có chế tài, thủ tục để xét lại QĐ của Tòa án và do đó VKS cũng không có quyền kháng nghị đối với QĐ của Tòa án (khác với PLTTTM năm 2003: đương sự có quyền kháng cáo và VKS có quyền kháng nghị). Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 71 Luật TTTM thì TA phải chuyển hồ sơ cho VKS trong thời hạn 7 ngày trước ngày mở phiên họp, quy định này đã mâu thuẫn với quy định tại Điều 313 BLTTDS (TA phải chuyển hồ sơ cho VKS ngay sau khi ra QĐ mở phiên họp), gây khó khăn và vướng mắc khi thực hiện và phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán. Bên cạnh đó, luật TTTM cũng quy định v/v TA gửi cho VKS các QĐ về thu thập chứng cứ, triệu tập nhân chứng… để VKS thực hiện chức năng kiểm sát, nhưng đến nay cũng chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện chức năng này như thế nào, trong khi luật TTTM không quy định về quyền kiến nghị, kháng nghị của VKS đối với các QĐ của Tòa án (thực tế VKS chỉ có quyền kiến nghị đối với QĐ liên quan đến việc áp dụng BPKCTT theo quy định tại khoản 4 Điều 53 Luật TTTM và 124 BLTTDS).
Về việc xác định thẩm quyền giải quyết án KDTM:
Theo Điều 29 Bộ luật TTDS thì tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là các tranh chấp giữa cá nhân, tổ chức có ĐKKD với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Tuy nhiên, tại điểm b điều 2 Nghị quyết 03/2012 của HĐTPTANDTC, qui định: tranh chấp KDTM chỉ cần 1 bên có đăng ký kinh doanh nhưng đều có mục đích lợi nhuận thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa kinh tế. Như vậy, Nghị quyết 03/2012 hướng dẫn về thẩm quyền giải quyết của Tòa án đã mâu thuẫn, vượt quá và trái với quy định tại Điều 29 Bộ luật TTDS, nhưng vẫn được Tòa án các cấp áp dụng trong thực tế. Trong khi đó, việc xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định thẩm quyền của Tòa án cũng như việc áp dụng pháp luật nội dung để giải quyết yêu cầu của các đương sự trong vụ án, việc xác định không đúng quan hệ PL tranh chấp dẫn đến việc giải quyết và áp dụng pháp luật thiếu thống nhất và bất cập nhưng đến nay vẫn chưa có hướng khắc phục nên đề nghị VKSNDTC cần kiến nghị TANDTC để khắc phục.
Về việc TĐC theo quy định tại khoản 6 Điều 189 BLTTDS và khoản 6 Điều 22 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP: Trong thực tế mét sè Tòa án ban hµnh QĐTĐC theo quy định tại khoản 6 Điều 189 BLTTDS với lý do đương sự (NĐ hoặc bị đơn) đề nghị TĐC để thỏa thuận, xác minh thu thập thêm tài liệu hoặc vì lý do đi công tác… để đình chỉ theo đề nghị tại điểm x khoản 1 Điều 58 BLTTDS (về quyền của đương sự: đề nghị TA TĐC giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật này), tuy nhiên theo quy định tại điểm x khoản 1 Điều 58 BLTTDS thì đương sự có quyền đề nghị TA TĐC giải quyết vụ án khi có 1 trong các căn cứ quy định tại Điều 189 BLTTDS chứ không phải là căn cứ để Tòa án ra QĐ TĐC giải quyết vụ án và đây cũng chính là một trong những lý do TA thường vận dụng để TĐC giải quyết vụ án, nhằm mục đích lấy số liệu giải quyết án hoặc để tính lại thời hạn chuẩn bị xét xử, làm cho thời gian giải quyết vụ án bị kéo dài, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự khác và thông thường sau khi đương sự khác có ý kiến hoặc VKS có dự định kháng nghị thì TA lại ra thông báo tiếp tục giải quyết vụ án, dẫn đến VKS không thực hiện kháng nghị được. Mặt khác, khái niệm các trường hợp khác mà pháp luật có quy định làm căn cứ TĐC theo quy định tại khoản 6 Điều 189 BLTTDS và được hướng dẫn tại khoản 6 Điều 22 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP là các trường hợp làm căn cứ ra QĐ TĐC giải quyết vụ án mà BLTTDS chưa quy định nhưng được quy định trong các văn bản pháp luật khác…. là chưa rõ ràng và còn chung chung nên dễ bị hiểu và áp dụng theo nhiều lý lẽ khác nhau như đã nếu trên - do đó dề nghị cần hướng dẫn rõ ràng và cụ thể hơn về căn cứ này để áp dụng thống nhất.
Về áp dụng quy định tại Điều 306 Luật Thương mại: Theo quy định tại Điều 306 Luật TM thì trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.Trong thực tế, việc xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán còn lúng túng và khó khăn trong việc xác định mức lãi suất. Hiện có nhiều quan điểm và cách hiểu khác nhau về khái niệm cũng như việc áp dụng quy định này của luật còn thiếu thống nhất nên cần phải xác định và làm rõ về khái niệm “lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường”, có ý kiến cho rằng lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường: là lãi suất trung bình của lãi suất nợ quá hạn của các khoản vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn trên thị trường của 1 ngân hàng... Tại Hà Nội việc xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình của 3 ngân hàngtại địa phương gồm NH Agribank, VietinBank, Vietcombank để giải quyết vụ án nhưng còn vướng mắc ở chỗ: lãi suất áp dụng là lãi suất nợ quá hạn trung bình trên cơ sở lãi suất nợ quá hạn của các khoản vay ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn thì vẫn chưa có hướng dẫn, quy định thống nhất (do các mức lãi suất cho vay ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn này là khác nhau;mặt khác Hà Nội cũng như các địa phương khác còn có rất nhiều các tổ chức tín dụng khác cùng hoạt động với 3 ngân hàng Agribank, VietinBank, Vietcombank nên việc xác định xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình của 3 ngân hàng đó đã đảm bảo khách quan hay không? Bên cạnh đó, trong trường hợp loại trừ áp dụng trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường trong trường hợp “có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác” theo quy định của luật cũng chưa có hướng dẫn rõ ràng và cụ thể, theo đó trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất chậm trả (là 150% lãi suất cho vay của 1 ngân hàng cụ thể) và nếu mức lãi suất thỏa thuận này vượt quá lãi suất nợ quá hạn trung bình của 3 ngân hàng như trên thì có được áp dụng mức lãi suất thỏa thuận này hay không…. Theo quan điểm của chúng tôi đề nghị Ngân hàng nhà nước TW có hướng dẫn thống nhất giao cho Ngân hàng các địa phương là cơ quan có thẩm quyền cung cấp mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tại địa phương mình, để đảm bảo có căn cứ áp dụng khách quan khi giải quyết tranh chấp của đương sự.
Về hòa giải và công nhận sự thỏa thuận trong vụ án lao động:
Theo Điều 181 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Những vụ án dân sự không được hoà giải: 1. Yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước.2. Những vụ án dân sự phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội.”
Trong thực tế, nhiều vụ án về tranh chấp giữa cơ quan BHXH với doanh nghiệp đóng bảo hiểm xã hội về đòi tiền nợ bảo hiểm xã hội và BHYT, các tranh chấp này thường có khoản đòi phải đóng số tiền lãi của số tiền chưa đóng, chậm đóng hoặc tăng giảm số nợ phải thu nộp - đây chính là các khoản yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của nhà nước (do quỹ BHXH là tài sản của Nhà nước, do Nhà nước thống nhất quản lý), nên thuộc trường hợp không được hòa giải theo quy định tại Điều 181 BLTTDS. Tuy nhiên, đa số các vụ việc giải quyết liên quan, Tòa án vẫn tiến hành hòa giải và ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, dẫn đến việc DN nợ BHXH chỉ phải chịu 50% án phí, gây thiệt hại cho lợi ích và tài sản của nhà nước. Do đó đề nghị có hướng dẫn cụ thể và thống nhất về nhận thức cũng như hướng xử lý đối với những vụ việc như đã nêu trên.
Sau đây, đơn vị chúng tôi có một số kinh nghiệm, đề xuất và giải pháp để thực hiện tốt khâu công tác KS việc giải quyết các vụ việc kinh doanh thương mại, lao động như sau:
Tăng cường trách nhiệm của lãnh đạo, thường xuyên quan tâm, chỉ đạo kịp thời đối với khâu công tác kiểm sát án Hành chính - KDTM - LĐ, theo dõi các báo cáo nghiệp vụ về kết quả nghiên cứu hồ sơ, kiểm sát quy trình tố tụng giải quyết các vụ án Hành chính - KDTM - LĐ.
Chú trọng trong việc phân công, bố trí cán bộ; coi trọng công tác kiểm tra, đôn đốc, kịp thời phát hiện sai phạm để chấn chỉnh, khắc phục và rút kinh nghiệm. Chỉ đạo bám sát các vụ việc phức tạp, thường xuyên tổ chức các hội nghị tập huấn chuyên đề, rút kinh nghiệm trong công tác giải quyết án, gắn với việc xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai thực hiện Luật TTHC, BLTTDS và các văn bản hướng dẫn thi hành, chỉ đạo nghiệp vụ. Phải thường xuyên tổ chức rút kinh nghiệm một cách nghiêm túc đối với những thiếu sót, tồn tại trong quá trình thực hiện chức năng kiểm sát việc giải quyết các vụ án Hành chính - KDTM - LĐ bị hủy, sửa nhưng KSV không phát hiện ra những thiếu sót, vi phạm của Tòa án để báo cáo kháng nghị, kiến nghị… nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, kiểm sát viên khi thực hiện nhiệm vụ được giao. Bên cạnh đó phải thực hiện tốt chế độ thi đua, khen thưởng kịp thời đối với những cán bộ, Kiểm sát viên có những thành tích tốt trong công tác nhằm tạo động lực, hứng khởi trong công việc, phát huy năng lực công tác.
Kịp thời ban hành thông báo rút kinh nghiệm đối với các vụ án bị hủy, sửa đến cấp quận huyện nghiên cứu, rút kinh nghiệm và khắc phục trong quá trình kiểm sát việc giải quyết các vụ án Hành chính - KDTM - LĐ…
Về kỹ năng nghiệp vụ
Cán bộ, Kiểm sát viên khi được phân công kiểm sát giải quyết án Hành chính - KDTM - LĐ phải thật sự nhiệt tình với công việc, có ý thức trách nhiệm đối với nhiệm vụ được giao, thường xuyên cập nhật văn bản pháp luật, chịu khó nghiên cứu, trau dồi kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ công tác, nắm vững các quy định của Luật tố tụng, các văn bản pháp luật chuyên ngành có liên quan và các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ của cấp trên.
Khi nghiên cứu hồ sơ, kiểm sát các thông báo, quyết định, bản án do Tòa án chuyển sang, Kiểm sát viên cần nghiên cứu kỹ hồ sơ, nắm vững nội dung vụ án, yêu cầu của đương sự, phân tích đánh giá chứng cứ và việc thu thập chứng cứ của Tòa án... Chú ý kiểm sát về trình tự, thủ tục cấp, tống đạt và thông báo và thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng của thẩm phán; việc xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng; thủ tục thu thập chứng cứ, đối chất, đối thoại.... trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán để chuẩn bị xây dựng bài phát biểu, xây dựng đề cương hỏi và tham gia hỏi tại phiên tòa, nhằm làm sáng tỏ nội dung vụ án khi Hội đồng xét xử chưa làm rõ, qua đó giúp HĐXX ra một bản án, quyết định có căn cứ, đúng pháp luật.... KSV cũng cần dự kiến các tình huống phát sinh tại phiên tòa như: Trường hợp phải từ chối, thay đổi người tiến hành tố tụng, đề nghị hoãn phiên tòa hoặc giải quyết việc vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan... để có ý kiến phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của HĐXX trong từng trường hợp theo quy định của pháp luật; phải đối chiếu các căn cứ ra bản án, quyết định với quy định pháp luật tố tụng hành chính đã đảm bảo về trình tự, thủ tục hay chưa; nội dung giải quyết thể hiện trong các bản án, quyết định có đúng với quy định pháp luật nội dung hay không. Trên cơ sở đó nếu phát hiện vi phạm, KSV cần đề xuất, báo cáo lãnh đạo kịp thời kiến nghị Tòa án khắc phục trong trường hợp vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng, kháng nghị trong trường hợp vi phạm pháp luật .
2. VKSND cấp cao tại Hà Nội
Những khó khăn, vướng mắc về áp dụng pháp luật
Về xác định đối tượng khởi kiện
Mặc dù Điều 28 Luật Tố tụng hành chính và Điều 1 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng Thẩm phán Tóa án nhân dân tối cao có quy định, hướng dẫn về việc xác định quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính song nội dung hướng dẫn còn thiếu rõ ràng, cụ thể nên quá trình vận dụng còn có nhiều cách hiểu khác nhau ( nhất là đối với các quyết định của UBND tỉnh phê duyệt phương án đền bù giải phóng mặt bằng trong các dự án) dẫn đến việc một số vụ án đã thụ lý giải quyết sau đó phải đình chỉ hoặc bị cấp trên hủy án để giải quyết lại.
Về việc ủy quyền của người bị kiện cho người đại diện tham gia tố tụng
Khi quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan, người có thẩm quyền bị khởi kiện, theo quy định tại khoản 3 Điều 54 Luật Tố tụng hành chính, người bị kiện thường ủy quyền cho cấp dưới hoặc người khác đại diện cho mình tham gia tố tụng. Trong nhiều trường hợp, việc ủy quyền cho người khác đại diện tham gia tố tụng chỉ để đủ thủ tục về thành phần tham gia tố tụng, không có ý nghĩa trong việc giải quyết vấn đề đang bị khởi kiện, do người được ủy quyền thường bị động, lúng túng khi tham gia tố tụng vì chưa hiểu rõ vấn đề và không đủ quyền năng thực tế để xử lý hậu quả về quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện, cho dù có trường hợp biết rõ hành vi đó, quyết định đó rõ ràng là trái pháp luật.
Về kế thừa quyền và nghĩa vụ trong tố tụng hành chính và thẩm quyền giải quyết của tòa án cấp sơ thẩm
Theo khoản 4 Điều 53 Luật Tố tụng hành chính: Trường hợp người bị kiện là cơ quan, tổ chức bị hợp nhất, sáp nhập, chia, tách thì cơ quan, tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức cũ thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó...
Quy định này hiện đang có nhiều cách hiểu khác nhau. Thực tế tại một số địa phương có một số xã của một số huyện được sáp nhập vào thành phố, sau đó tại các xã được sáp nhập này có phát sinh việc khởi kiện quyết định hành chính (quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) do Ủy ban nhân dân cấp huyện ra quyết định thời kỳ các xã còn thuộc huyện, chưa sáp nhập vào thành phố…
Có quan điểm cho rằng: Do toàn bộ dân số, diện tích tự nhiên, các tổ chức, chính quyền, đoàn thể…. của các xã được sáp nhập đã thuộc địa giới hành chính của thành phố, nên Ủy ban nhân dân thành phố là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng hành chính theo quy định tại Điều 53 Luật Tố tụng hành chính. Do đó Ủy ban nhân dân thành phố phải tham gia tố tụng với tư cách là người bị kiện, còn Ủy ban nhân dân huyện đã ra quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước đây chỉ tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Theo đó thì thẩm quyền giải quyết các vụ án hành chính nêu trên phải do Tòa án nhân dân thành phố có các xã mới sáp nhập vào thực hiện;
Tuy nhiên, về vấn đề này cũng có quan điểm cho rằng, theo quy định tại khoản 7 Điều 3, khoản 1 Điều 29 Luật Tố tụng hành chính và Điều 2 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29 tháng 7 năm 2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Người bị kiện là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyết định hành chính, hành vi hành chính… Do Ủy ban nhân dân cấp huyện là người đã ra quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân, hộ gia đình ở các xã trước khi có quyết định sáp nhập nên khi đương sự ở các xã này khởi kiện thì người bị kiện trong các vụ án hành chính này phải là Ủy ban nhân dân cấp huyện đã ra quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước đây và thẩm quyền giải quyết vụ án là của Tòa án nhân dân cấp huyện ....
Về việc tổ chức đối thoại giữa các bên đương sự
Điều 12 Luật Tố tụng hành chính quy định: Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, Tòa án tạo điều kiện để các đương sự đối thoại về việc giải quyết vụ án hành chính... Về vấn đề này đến nay chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục tiến hành việc đối thoại; về nội dung đối thoại cũng như giá trị pháp lý của biên bản đối thoại; về vai trò của Viện kiểm sát trong việc tổ chức đối thoại....
Về phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm
Theo quy định tại Điều 160 Luật tố tụng hành chính và Thông tư liên tịch số 03/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/8/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật tố tụng hành chính: Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm chỉ phát biểu việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật tố tụng của nhưng người tham gia tố tụng; không phát biểu về nội dung giải quyết vụ án.
Với giới hạn phạm vi phát biểu quy định cho Kiểm sát viên như vậy, vai trò của Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm rất mờ nhạt, cho dù trước đó đã phải bỏ ra rất nhiều công sức nghiên cứu hồ sơ để tham gia phiên tòa nhưng giới hạn được phát biểu lại chẳng được bao nhiêu. Thực tiễn cho thấy tại phiên tòa sơ thẩm, hội đồng xét xử và các đương sự không quan tâm và nhiều người thamgia tố tụng chẳng hiểu Kiểm sát viên chỉ phát biểu như vậy để làm gì vì vấn đề mấu chốt các bên quan tâm là quyết định hành chính, hành vi hành chính đang bị khởi kiện là đúng hay sai và hướng giải quyết là như thế nào thì lại không được đề cập đến.
Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội thấy rằng: Trong tố tụng hành chính, các quyết định hành chính, hành vi hành chính là đối tượng khởi kiện đều do cơ quan Nhà nước hoặc do cá nhân có chức vụ, quyền hạn đại diện cho quyền lực Nhà nước ban hành, có sự thiếu bình đẳng, thiếu cân bằng trong quan hệ tố tụng ( nói nôm na là loại án dân đi kiện quan). Do vậy rất cần quy định Kiểm sát viên- đại diện cho Viện kiếm sát là cơ quan giám sát việc tuân theo pháp luật phải phát biểu cả quan điểm về nội dung giải quyết vụ án để bảo vệ quyền lợi cho bên yếu thế, tạo thế cân bằng cho các bên đương sự, đồng thời cũng giúp cho Hội đồng xét xử có thêm những thông tin để cân nhắc, đánh giá, quyết định một bản án có sức thuyết phục.
Về kiểm sát thụ lý vụ án trong giai đoạn phúc thẩm
Khoản 1 Điều 187 Luật Tố tụng hành chính quy định: Tòa án cấp phúc thẩm phải vào sổ thụ lý ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án, đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo… Tuy nhiên Luật này lại không quy định việc Tòa án ra thông báo thụ lý vụ án và gửi cho đương sự, Viện kiểm sát biết, gây khó khăn trong công tác kiểm sát thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm cũng như việc giao nhận hồ sơ phúc thẩm để Viện kiểm sát nghiên cứu tham gia xét xử.
Về việc bổ sung chứng cứ mới ở cấp phúc thẩm
Điều 189 Luật Tố tụng hành chính quy định việc bổ sung chứng cứ mới ở giai đoạn phúc thẩm. Tuy nhiên Luật này không quy định Tòa án phải chuyển những chứng cứ mới bổ sung cho Viện kiểm sát. Do đó, trong nhiều vụ án, khi chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát để nghiên cứu tham gia xét xử phúc thẩm, Tòa án không gửi kèm theo các chứng cứ mới được bổ sung (thường là giấy ủy quyền, lời trình bày bổ sung của đương sự, kháng cáo bổ sung, những tài liệu đương sự mới cung cấp thêm...). Do vậy Kiểm sát viên nghiên cứu Hồ sơ thiếu tài liệu cập nhật để nghiên cứu dẫn đến báo cáo Lãnh đạo Viện chưa đầy đủ, chưa kịp thời.
Về kháng nghị phúc thẩm
Kháng nghị phúc thẩm là quyền năng đặc thù, riêng có của Viện kiểm sát được quy định tại Điều 181, 182, 183 Luật Tố tụng hành chính. Tuy nhiên, do Luật này không quy định rõ căn cứ kháng nghị phúc thẩm nên Kiểm sát viên gặp không ít khó khăn trong việc đề xuất và bảo vệ quan điểm kháng nghị.
Bên cạnh đó, án hành chính là loại án phức tạp trên nhiều phương diện, thời hạn kháng nghị phúc thẩm quy định cũng quá ngắn và thiếu chế tài ràng buộc trách nhiệm chuyển hồ sơ của Tòa án cấp sơ thẩm cho cấp phúc thẩm. Nhiều trường hợp thông qua kiểm sát bản án, quyết định sơ thẩm, Viện kiểm sát cấp phúc thẩm phát hiện bản án, quyết định đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật, đã yêu cầu chuyển hồ sơ vụ án để nghiên cứu, xem xét kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Khi nhận được văn bản yêu cầu của Viện kiểm sát, Tòa án cấp sơ thẩm không chuyển ngay hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu mà để hết thời hạn kháng nghị mới chuyển nên Viện kiểm sát không thực hiện được quyền kháng nghị phúc thẩm.
Về thực hiện kiến nghị của Viện kiểm sát
Theo Điều 27 Luật Tổ chức VKSND, Điều 23 Luật Tố tụng hành chính, trong quá trình kiểm sát việc tuân theo pháp luật, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị yêu cầu khắc phục vi phạm. Tuy nhiên lại chưa quy định bắt buộc Tòa án phải tiếp thu và có văn bản trả lời cho Viện kiểm sát về việc chấp nhận hay không chấp nhận những nội dung Viện kiểm sát đã kiến nghị, dẫn đến việc tiếp thu thực hiện kiến nghị chưa nghiêm, chưa tạo ra cơ chế hữu hiệu để khắc phục triệt để vi phạm.
Những khó khăn, vướng mắc trong áp dụng pháp luật về nội dung để giải quyết vụ án hành chính:
Do việc giải quyết các vụ án hành chính liên quan đến rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, đôi khi còn chồng chéo, đòi hỏi cán bộ, Kiểm sát viên phải tốn rất nhiều thời gian, công sức để tìm tòi, nghiên cứu, học hỏi, tích lũy kiến thức, kinh nghiệm...
Những khó khăn, vướng mắc về tổ chức, cán bộ
Các viện kiểm sát cấp cao nói chung, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội nói riêng thuộc cấp kiểm sát mới thành lập từ 01/6/2015 trên nền cũ của các Viện phúc thẩm với nhiều nhiệm vụ mới về công tác kiểm sát xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm phải tiếp nhận thêm. Hiện cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động của đơn vị còn nhiều thiếu thốn; tổ chức bộ máy chưa được kiện toàn đến cấp phòng; còn thiếu nhiều cán bộ, nhất là những cán bộ có kinh nghiệm giải quyết án giám đốc thẩm, tái thẩm.
Riêng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội hiện nay mới có 77/210 biên chế được giao và chỉ có 19/77 cán bộ là Kiểm sát viên cao cấp ( tính cả Lãnh đạo Viện) là có đủ tư cách pháp lý để tham gia xét xử tất cả các loại án ( hình sự, dân sự, hành chính, kinh doanh thương mại, lao động….), do đó chưa đủ điều kiện để thực hiện chuyên khâu. Trong số này, Viện kiểm sát giải quyết án hành chính, kinh doanh thương mại, lao động ( Viện 3) hiện chỉ có 04 Kiểm sát viên cao cấp, trong đó có 01 đ/c đang nghỉ chế độ thai sản. Số cán bộ mới được điều động về đơn vị đa phần là cán bộ trẻ, còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn, thiếu chức danh pháp lý để tham gia tố tụng.
Một số đề xuất về giải pháp khắc phục của VKSND cấp cao tại Hà Nội
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, đề nghị Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao cùng các ngành tư pháp Trung ương cần sớm thống nhất hướng dẫn tháo gỡ những vấn đề còn vướng mắc, bất cập trong áp dụng pháp luật nêu trên.
Đề nghị Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao quan tâm kiện toàn về tổ chức bộ máy và các điều kiện về cơ sở vật chất, kinh phí đảm bảo cho hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội; bố trí cán bộ đủ năng lực, tăng cường tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ, đào tạo bồi dưỡng kỹ năng kiểm sát giải quyết án hành chính theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm cho cán bộ, nhất là số cán bộ trẻ mới được điều động về Viện kiểm sát cấp cao; quan tâm bổ nhiệm chức danh tư pháp để tham gia xét xử cho cán bộ các viện kiểm sát nhân dân cấp cao.
Các cán bộ, Kiểm sát viên được giao làm công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính cần nêu cao tinh thần tự học, tự nghiên cứu, chủ động tích lũy kinh nghiệm và nâng cao kỹ năng kiểm sát giải quyết án hành chính để sớm đáp ứng yêu cầu công việc.
3. VKSND cấp cao tại Đà Nẵng
Trong công tác kiểm sát giải quyết án hành chính
1. Khi thực hiệnĐiều 2 Nghị quyết số 01/2015/NQ-HĐTP ngày 15/01/2015 của Hội đồng thẩm phán TANDTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 thi hành một số quy định của Luật tố tụng hành chính, đó là: Kể từ ngày 01/3/2015 đối với những vụ án đã xét xử sơ thẩm có hiệu lực pháp luật thì có kháng nghị phúc thẩm không?
Nếu thuộc trường hợp quy định ở điểm b khoản 1 Điều 1 của Nghị quyết:
b.Quyết định hành chính được ban hành sau khi có khiếu nại có nội dung giữ nguyên, ví dụ: Quyết định của UBND tỉnh giữ nguyên quyết định của UBND huyện; nay thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp tỉnh không thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện có khiếu nại hoặc khởi kiện theo quy định của Điều 103 Luật tố tụng hành chính.
2. Khó khăn trong việc xác định thẩm quyền của người ban hành quyết định hành chính:
a.1.Trong trường hợp người ban hành quyết định hành chính chưa được bổ nhiệm lại đã hoặc làm thủ tục đề nghị bổ nhiệm lại (hoặc không được bổ nhiệm lại) nhưng vẫn ký ban hành quyết định hành chính.
a.2.Người ký ban hành văn bản ký thay người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính mà người khởi kiện quyết định hành chính không biết chỉ kiện yêu cầu giải quyết về nội dung Tòa án vẫn thụ lý giải quyết cho đến khi có người khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy quyết định hành chính do người ký ban hành quyết định hành chính chưa được bổ nhiệm hoặc không được bổ nhiệm lại dẫn đến hàng loạt quyết định hành chính trước đó đều trái pháp luật do người ký quyết định hành chính không có quyền.
Đề xuất: Khi kiểm sát việc thụ lý vụ án hành chính cần yêu cầu người quản lý cấp trên trực tiếp của người bị khởi kiện có ý kiến bằng văn bản đối với người bị kiện sau đó mới thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.
b. Quyết định hành chính của cấp dưới gây thiệt hại và người khởi kiện có yêu cầu bồi thường cấp trên của người ký ban hành quyết định hành chính đã có ý kiến trong quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan hành chính cấp trên trực tiếp chỉ rõ người ban hành quyết định hành chính cấp dưới phải giải quyết vấn đề bồi thường cho người khởi kiện nhưng tòa án cấp sơ thẩm không đưa người ban hành quyết định hành chính cấp dưới tham gia tố tụng ngay từ đầu với tư cách người có quyền lợi-nghĩa vụ liên quan để giải quyết (đồng thời) vấn đề bồi thường theo quy định của Điều 6 Luật tố tụng hành chính khi có kháng cáo cả về nội dung và hình thức thì Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận mà tách ra để giải quyết vụ kiện bằng vụ kiện khác dẫn đến việc giải quyết vụ án kéo dài, đùn đẩy không cấp nào giải quyết vấn đề bồi thường.
c. Người được ủy quyền không có quyền xem xét lại quyết định của người ủy quyền! (người ban hành quyết định hành chính) nên người được ủy quyền cần xin ý kiến của người ủy quyền dẫn đến vấn đề bồi thường không được giải quyết đồng thời mà phải dừng (hoãn) phiên tòa, giải quyết vụ án bị kéo dài.
Theo đó, người được ủy quyền không có quyền sửa đổi, thay đổi một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính bị khởi kiện như người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính thông qua đối thoại hoặc tranh luận tại phiên tòa dẫn đến giải quyết vụ án gặp bế tắc.
Đề xuất: Sửa Luật tố tụng hành chính theo hướng người ủy quyền phải ủy quyền cho người được ủy quyền có quyền thay đổi quyết định hành chính bị khởi kiện, nếu không thì phải trực tiếp tham gia phiên tòa.
Trong công tác kiểm sát các vụ án kinh doanh thương mại
Vụ án tranh chấp có đương sự hoặc có tài sản ở nước ngoài cần ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài hiện gặp nhiều khó khăn do đương sự ở nước ngoài có sự thay đổi địa chỉ hoặc không hợp tác khi phải gánh chịu nghĩa vụ… Hậu quả: tạm đình chỉ vụ kiện.
Vụ án người khởi kiện (nguyên đơn) không biết rõ địa chỉ của bị đơn (người bị kiện) hoặc địa chỉ bị đơn đã thay đổi, giải thể, sáp nhập hoặc bị đơn cố tình giấu địa chỉ.
Bộ luật tố tụng dân sự chỉ quy định Viện kiểm sát tham gia phiên họp, các phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công: những vụ án tranh chấp tài sản công là tài sản gì? Hiện đang có nhận thức khác nhau dẫn đến áp dụng pháp luật không thống nhất. Nhiều vụ do tòa thụ lý, giải quyết mà Viện kiểm sát không biết để tham gia và thực hiện quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật theo quy định ở Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị có hướng dẫn cụ thể các khái niệm: tài sản công; lợi ích công cộng…
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ do người chủ hộ đại diện, thực tế nhiều vụ tranh chấp vay, nợ có thế chấp tài sản, tài sản đó xác định là tài sản chung nhưng không được các thành viên từ 15 tuổi trở lên đồng ý dẫn đến người có quyền lợi-nghĩa vụ liên quan trong vụ án không được đưa vào tham gia tố tụng với đúng tư cách của họ dẫn đến phải hủy án do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Giải pháp: Từ khi thụ lý, kiểm sát việc thụ lý của Tòa án, Viện kiểm sát cần có văn bản yêu cầu Tòa án lấy ý kiến của các đương sự có quyền lợi- nghĩa vụ liên quan để đưa họ vào tham gia vụ án với đúng tư cách của họ ngay từ đầu tránh vi phạm đã nêu. Cần có văn bản yêu cầu cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xác định lý do vì sao cấp giấy chứng nhận cho hộ để làm cơ sở giải quyết vụ án.
-Việc gửi “Bản phát biểu” cho tòa án cấp phúc thẩm sau năm ngày kể từ khi kết thúc phiên tòa là không thể thực hiện mà phải sau khi kết thúc đợt xét xử, vì nhiều đợt xét xử kéo dài trên mười ngày.
-Thực tiễn Tòa án nhân dân cấp cao phúc thẩm các vụ án HC-KDTM-LĐ nói riêng và xét xử án phúc thẩm các loại theo lịch xét xử thường từ 03-04 tỉnh, liên tục từ 10-12 ngày do vậy sau khi kết thúc đợt xét xử việc gửi bản án, quyết định cho Viện nhân dân cấp cao chậm hơn so với quy định. Tuy đã có tập hợp kiến nghị song việc khắc phục vi phạm về việc nêu trên không thể thực hiện ngay được do đặc điểm địa lý miền Trung- Tây Nguyên.
4. VKSND cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh
Khó khăn khi áp dụng Luật Tố tụng hành chính và luật chuyên ngành khác
Điều 23: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính. “VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính kịp thời, đúng pháp luật… Kiểm sát các vụ án hành chính từ khi thụ lý đến khi kết thúc việc giải quyết vụ án; tham gia các phiên tòa, phiên họp của Tòa án; thực hiện Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong công tác thi hành bản án, quyết định của Tòa án; thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật…” Tại điều 160; Phát biểu của Kiểm Sát Viên (tại phiên Tòa sơ thẩm)… Đồng thời tại khoản 3 Điều 204 lại quy định “Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của VKS về tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hành chính ở giai đoạn phúc thẩm.” Qua nội dung của 3 điều luật nêu trên trong Luật tố tụng hành chính có sự mâu thuẫn và đối lập nhau. Từ đây làm lu mờ đi vai trò của KSV tại phiên Tòa sơ thẩm là hoàn toàn trái với Điều 23 Luật TTHC đã quy định vai trò của KSV khi tham gia phiên tòa.
Điều 104; Thời hiệu khởi kiện. Cần có hướng dẫn cụ thể, chi tiết hơn. Đồng thời phải vận dụng và cân nhắc, xem xét đến Điều 37; Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai. Điều 40; Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai của Luật khiếu nại năm 2012. Để đảm bảo cụ thể hơn về thời hiệu khởi kiện của người khởi kiện.
Áp dụng Điều 45 nay là Điều 40 của Luật khiếu nại. Vì trong thực tiễn tùy theo ý thức chủ quan của thẩm phán chủ tọa phiên tòa hay quyết định của HĐXX thì tuyên hủy QĐHC hoặc giữ nguyên QĐHC của Chủ tịch UBND tỉnh H… hình thức vi phạm của 2 QĐHC như nhau. Bản án PTHC số: 58 ngày 29/5/2015 của Tòa Phúc thẩm tuyên giữ nguyên QĐHC của Chủ tịch UBND tỉnh H... Bản án PTHC số: 79 ngày 11/9/2014 tuyên hủy QĐHC của Chủ tịch UBND tỉnh H… cả 2 QĐHC này điều vi phạm điều 45 Luật khiếu nại sửa đổi, bổ sung nay là điều 40 Luật khiếu nại năm 2012.).
Điều 166; Cấp, gửi trích lục bản án, bản án. “…Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày tuyên án, Tòa án phải cấp, gửi bản án cho các đương sự và VKS cùng cấp…” Điều luật không quy định gửi bản án cho Tòa và VKS cấp trên nên ảnh hưởng đến việc thực hiện kháng nghị phúc thẩm trên một cấp mà Điều 181, 182 và 183 Luật TTHC đã quy định. Tương tự Điều 241 BLTTDS…Không quy định Tòa cấp sơ thẩm gửi án văn cho VKS cấp trên. Trong khi Điều 252 BLTTDS quy định VKS cấp trên kháng nghị phúc thẩm trên một cấp đối với bản án là 30 ngày từ ngày tuyên án… Tuy nhiên nếu có sự phối hợp tốt trong nội bộ ngành kiểm sát thì vẫn làm tốt công tác này.
Điều 186; Gửi hồ sơ vụ án và kháng cáo, kháng nghị. Tòa cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án…cho Tòa phúc thẩm trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày…người kháng cáo nộp cho Tòa sơ thẩm biên lai nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm…nhưng thực tiển có Tòa sơ thẩm đến nhiều tháng sau mới chuyển hồ sơ vụ án lên Tòa phúc thẩm. Viện kiểm sát tổng hợp và kiến nghị các Tòa sơ thẩm bằng văn bản.
Một số giải pháp
Cần phải bổ sung ngay đủ về số lượng cán bộ tương ứng với số lượng công việc phải giải quyết, hiện nay Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phải đảm nhiệm thêm công tác giám đốc thẩm và tái thẩm theo quy định của pháp luật, nhưng cán bộ thiếu rất nhiều từ cán bộ khung đến cán bộ nghiệp vụ, để vụ việc không tồn động vi phạm tố tụng, tùy theo số lượng vụ việc của từng địa bàn... Đề nghị lãnh VKSTC áp dụng cơ chế điều động cán bộ địa bàn đó tăng cường trong một thời gian nhất định để giải quyết vụ việc… (như vụ án Tân Trường Sanh của những năm thập niên 1990).
Tăng cường công tác phối hợp nghiệp vụ chuyên môn giữa các VKS trong khu vực để thực hiện tốt chỉ đạo của lãnh đạo VKSTC nhất là trong lĩnh vực kháng nghị phúc thẩm trên một cấp, phát hiện kịp thời những sai phạm… đối với các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật để thực hiện nhiệm vụ kháng nghị GĐT và TT theo quy định pháp luật, hạn chế thấp nhất thiệt hại cho công dân, tập thể, xã hội…
Kiểm sát viên, cán bộ chuyên trách thường xuyên nghiên cứu các quy định pháp luật lĩnh vực HC-KDTM-LĐ. Nhận thức đúng, đầy đủ vị trí và tầm quan trọng của công tác kiểm sát khi được phân công nhiệm vụ, quản lý chặt chẽ, chính xác số vụ việc Tòa án thụ lý, giải quyết và còn tồn đọng... Tìm nguyên nhân, lý do tồn đọng. Tổng hợp những thiếu sót, sai phạm để có thông báo rút kinh nghiệm chung hoặc kiến nghị sửa chữa, khắc phục kịp thời.
Một số kiến nghị:
Tăng cường nguồn nhân lực về con người, vì hiện tại Viện THQCT và KSXX án HC-KDTM-LĐ chỉ có 9 đ/c (3 KSVCC, 5 KSVTC và 1 KSVSC, trong đó có 1 đ/c KSVCC nghĩ hưu vào tháng 12/2015). Với lượng công việc nêu trên hiện nay về nhân sự, con người không thể đảm nhiệm được dẫn tới việc giải quyết án, giải quyết đơn khiếu nại tồn đọng nhiều và sẽ vi phạm tố tụng.
Đề nghị lãnh đạo VKSTC xem xét cho thành lập Viện THQCT và KSXX án hành chính, vì lượng án, đơn lĩnh vực hành chính ngày thụ lý càng tăng hơn, để nghiệp vụ được chuyên trách, chuyên sâu đạt hiệu quả cao hơn, vì lĩnh vực án hành chính áp dụng Luật TTHC độc lập… (hiện nay Tòa cấp cao cũng có Tòa hành chính độc lập). Nếu không thành lập Viện Kiểm Sát án hành chính thì cũng nên thành lập thêm phòng chuyên trách lĩnh vực hành chính để thuận lợi trong việc tổng hợp, báo cáo và nghiệp vụ chuyên môn được nâng cao hơn vì có Phòng chuyên trách.
Hiện nay ngành ta có 4 cấp kiểm sát nên việc xây dựng quy chế ngành cần quan tâm đến công tác chỉ đạo của lãnh đạo Viện kiểm sát cấp trên, Vụ nghiệp vụ chuyên môn và có hướng dẫn cụ thể hơn lĩnh vực giải quyết án hành chính, kinh doanh thương mại, lao động. Nhất là cách tính thời hiệu khởi kiện, đối tượng khởi kiện án hành chính vì từ đây án hành chính bị hủy, sửa nhiều. Có nhiều trường hợp Quyết định hành chính của Chủ tịch UBND có sai phạm nhưng cấp sơ thẩm vẫn bảo vệ Quyết định hành chính của Chủ tịch UBND.
Cần chỉnh sửa, bổ sung các Điều 160, 204 cho phù hợp với điều 23 của Luật TTHC về vai trò của Kiểm Sát Viên khi tham gia phiên Tòa sơ thẩm. Các Điều 166, 181, 182 và 183 Luật TTHC về sao gửi án văn, Quyết định sơ thẩm để VKS thực hiện tốt công tác kháng nghị phúc thẩm trên một cấp. Tương tự Điều 241 BLTTDS đối với án KDTM.
Cần có hướng dẫn của VKS cấp trên về việc áp dụng điều 45 Luật khiếu nại cũ nay là Điều 40 Luật khiếu nại năm 2012 (Quyết định giải quyết khiếu nại QĐHC lần 2); khi Kiểm sát viên tham gia phiên tòa xét xử đối với Quyết định hành chính của Chủ tịch UBND các cấp.
5. VKSND tỉnh Hà Tĩnh
Trong các năm gần đây, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, số trường hợp khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án đã tăng lên đáng kể, chủ yếu liên quan công tác quản lý nhà nước về đất đai, về hoạt động thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Thi hành Luật TTHC, Nghị quyết số 56 của Quốc hội, các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, công tác giải quyết các vụ án hành chínhcủa địa phươngcơ bản đảm bảo về chất lượng, góp phần ổn định tình hình chung. Tuy nhiên, thực tiễn cũng đã bộc lộ một số khó khăn, vướng mắc cần được tháo gỡ để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác trong lĩnh vực này. Qua công tác kiểm sát giải quyết án hành chính của hai cấp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, chúng tôi xin nêu lên những khó khăn, vướng mắc và một số bài học kinh nghiệm cùng các đề xuất, kiến nghị dưới đây.
Những khó khăn, vướng mắc trong công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính:
Khoản 1 Điều 110 Luật tố tụng hành chính quy định: trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện. Tuy nhiên, văn bản trả lại đơn khởi kiện mà Tòa án gửi cho Viện kiểm sát thường ghi chung chung không rõ ràng và ghi theo chiều hướng của việc trả lại đơn. Mặt khác, khi Toà án trả lại đơn khởi kiện thì cũng trả toàn bộ tài liệu kèm theo cho người khởi kiện, vì vậy trong thời hạn 7 ngày làm việc là không đủ thời gian để Viện kiểm sát yêu cầu người khởi kiện cung cấp tài liệu để xem xét, đánh giá việc trả lại đơn khởi kiện có đúng quy định của pháp luật hay không để thực hiện quyền kiến nghị nếu có vi phạm. Mặt khác, không có quy định nào bắt buộc Tòa án phải thông báo cho Viện kiểm sát biết về việc tiếp nhận đơn khởi kiện vụ án hành chính nên trong thực tế có trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện nhưng không gửi văn bản trả lại đơn khởi kiện cho Viện kiểm sát hoặc trả lại đơn khởi kiện mà không có văn bản hoặc Tòa án không thụ lý vụ án nhưng cũng không trả lại đơn khởi kiện cho đương sự thì các trường hợp này Viện kiểm sát đều không nắm được để thực hiện việc kiểm sát .
Kiểm sát việc thụ lý, thông báo thụ lý và phân công Thẩm phán giải quyết vụ án: Điều 112 Luật tố tụng hành chính quy định trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án hành chính, Chánh án Toà án phải phân công Thẩm phán giải quyết vụ án, tuy nhiên, điều luật không quy định rõ việc quyết định phân công phải thực hiện bằng văn bản, dẫn đến sự tuỳ nghi của Toà án, gây khó khăn cho Viện kiểm sát khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Toà án.
Hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng một số trình tự thủ tục tố tụng cụ thể của Luật TTHCvề phần chung, phần giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, hoặc trình tự xác minh thu thập chứng cứ (như các Nghị quyết hướng dẫn BLTTDS). Nên cơ quan tiến hành tố tụng gặp không ít khó khăn trong việc áp dụng. Thực tế thì nhiều trường hợp nhận thức của Toà án và Viện kiểm sát đối với các quy định của Luật TTHC có khác nhau, dẫn đến khó khăn cho công tác kiểm sát. Cụ thể như:
- Khoản 2 Điều 105 Luật tố tụng hành chính quy định ngoài đơn khởi kiện, người khởi kiện còn phải nộp kèm tài liệu chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp, nhưng đến nay chưa có hướng dẫn cụ thể việc thực hiện quy định của Điều này nên vẫn còn nhận thức khác nhau trong quá trình áp dụng điều luật. Vừa qua, tại địa phương có nhiều trường hợp người dân khởi kiện vụ án hành chính liên quan việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cưỡng chế thi hành quyết định thu hồi đất, người khởi kiện đã nộp kèm theo đơn các tài liệu như: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất liên quan đến thửa đất bị cưỡng chế thu hồi; sổ hộ khẩu gia đình, bản sao Giấy chứng minh nhân dân của người khởi kiện, quyết định cưỡng chế ...nhưng đều bị Toà án cấp sơ thẩm trả lại đơn khởi kiện với lý do kèm theo đơn, người khởi kiện không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình theo Điều 72 Luật tố tụng hành chính. Viện kiểm sát cho rằng nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ theo Điều 72 Luật tố tụng hành chính là nghĩa vụ mà đương sự phải thực hiện trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không phải là yêu cầu bắt buộc ngay từ lúc mới nộp đơn khởi kiện, do đó, đã yêu cầu Toà án phải thụ lý để giải quyết đơn khởi kiện của công dân, nhưng Toà án vẫn giữ quan điểm của mình và không chấp nhận.
- Lý do “ chưa có đủ điều kiện khởi kiện vụ án hành chính” là căn cứ để Toà án trả lại đơn khởi kiện ( quy định tại điểm d khoản 1 Điều 109) và cũng là căn cứ để Toà án đình chỉ việc giải quyết vụ án trong trường hợp đã thụ lý. Tuy nhiên, thế nào là “ chưa có đủ điều kiện khởi kiện “ thì chưa được hướng dẫn cụ thể, trong thực tế, nhận thức của các cơ quan tố tụng, thậm chí của các thẩm phán, các Toà án về vấn đề này có lúc chưa thống nhất, dẫn đến việc áp dụng tuỳ tiện, gây ảnh hưởng tới quyền khởi kiện của đương sự và gây khó khăn cho công tác kiểm sát.
- Việc tiến hành đối thoại giữa các bên có ý nghĩa tích cực trong giải quyết vụ án hành chính, nhiều trường hợp, thông qua đối thoại, các bên đã thống nhất được việc giải quyết các vấn đề liên quan và người khởi kiện đã rút đơn khởi kiện, giúp giảm tải công việc cho Toà án. Tuy nhiên, tại Điều 12 Luật tố tụng hành chính quy định “Toà án tạo điều kiện để các đương sự đối thoại” nên hiện nay cách hiểu có khác nhau, một số Toà án cho rằng việc đối thoại không phải là thủ tục bắt buộc trong tố tụng hành chính vì vậy có vụ án Toà tổ chức cho các đương sự đối thoại, có vụ không làm, nhưng cũng có trường hợp Toà án cấp phúc thẩm cho rằng Toà án cấp sơ thẩm không tổ chức đối thoại trong quá trình giải quyết vụ án hành chính là vi phạm. Hiện nay cũng chưa có hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục tiến hành đối thoại trong giải quyết vụ án hành chính như thế nào, vì vậy quá trình kiểm sát việc giải quyết vụ án, Viện kiểm sát cũng khó đưa ra nhận định về việc tuân theo pháp luật của Toà án trong việc tổ chức đối thoại trong vụ án hành chính.
- Theo Luật tố tụng hành chính thì trong quá trình giải quyết vụ án, người bị kiện có thể sửa đổi hoặc huỷ bỏ quyết định hành chính bị khởi kiện hoặc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện, nhưng không quy định giới hạn cụ thể về thời hạn, vì vậy, trong thực tế giải quyết một số vụ án hành chính về lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai ở địa phương, người bị kiện ( UBND) có một số sai sót trong việc quyết định thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, quá trình giải quyết vụ án, khi phát hiện vi phạm đến đâu, họ lại tuần tự khắc phục đến đó, trong một vụ án, nhiều khi người bị kiện tiến hành điều chỉnh, khắc phục nhiều lần đối với nhiều vi phạm, dẫn đến việc cơ quan Toà án cũng phải điều chỉnh nhiều lần về đường lối giải quyết và vụ án bị kéo dài, có khi quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát cũng khó kết luận Toà án vi phạm về việc kéo dài thời hạn chuẩn bị xét xử.
- Luật TTHC không có sự ràng buộc, hoặc một chế tài cụ thể trong việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp các tài liệu, chúng cứ có liên quan đến vụ án, đã gây khó khăn, làm kéo dài quá trình giải quyết vụ án, vì trong thực tế, người khởi kiện thường chỉ cung cấp được Quyết định hành chính bị khởi kiện và một số tài liệu liên quan chứng minh việc họ khởi kiện là có căn cứ, các tài liệu, chứng cứ cần thiết chứng minh cho tính hợp pháp ( hoặc không hợp pháp) của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện thường là do người bị kiện nắm giữ và người khởi kiện không có khả năng thu thập để cung cấp cho Toà án. Thực tiễn tại địa phương, đã có nhiều vụ án hành chính về lĩnh vực thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng, Toà án cấp sơ thẩm phải hoãn phiên toà hàng chục lần đều cùng lý do người bị kiện không cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Những trường hợp này, Viện kiểm sát đã kiến nghị, nhưng việc khắc phục không khả quan.
Khoản 2 Điều 118 Luật TTHC quy định: "Toà án tiếp tục giải quyết vụ án hành chính khi lý do của việc tạm đình chỉ không còn". Nhưng không quy định phải thông báo việc tiếp tục giải quyết bằng văn bản, nên thực tế nhiều trường hợp Tòa án không thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát và đương sự biết việc tiếp tục giải quyết vụ án, ảnh hưởng đến quyền lợi ích của đương sự và khiến công tác kiểm sát của Viện kiểm sát gặp khó khăn.
Về căn cứ kháng nghị phúc thẩm: Đây là chế định quan trọng, quy định quyền năng đặc thù của Viện kiểm sát, nhưng không quy định rõ căn cứ kháng nghị như ở thủ tục giám đốc thẩm, như có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật (Điều 210 LTTHC), hoặc thủ tục tái thẩm, như mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án, người tiến hành tố tụng cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố ý kết luận trái pháp luật... (Điều 233 LTTHC). Do vậy, Viện kiểm sát cũng gặp không ít khó khăn trong việc kháng nghị.
Việc thực hiện các quyền kiến nghị của Viện kiểm sát: Trong quá trình kiểm sát việc tuân theo pháp luật, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị khắc phục vi phạm (khoản 2 Điều 23 Luật TTHC). Thực tế, Viện kiểm sát đã thực hiện quyền này rất nhiều đối với Tòa án và các cơ quan hữu quan. Tuy nhiên Luật TTHC chưa quy định việc bắt buộc Tòa án phải trả lời cho Viện kiểm sát về những nội dung kiến nghị, dẫn đến việc thực hiện kiến nghị chưa nghiêm, chưa tạo ra cơ chế để khắc phục triệt để vi phạm pháp luật dẫn đến hiệu quả của việc kiến nghị còn hạn chế.
Về quy định thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án tại khoản 2 Điều 183 Luật tố tụng hành chính( Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án cấp sơ thẩm là 7 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày kể từ ngày Viện kiểm sất cùng cấp nhận được quyết định) là quá ngắn, gây khó khăn cho Viện kiểm sát.
Ngoài ra, thực tiễn kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính , còn có một số khó khăn, trở ngại như sau:
- Tư tưởng, nhận thức và sự hiểu biết pháp luật của một số người dân còn hạn chế, nhiều vụ việc đã được cơ quan quản lý hành chính các cấp giải quyết phù hợp nhưng người dân chưa thực sự đồng tình, thỏa mãn vì họ cho rằng quyền lợi của mình chưa được bảo vệ đầy đủ dẫn tới việc khiếu nại, khiếu kiện. Mặt khác, về các cơ quan công quyền, cũng còn có trường hợp chưa nhận thức đầy đủ về quyền, nghĩa vụ của họ khi tham gia tố tụng với tư cách là người bị kiện, dẫn đến thiếu sự hợp tác, không chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ như : cử người đại diện tham gia tố tụng, cung cấp hồ sơ, tài liệu đang nắm giữ, giao nộp văn bản ghi ý kiến đối với các yêu cầu của người khởi kiện, không có mặt theo giấy triệu tập của Toà án v.v, dẫn đến kéo dài thời gian giải quyết vụ án, gây khó khăn cho cơ quan tố tụng.
- Công tác quản lý nhà nước về đất đai thời gian qua ở một số địa phương chưa thực sự tốt, sự biến động về đất đai, sự thay đổi, điều chỉnh về cách thức quản lý, lưu trữ tài liệu và việc bố trí cán bộ chuyên môn ở các địa phương trước đây chưa ổn định dẫn tới hồ sơ, tài liệu gốc không đầy đủ, thậm chí có sai sót về số liệu, diện tích hoặc giao đất nhưng không ghi rõ ranh giới, tứ cận, không có số liệu …nên khi tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án gặp khó khăn, thiếu cơ sở .
- Vụ án hành chính thường có nội dung khiếu kiện phức tạp, người khởi kiện thường là những “chủ thể thường” với bên bị kiện là cơ quan, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước “chủ thể đặc biệt” dẫn tới việc giải quyết vụ án của Tòa còn gặp khó khăn, có tâm lý ngại va chạm, né tránh dẫn đến việc giải quyết vụ án bị kéo dài, gây tâm lý không tốt trong nhân dân.
Những kinh nghiệm, phải pháp và kiến nghị:
- Hàng năm, Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đều chỉ đạo Phòng nghiệp vụ xây dựng chuyên đề, tổ chức các cuộc tập huấn cho cán bộ, Kiểm sát viên làm công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, kinh doanh, thương mại, lao động của Viện kiểm sát hai cấp, tập trung giải đáp, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn nhằm thống nhất nhận thức, nâng cao chất lượng công tác kiểm sát .
- Tập trung tổ chức tốtcác phiên tòa rút kinh nghiệm để bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ tại chỗ, nâng cao trách nhiệm, kỹ năng cho KSV khi thực hiện nhiệm vụ;
- Chú trọng công tác kiểm tra nghiệp vụ, yêu cầu các Kiểm sát viên phải thực hiện tốt Quy chế công tác kiểm sát các vụ án hành chính .
- Khuyến khích các cán bộ, kiểm sát viên làm công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính có ý thức kế thừa và thường xuyên học hỏi những kỹ năng nghiệp vụ, nghiên cứu, nắm vững các quy định của pháp luật.
- Quá trình giải quyết các vụ án hành chính, cần yêu cầu Tòa án chú trọng việc đối thoại giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với người khởi kiện để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của họ, kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý hành chính Nhà nước. Từ đó xử lý kịp thời những mâu thuẫn, tồn tại, tạo cơ sở để giải quyết dứt điểm kịp thời và đúng đắn các vụ án hành chính.
- Tăng cường mối quan hệ phối hợp công tác với cơ quan Toà án cùng cấp theo quy định của pháp luật tố tụng, các Thông tư của Liên ngành trung ương, đồng thời, Viện kiểm sát hai cấp chủ động phối hợp với Toà án cùng cấp xây dựng Quy chế liên ngành về mối quan hệ phối hợp trong giải quyết án hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kiểm sát.
Từ tình hình trên, VKSND tỉnh Hà Tĩnh có một số kiến nghị sau:
- Đề nghị tiếp tục hoàn thiện, bổ sung các quy định về tố tụng hành chính như đối thoại, rút ngắn thời gian gửi bản án, quyết định phúc thẩm tại Điều 208 xuống còn 15 ngày (thay vì 30 ngày), quy định Tòa án và các cơ quan hữu quan bị kiến nghị có trách nhiệm trả lời kiến nghị của Viện kiểm sát trong vòng 15 ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị, quy định cụ thể các căn cứ của việc kháng nghị phúc thẩm.
- Đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao sớm ban hành Nghị quyết, Thông tư liên ngành hướng dẫn thi hành một số điều của Luật TTHC như thủ tục đối thoại, các thủ tục tố tụng ở các giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, ... để việc áp dụng pháp luật trong tố tụng hành chính được dễ dàng và thống nhất.
- Viện kiểm sát cấp trên cần quân tâm tường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, Kiểm sát viên, thông báo rút kinh nghiệm cho Viện kiểm sát cấp dưới để chúng tôi có điều kiện tiếp cận, nghiên cứu, tạo điều kiện nâng cao chất lượng công tác kiểm sát.
6. VKSND tỉnh Quảng Ninh:
Khó khăn, vướng mắc trong thực hiện Luật Tố tụng hành chính và các văn bản pháp luật có liên quan
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đã quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của ngành kiểm sát, nêu rõ việc thực hiện chức năng của ngành bằng những khâu công tác cụ thể. Tuy nhiên Điều 160 LTTHC ban hành quy định hạn chế chức năng giám sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm, cụ thể là ý kiến phát biểu của KSV tại phiên tòa sơ thẩm xét xử các vụ án hành chính phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng, không phát biểu quan điểm về đường lối giải quyết vụ án. Đây là điểm hạn chế, không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, qua theo dõi 100% vụ án được đưa ra xét xử ở cấp sơ thẩm thì đều có kháng cáo của đương sự giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho việc giải quyết vụ án bị kéo dài ảnh hưởng đến niềm tin của công dân về vai trò của cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy cần thiết phải sửa đổi quy định Điều 160 LTTHC.
Khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 02 ngày 29/7/2011 của HĐTP Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn đối với trường hợp người bị kiện sửa đổi hoặc hủy bỏ quyết định bị khởi kiện quy định tại khoản 3 Điều 51 LTTHC chưa được cụ thể, rõ ràng. NQ hướng dẫn chung chung trong trường hợp người khởi kiện không rút đơn khởi kiện thì Tòa án xem xét tính hợp pháp của quyết định bị khởi kiện và quyết định sửa đổi hoặc hủy bỏ quyết định bị khởi kiện để tùy vào từng trường hợp cụ thể mà có quyết định đúng pháp luật. Việc quy định “Tùy vào từng trường hợp cụ thể mà có quyết định đúng pháp luật” dẫn đến nhận thức khi áp dụng pháp luật khác nhau.
Trong kiểm sát trả lại đơn khởi kiện: Tại điểm d khoản 1 Điều 109 Luật TTHC quy định về việc trả lại đơn khởi kiện với lý do “chưa đủ điều kiện để khởi kiện vụ án hành chính”, quy định này còn chung chung nên Tòa án đã áp dụng để trả lại đơn khởi kiện trong rất nhiều trường hợp. Do vậy, đề nghị cấp có thẩm quyền hướng dẫn cụ thể hơn trường hợp nào là chưa đủ điều kiện khởi kiện. Khoản 2 Điều 109 Luật TTHC quy định Văn bản trả lại đơn được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp, nhưng không nêu rõ thời hạn phải gửi; Khoản 1 Điều 110 LTTHC quy định“Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện”. Như vậy để thực hiện quyền kiến nghị của mình, Viện kiểm sát phải kiểm sát tốt Thông báo trả lại đơn khởi kiện. Tuy nhiên, trên thực tế Tòa án chỉ gửi cho Viện kiểm sát văn bản Thông báo trả lại đơn khởi kiện với nội dung ngắn gọn chung chung và khi Tòa án trả lại đơn khởi kiện thì cũng trả lại toàn bộ tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện. Muốn biết được hoạt động trả lại đơn có đúng quy định hay không, Kiểm sát viên phải nghiên cứu toàn bộ tài liệu, chứng cứ gửi kèm theo đơn khởi kiện. Nhưng khi nhận được Thông báo trả lại đơn khởi kiện thì tài liệu Tòa án đã trả cho người khởi kiện. Vì vậy, không thể đánh giá được, hoạt động trả lại đơn khởi kiện của Tòa án có chính xác không. Do đó trong quy định trên cần thiết phải hướng dẫn cụ thể thời hạn gửi và bổ sung quy định khi gửi thông báo trả lại đơn khởi kiện cho VKS cùng cấp phải kèm theo đơn khởi kiện.
Trong kiểm sát tạm đình chỉ: Khoản 7 Điều 49 Luật TTHC quy định “Đương sự có quyền đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án” nhưng Điều 118 Luật TTHC không có khoản nào quy định Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ theo yêu cầu của đương sự; Khoản 2 Điều 118 Luật TTHC không quy định cụ thể thời hạn giải quyết những vụ án bị tạm đình chỉ được tiếp tục giải quyết và cũng không quy định Tòa án phải gửi thông báo tiếp tục giải quyết vụ án cho VKS và đương sự nên khó khăn cho Viện kiểm sát trong quá trình kiểm sát việc giải quyết.
Trong kiểm sát đình chỉ: Điều 120 quy định về việc đình chỉ giải quyết vụ án nhưng chưa có quy định cụ thể thời hạn ra Quyết định đình chỉ là bao nhiêu ngày, kể từ khi có các lý do như quy định tại khoản 1 Điều này. Ví dụ: Người khởi kiện rút đơn thì sau bao nhiêu ngày kể từ ngày có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện Thẩm phán phải ra Quyết định đình chỉ.
Trong quá trình thực hiện chức năng, Viện kiểm sát ban hành kiến nghị đối với Tòa án về những thiếu sót, vi phạm trong quá trình giải quyết các vụ án hành chính. Tòa án cơ bản đều tiếp thu. Tuy nhiên, Luật không quy định việc Tòa án phải có văn bản trả lời chấp nhận hay không chấp nhận những nội dung trong kiến nghị của Viện kiểm sát. Cần bổ sung quy định chế tài đi kèm với các kiến nghị của Viện kiểm sát, đặc biệt là các kiến nghị về việc không chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát để nghiên cứu tham gia phiên tòa, không gửi hoặc gửi không đúng thời hạn các bản án, quyết định của Tòa án nhằm nần cao hơn nữa tính pháp lý các văn bản kiến nghị của Viện kiểm sát trong tố tụng hành chính.
Vướng mắc, khó khăn khác trong công tác kiểm sát:
Trong công tác kiểm sát việc thụ lý, giải quyết của Tòa án, vẫn còn tình trạng một số đơn vị thiếu sự chủ động trong nghiên cứu hồ sơ, đánh giá chứng cứ nhiều vụ án không sâu, đặc biệt là những vụ phức tạp liên quan đến việc xác định nguồn gốc đất. Việc phát hiện vi phạm của tòa án cùng cấp chỉ ở mức độ, phải có sự tiếp tay của Phòng nghiệp vụ mới ban hành kiến, kháng nghị kịp thời.
Mặt khác nhận thức về một số quy định của pháp luật hành chính của một bộ phận cán bộ hai ngành Tòa án và Viện kiểm sát còn chưa có sự thống nhất trong quan điểm, còn mâu thuẫn dẫn đến việc nhận định để đưa ra quan điểm giải quyết vụ án còn khác nhau.
Những kinh nghiệm để làm tốt công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính:
Để làm tốt công tác này, VKS Quảng Ninh có một số kinh nghiệm như sau:
- Nắm chắc các quy định của pháp luật, thực hiện nghiêm túc quy chế kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính.
- Phối hợp tốt với Tòa án, trao đổi trực tiếp hoặc đề ra các yêu cầu xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để giải quyết vụ án. Đặc biệt là các vụ án liên quan đến quản lý nhà nước về đất đai.
- Tổ chức tham dự phiên tòa, rút kinh nghiệm theo cụm: Chuẩn bị tốt bài phát biểu của Kiểm sát viên, đề cương hỏi tại phiên tòa, rèn luyện kỹ năng hỏi, xử lý tình huống. Làm rõ tính đúng, sai trong các Quyết định, hành vi hành chính bị khởi kiện, trên cơ sở nắm vững chính sách pháp luật để phân tích, đánh giá chứng cứ đảm bảo tính thuyết phục có lý, có tình. khẳng định được vai trò của VKS, mặc dù cấp huyện chỉ phát biểu quan điểm về tố tụng mà không phát biểu về đường lối giải quyết vụ án.
- Ngay từ đầu năm 2012, VKS Quảng Ninh đã ra các văn bản yêu cầu tăng cường công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, đ/c Viện trưởng cơ sở phải trực tiếp chỉ đạo. Quán triệt việc xây dựng chỉ tiêu đình chỉ trong án hành chính, chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương kịp thời khắc phục, sửa sai đối với các quyết định, hành vi hành chính bị khởi kiện có sai phạm dẫn đến người khởi kiện rút đơn khởi kiện, vụ án được đình chỉ, góp phần ổn định tình hinh chính trị địa phương, nâng lên vị thế, vai trò của kiểm sát. Các đơn vị đã làm tốt được cấp ủy, chính quyền địa phương ghi nhận, đánh giá cao như Viện kiểm sát Quảng Yên, Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí, Vân Đồn.
- Quan tâm đến công tác đào tạo cán bộ tại chỗ. Phân công cán bộ theo mảng công việc có tính chuyên sâu, theo từng chuyên đề.Tổ chức thực hiện ngày pháp luật vào thứ 5 hàng tuần, thảo luận, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác kiểm sát giải quyết các vụ án.
- Nâng cao tính chủ động, tự giác, tự chịu trách nhiệm của các Viện kiểm sát cấp huyện. Trước đây, khi áp dụng Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, số lượng các vụ án hành chính rất ít ( 5 năm / 1vụ), Viện tỉnh yêu cầu các đơn vị phải báo cáo 100% các vụ án trước khi xét xử nhưng sau khi Luật TTHC ra đời, số lượng các vụ án tăng nhanh nên năm 2012 Viện tỉnh đã ra văn bản giới hạn việc thỉnh thị các vụ án hành chính. Phạm vi tthỉnh thị là những vụ án hành chính có nhiều quan điểm trái ngược mà sau khi họp trù bị các ngành không thống nhất được đường lối giải quyết; hoặc những vụ án hành chính phức tạp, lần đầu gặp phải dạng khởi kiện này.
- Nâng lên về chất lượng các Hội nghị tập huấn: giành nhiều thời gian cho thảo luận, giải quyết các khó khăn, vướng mắc.
Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính:
- Tăng cường quán triệt việc nghiên cứu, nắm chắc những quy định của Luật tố tụng hành chính, thông tư liên tịch, Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, các hướng dẫn và thông báo rút kinh nghiệm của Vụ nghiệp vụ và các VKS cấp cao. Tham khảo các tài liệu hướng dẫn của ngành bạn.
- Nâng cao trách nhiệm, tính chủ dộng của cán bộ Kiểm sát viên hai cấp trong hoạt động kiểm sát. Nắm và nghiên cứu chắc các vụ án hành chính, gắn công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính với việc đề ra các yêu cầu Tòa án xác min thu thập chứng cứ làm cơ sở để giải quyết vụ án đúng pháp luật.
- Thường xuyên tổ chức tham dự phiên tòa, rút kinh nghiệm ở cả 2 cấp để nâng cao kỹ năng cho cán bộ, Kiểm sát viên.
- Tăng cường và nâng cao hiệu quả chất lượng công tác kháng, kiến nghị. Đảm bảo hình thức và nội dung kháng nghị có căn cứ, đúng pháp luật, được Viện kiểm sát cấp trên chấp nhận bảo vệ. Đối với vụ án có quan điểm khác nhau luôn chủ động báo cáo xin ý kiến Lãnh đạo cấp trên.
- Quan tâm hơn nữa đến công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, kiểm sát viên, đặc biệt là cán bộ trẻ làm công tác kiểm sát giải quyết án hành chính, . Tăng cường đào tạo chuyên sâu về kỹ năng tham mưu, xây dựng văn bản thực hiện kiến, kháng nghị cho đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên.
- Chủ động trao đổi trực tiếp với Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hành chính nếu thấy vụ án có những vấn đề còn thiếu sót, chưa đầy đủ cần phải bổ sung để làm rõ.
- Tăng cường công tác tham mưu giúp cấp ủy chính quyền địa phương trong hoạt động quản lý nhà nước thông qua việc kiểm sát chặt chẽ các quyết định hành chính và hành vi hành chính bị khởi kiện. Kịp thời phát hiện các sai phạm, phối hợp với ngành bạn xây dựng chỉ tiêu đình chỉ trong án hành chính, chủ động tham mưu cho chính quyền khắc phục, sửa sai, hủy bỏ các quyết định hành chính hoặc chấm dứt các hành vi hành chính có vi phạm nhằm ổn định tình hình chính trị địa phương.
7. VKSND tỉnh Quảng Ngãi:
- Luật TTHC và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa có quy định, hướng dẫn thế nào là xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện. Thực tế, tại Quảng Ngãi đã có 2 vụ án VKS kháng nghị phúc thẩm yêu cầu hủy án và đình chỉ giải quyết vụ án vì quyết định hành chính, hành vi hành chính đó không xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện. Tuy nhiên, khi đưa vụ án ra xét xử thì 01 vụ không được Tòa án tỉnh Quảng Ngãi chấp nhận, do đó thấy có vướng mắc: Tại khoản 1, 2 Điều 3 (giải thích về Quyết định hành chính và hành vi hành chính) và Điều 103 Luật TTHC qui định về quyền khởi kiện vụ án hành chính, nhưng không có Điều nào trong Luật TTHC qui định hành vi hành chính, quyết định hành chính đó phải xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện thì người khởi kiện mới có quyền khởi kiện.
- Kiểm sát quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án hành chính
Tại khoản 2 Điều 122 Luật TTHC quy định:“Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quết định quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án phải gửi quyết định đó cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp”. Phần căn cứ để tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án hành chính trong quyết định thường nêu chung chung, không cụ thể. Mặt khác, luật không quy định Tòa án phải chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu khi ra quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án.Vì vậy, công tác kiểm sát quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án thường gặp nhiều khó khăn, Kiểm sát viên không có điều kiện tiếp xúc tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, hay văn bản rút yêu cầu của đương sự để xem xét tính có căn cứ của quyết định đó. Dẫn đến công tác kiểm sát quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ để thực hiện quyền kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát gặp nhiều khó khăn (trong 62 vụ Tòa án giải quyết nêu trên thì đã có 20 vụ án đình chỉ do không thuộc thẩm quyền giải quyết, hết thời hiệu khởi kiện, nhưng VKS chỉ phát hiện 01 vụ vi phạm kháng nghị được chấp nhận),
- Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa hành chính sơ thẩm
Điều 160 Luật TTHC quy định “...Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng hành chính trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng hành chính, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án” Kiểm sát viên không được phát biểu quan điểm giải quyết vụ án về nội dung tại phiên tòa sơ thẩm, điều này đã tác động đến tâm lý, trách nhiệm của Kiểm sát viên còn xem nhẹ tính chất vụ án dẫn đến khi kiểm sát lập hồ sơ vụ án chưa đi sâu về nội dung vụ án để nhận xét đánh giá đề xuất hướng giải quyết đúng pháp luật. Nhiều vụ ánnội dung phát biểu về tố tụng quá sơ sài nên không phát hiện được Tòa án vi phạm về thủ tục nhận đơn khởi kiện, xác định người bị kiện trong vụ án là ai, UBND hay Chủ tịch UBND, đều này liên quan đến thẩm quyền chung, thẩm quyền riêng của UBND các cấp khi ký ban hành văn bản.
- Về kiểm sát trả lại đơn khởi kiện: Điều 109 quy định trường hợp “Chưa có đủ điều kiện khởi kiện vụ án hành chính”.Đến nay, chưa có văn bản hướng dẫn thế nào là chưa đủ điều kiện để khởi kiện vụ án nên khi Tòa án trả lại đơn khởi kiện, VKS không có căn cứ pháp lý để kiểm sát, nên hiệu quả công tác này chưa cao. Luật quy định văn bản trả lại đơn khởi kiện Tòa án phải “gửi ngay” cho Viện kiểm sát nhưng không nêu rõ thời hạn cụ thể là bao lâu. Thực tế, khi Tòa án không gửi thông báo trả lại đơn khởi kiện Viện kiểm sát cũng không nắm được vì không có cơ sở để kiểm tra hoạt động của Tòa án. Trong việc kiểm sát trả lại đơn khởi kiện, VKS có quyền kiến nghị trong thời hạn là 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện là quá ngắn.Vì Thông báo trả lại đơn khởi kiện nêu ngắn gọn, chung chung. Nếu VKS muốn biết nội dung cụ thể dẫn tới việc trả lại đơn khởi kiện thì phải xem đơn khiếu nại của đương sự, trực tiếp nghe trình bày của họ, để đánh giá tính có căn cứ, như vậy với thời gian 7 ngày là quá ít.
- Điều 12 Luật TTHC quy định “Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, Tòa án tạo điều kiện để các đương sự đối thoại về việc giải quyết vụ án”. Đối thoại trong vụ án hành chính là thủ tục có tính đặc thù của tố tụng hành chính, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án, có trường hợp thông qua đối thoại làm sáng tỏ vụ án; Thông qua đối thoại đương sự rút đơn khởi kiện. Luật TTHC quy định chưa mang tính bắt buộc, Tòa án có thể tạo điều kiện hoặc không, người bị kiên không hợp tác gây khó khăn cho việc kiểm sát.
Thực tế hiện nay có vướng mắc về người bị kiện luôn vắng mặt, từ chối trong các phiên đối thoại và có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm ở nhiều vụ án, với nhiều lý do, căn cứ Điều131, 132 Luật TTHC thì sự vắng mặt của họ là hợp lệ; Nhưng đây là vụ án hành chính người bị kiện là Chủ tịch UBND và UBND, người đại diện theo ủy quyền của các vụ án này thường là Trưởng phòng TN&MT là người tham mưu cho UBND trong quá trình xem xét cấp giấy CNQSD đất, thu hồi, giải quyết tranh chấp đất đai. Sự vắng mặt của họ làm cho vụ án kéo dài, giải quyết khó khăn hơn, bởi họ là đại diện cơ quan hành chính Nhà nước tại địa phương, nơi ban hành các Quyết định hành chính mà công dân khiếu kiện nên cần phải có mặt tại phiên tòa để đối đáp, trả lời những vấn đề người dân còn chưa hiểu, chưa thông… về quyết định mà UBND ban hành bị khiếu kiện, hơn nữa qua phiên tòa người bị kiện rút ra được những sai sót trong quá trình ban hành quyết định như thẩm quyền ký ban hành quyết định, để làm tốt hơn và công dân khỏi tốn công sức khiếu nại, khiếu kiện.
Tính chất của tố tụng hành chính là việc Tòa án giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, trong đó một bên khởi kiện là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị Quyết định hành chính, hành vi hành chính xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình với một bên bị kiện là cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền trong cơ quan quản lý Nhà nước; chính vì quan hệ tố tụng trong vụ án hành chính giữa một bên là các cơ quan Nhà nước với một bên là dân nên khi giải quyết vẫn còn có sự nể nang giữa cơ quan tiến hành tố tụng với đương sự.
Luật TTHC tạo thuận lợi cho công tác giải quyết án hành chính nhanh, gọn có căn cứ pháp luật, xong vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc, làm ảnh hưởng đến chất lượng kiểm sát giải quyết án hành chính do các nguyên nhân sau:
- Án hành chính liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, các hành vi hành chính xảy ra ngày càng đa dạng, phức tạp nhưng văn bản pháp luật qui định chưa chặt chẽ. Văn bản hướng dẫn giải quyết án hành chính cho từng lĩnh vực chưa rõ, còn nêu chung chung dẫn đến việc xác định tư cách đương sự; xác định đối tượng khởi kiện là Quyết định hành chính hay hành vi hành chính của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ án hành chính còn tùy tiện, không tuân thủ các quy định của pháp luật về tố tụng hành chính, điều này gây khó khăn không ít cho KSV khi tham gia xét xử.
- Nhận thức pháp luật, trình độ năng lực nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp của một số KSV trong Kiểm sát giải quyết án hành chính nói chung, tại phiên tòa nói riêng còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu. Có khi trực tiếp tham gia phiên toà sơ thẩm nhưng không phát hiện được vi phạm. Tinh thần trách nhiệm trong công việc còn nể nang, sợ va chạm đến các cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương nên quan điểm đề nghị không kiên quyết trong giải quyết án.
Để công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính đúng pháp luật thì KSV cần nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án nhất là nội dung đơn khởi kiện đối chiếu Luật, Nghị quyết, Thông tư hướng dẫn. Chú trọng đến công tác phối hợp giữa cấp trên và cấp dưới, với UBND các cấp, các cơ quan quản lý chuyên ngành liên quan đến những vụ án hành chính thường gặp. Viện kiểm sát cấp huyện, thành phố phải khắc phục việc gửi bản án, quyết định HC-KDTM-LĐ chậm lên Viện kiểm sát cấp trên dẫn đến khi phát hiện có vị phạm thì không còn thời hạn kháng nghị phúc thẩm.
Khi kiểm sát việc thụ lý vụ án hành chính, KSV cần xác định vụ án hành chính đó Tòa án thụ lý có đúng thẩm quyền không; Ngoài ra còn phải xem xét QĐ hành chính, hành vi hành chính đó có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện không ?
Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thường xuyên thông báo rút kinh nghiệm, hướng dẫn nghiệp vụ về giải quyết các vụ án hành chính, tập hợp những vướng mắc trong thực hiện Luật TTHC để các Viện kiểm sát địa phương nghiên cứu, rút kinh nghiệm, phát huy vai trò của Viện kiểm sát trong công tác kiểm sát giải quyết án hành chính.
Để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát, góp phần đảm bảo sự tuân thủ pháp luật trong giải quyết án HC-KDTM-LĐ của Tòa án, cũng là biện pháp tăng cường công tác kiểm sát các hoạt động tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 37/2012/QH12 ngày 23/11/2012 của Quốc hội trong ngành Kiểm sát. Kiểm sát viên, kiểm tra viên được phân công làm công tác kiểm sát giải quyết án HC phải nâng cao tinh thần trách nhiệm xác định rõ vai trò, nhiệm vụ công tác, bản lĩnh trong nghiên cứu hồ sơ, bản án, quyết định của Tòa án thì mới phát hiện vi phạm, thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị đạt kết quả.
Một số kiến nghị:
- Điều 109 Luật TTHC về căn cứ trả lại đơn khởi kiện “Người khởi kiện không có quyền khởi kiện” và “Chưa có đủ điều kiện khởi kiện vụ án hành chính” trong Thông tư liên tịch, hay Nghị quyết Hội đồng Thấm phán TAND tối cao về các trường hợp nào thì người khởi kiện không có điều kiện khởi kiện...; nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho Kiểm sát viên, Thẩm phán áp dụng pháp luật được chính xác, trả lại đơn cho người khởi kiện, đình chỉ giải quyết vụ án hành chính được thống nhất và thuyết phục hơn.
- Đối với vấn đề đối thoại cần phải có văn bản hướng dẫn cụ thể theo hướng, đối thoại là vấn đề bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án hành chính và quy định Viện kiểm sát cũng được tham gia đối thoại.
8. VKSND tỉnh Lào Cai
Lào Cai là một tỉnh miền núi biên giới phía Bắc nằm trên tuyến hành lang kinh tế Côn Minh – Hà Nội – Hải Phòng, trong những năm qua tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cơ bản ổn định, kinh tế có những bước phát triển vượt bậc mà nổi bật, đời sống nhân dân được nâng lên rõ rệt. Những năm gần đây tỉnh Lào Cai tiến hành triển khai thực hiện nhiều dự án lớn về phát triển kinh tế, đô thị, du lịch, thương mại, tập trung chủ yếu ở các địa bàn như: thành phố Lào Cai, huyện Sa Pa, huyện Bát Xát và huyện Bảo Thắng. Để thực hiện các dự án này thì vấn đề đầu tiên là phải có quy hoạch sử dụng đất và tiến hành ban hành các quyết định hành chính về thu hồi đất đối với nhân dân ở trong vùng quy hoạch thực hiện dự án. Vì vậy đã xảy ra việc khiếu kiện nhiều trong lĩnh vực đất đất đai mà tập chung chủ yếu là quyết định thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, tái định cư… của UBND cấp huyện, thành phố.
Vướng mắc, bất cập trong việc áp dụng các quy định của Luật Tố tụng hành chính nói chung trong quá trình giải quyết các vụ án hành chính.
Chưa có hướng dẫn chi tiết về trình tự, thủ tục tiến hành việc đối thoại trong Luật tố tụng hành chính (Điều 12 Luật TTHC).
Vướng mắc, bất cập trong việc áp dụng các quy định của các Điều luật cụ thể liên quan đến công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính:
- Kiểm sát trả lại đơn khởi kiện: Tại điểm d khoản 1 Điều 109 Luật TTHC quy định về việc trả lại đơn khởi kiện với lý do “Chưa đủ điều kiện khởi kiện vụ án hành chính” còn rất chung chung, không rõ ràng nhưng chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể nên dẫn tới nhiều cách hiểu khác nhau. Khoản 1 Điều 110 Luật TTHC quy định thời hạn Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân cùng cấp đã trả lại đơn khởi kiện là trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện là quá ngắn. Bởi lẽ, Tòa án chỉ gửi cho Viện kiểm sát thông báo trả lại đơn khởi kiện, trong thông báo chỉ nêu tóm tắt nội dung. Nếu Viện kiểm sát muốn biết được chi tiết nội dung dẫn tới việc trả lại đơn thì phải liên hệ với đương sự, sau đó tiến hành ghi lời khai…. Do đó, khi gặp được đương sự để làm sáng tỏ vấn đề này thì thời hạn 07 ngày để kiến nghị của Viện kiểm sát đã hết.
- Kiểm sát việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, kiểm sát tạm đình chỉ:Luật Đất đai quy định UBND có thẩm quyền cưỡng chế thu hồi đất, nên trước đây theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thì Tòa không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là tạm đình chỉ việc thi hành quyết định thu hồi đất. Nay theo quy định tại khoản 1 Điều 62 Luật TTHC quy định biện pháp khẩn cấp tạm thời gồm “Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh...”. Đồng thời, theo khoản 2 Điều 83 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, “trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau”. Vậy hiện nay, Tòa án có quyền tạm đình chỉ quyết định thu hồi đất của UBND hay không? Đây là vướng mắc chưa có văn bản hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao dẫn đến sự lúng túng cho cả Tòa án và Viện kiểm sát trong việc áp dụng pháp luật.
- Kiểm sát bản án:Luật TTHC đã quy định chi tiết cách viết bản án hành chính nhưng hiện tại bản án hành chính được viết tương tự bản án dân sự, từ những nghiên cứu mẫu bản án được ban hành kèm theo Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Tòa án nhân dân tối cao, chúng tôi nhận thấy có bất cập sau: Theo quy định tại khoản 4 Điều 164 Luật TTHC trong phần nội dung vụ án và nhận định của Tòa án phải ghi yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện; đề nghị của người bị kiện; đề nghị, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan… Nhưng chưa hướng dẫn cụ thể cho loại án này. Toà án hai cấp áp dụng mẫu bản án của dân sự để ghi đối với án hành chính. Tuy nhiên mẫu bản án dân sự có hướng dẫn “Trong phần này ghi quan hệ được xác lập giữa các đương sự dẫn đến có tranh chấp; các vấn đề cụ thể mà người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết; yêu cầu phản tố (nếu có) và đề nghị cụ thể của bị đơn; yêu cầu độc lập và đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”. Hướng dẫn này không thật phù hợp với việc viết bản án hành chính như trong vụ án hành chính không có vấn đề phản tố. Do đó, thiết nghĩ cần phải có hướng dẫn riêng về việc viết bản án hành chính sơ thẩm.
- Việc xác định đối tượng bị kiện trong vụ án hành chính: Trong cùng một vụ án hành chính người khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy 03 quyết định của Ủy ban nhân dân đối với cùng một vụ việc gồm: Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, Quyết định sửa đổi bổ sung phương án bồi thường của Ủy ban nhân dân, Quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân; như vậy đương sự vừa khởi kiện Quyết định của Ủy ban nhân dân vừa khởi kiện Quyết định giải quyết khiếu nại của chủ tịch Ủy ban nhân dân, trường hợp này xác định người bị kiện là ai: Ủy ban nhân dân hay Chủ tịch Ủy ban nhân dân?
Trường hợp quyết định thu hồi đất để thực hiện dự án của UBND cấp huyện căn cứ vào quyết định phê duyệt dự án của UBND cấp tỉnh thì khi giải quyết vụ án Tòa án cấp huyện có quyền xem xét tính hợp pháp, tính có căn cứ và đúng pháp luật của quyết định phê duyệt dự án của UBND cấp tỉnh không? nếu Tòa án cấp huyện xem xét thì không đúng thẩm quyền, nếu không xem xét thì không xác định được có đúng quy định của pháp luật không? (Căn cứ quan trọng nhất là quyết định phê duyệt dự án của cấp tỉnh). Do đó Liên ngành cấp trên cần phải có hướng dẫn cụ thể để thống nhất trong chỉ đạo, giải quyết.
Một số giải pháp chung nhằm nâng cao công tác kiểm sát giải quyết án hành chính như sau:
- Phối hợp và đảm bảo thông tin, báo cáo hai chiều giữa Viện kiểm sát tỉnh và Viện kiểm sát cấp huyện, thành phố. Thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh về kiểm sát việc giải quyết án hành chính ở hai cấp kiểm sát.
- Phối hợp tốt với Tòa án cùng cấp trong giải quyết án hành chính, đặc biệt phải tạo thế chủ động trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc giải quyết án hành chính, khắc phục ngay tình trạng thụ động, chờ Tòa án chuyển hồ sơ sang để nghiên cứu tham gia phiên tòa như những năm trước đây.
- Yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân các huyện, thành phố gửi lịch xét xử các vụ án hành chính sơ thẩm để Viện kiểm sát ND tỉnh cử Kiểm sát viên của phòng nghiệp vụ tham dự phiên tòa. Qua đó nắm chắc được nội dung và bản chất của vụ án để kiểm sát ở phiên tòa phúc thẩm.
- Thường xuyên nắm bắt tình hình khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại , tố cáo về đất đai tại một số địa bàn tập chung các dự án lớn của tỉnh liên quan đến công tác đền bù giải phóng mặt bằng, quản lý đô thị, quản lý về đất đai…
Kiến nghị, đề xuất:
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiến nghị với Tòa án nhân dân tối cao sớm ban hành Nghị quyết hướng dẫn về trình tự, thủ tục đối thoại trong Tố tụng hành chính; Việc xác định đối tượng bị kiện trong vụ án hành chính có nhiều quyết định bị khởi kiện.
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Tòa án nhân dân tối cao có hướng dẫn cụ thể cho Tòa án cấp dưới về cách viết bản án hành chính sơ thẩm để thống nhất trong toàn ngành Tòa án.
- Đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao sớm mở lớp tập huấn chuyên sâu về công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính cho cán bộ, Kiểm sát viên làm công tác này của Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố.
- Đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần định kỳ thường xuyên có thông báo rút kinh nghiệm về giải quyết án hành chính của Viện kiểm sát các cấp, chú trọng đến việc tập hợp những cách làm hay, kinh nghiệm và giải pháp tốt trong kiểm sát việc giải quyết án hành chính của các đơn vị trong toàn quốc để phổ biến trong toàn ngành.
9. VKSND tỉnh Kiên Giang
Những vướng mắc, bất cập của pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền khởi kiện vụ án hành chính của công dân
Khoản 1, 2 của Điều 27 Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định VKS có nhiệm vụ kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện và kiểm sát việc thụ lý vụ án của Tòa án cùng cấp nhưng cơ sở để cho VKSND thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định hầu như không có gì ngoài “văn bản trả lại đơn khởi kiện” (Điều 109 Luật tố tụng hành chính năm 2010, viết tắt là Luật TTHC) và “thông báo về việc thụ lý vụ án” (Điều 114 Luật TTHC) mà Tòa án gửi cho VKS. Chính vì vậy mà những vi phạm trong việc trả lại đơn khởi kiện chỉ được VKS phát hiện khi có đơn khiếu nại của đương sự, khi đó thường thì thời hạn kiến nghị của VKS theo quy định tại Điều 110 Luật TTHC đã hết và như vậy quyền khởi kiện của công dân không được pháp luật bảo vệ. Cũng tương tự như vậy, những vi phạm pháp luật về việc thụ lý vụ án như: thụ lý vụ án không thuộc thẩm quyền của Tòa án theo Điều 28, 29, 30 hoặc những trường hợp phải trả lại đơn khởi kiện theo Điều 109 của Luật TTHC chỉ được phát hiện khi Tòa án gửi hồ sơ vụ án hành chính cho VKSND, kèm theo quyết định đưa vụ án ra xét xử. Ở giai đoạn này, KSV chỉ có thể phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong việc thụ lý vụ án tại phiên tòa sơ thẩm và nếu Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của VKS thì vụ án sẽ bị đình chỉ và trả lại đơn khởi kiện. Lẽ ra những sai sót này nếu được VKS tác động ở giai đoạn thụ lý sẽ không làm lãng phí thời gian của đương sự.
Mặc khác, một trong những căn cứ trả lại đơn khởi kiện là “chưa có đủ điều kiện khởi kiện vụ án hành chính” được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 109 Luật TTHC và cũng là căn cứ để Toà án đình chỉ việc giải quyết vụ án trong trường hợp đã thụ lý. Tuy nhiên, thế nào là “ chưa có đủ điều kiện khởi kiện “ thì chưa được hướng dẫn cụ thể. Trong thực tế, nhận thức của các cơ quan tố tụng, thậm chí của các thẩm phán, các Toà án về vấn đề này có lúc chưa thống nhất, dẫn đến việc áp dụng tuỳ tiện, gây ảnh hưởng tới quyền khởi kiện của đương sự cũng như của cơ quan tiến hành tố tụng.
Những vướng mắc, bất cập của pháp luật gây khó khăn cho VKS khi thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính
Kiểm sát việc thụ lý của Tòa án
Theo khoản 2, Điều 23 Luật TTHC quy định VKS có nhiệm vụ kiểm sát việc thụ lý của Tòa và khoản 1, Điều 114 Luật TTHC quy định trách nhiệm của Tòa án sơ thẩm là phải gửi thông báo thụ lý cho cho VKS cùng cấp nhưng không quy định quyền hạn của VKS khi phát hiện có vi phạm pháp luật trong việc thụ lý của Tòa án.
Ở giai đoạn phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm không có trách nhiệm thông báo thụ lý vụ án hành chính cho VKS cùng cấp. Theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 3 TTLT 03/2012 thì VKS cấp phúc thẩm thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc thụ lý vụ án hành chính của Tòa án cấp phúc thẩm một cách gián tiếp thông qua VKS cấp sơ thẩm. So sánh với Điều 257 Bộ luật tố tụng dân sự (đã sữa đổi, bổ sung năm 2011) quy định Tòa án thông báo cho VKS cùng cấp về việc thụ lý vụ án dân để xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Nếu trong tố tụng hành chính, Tòa án cấp phúc thẩm trực tiếp gửi thông báo thụ lý cho VKS cùng cấp sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho VKS thực hiện nhiệm vụ kiểm sát thụ lý vụ án của Tòa án ở giai đoạn phúc thẩm.
Kiểm sát việc thu thập chứng cứ của Tòa án
Theo khoản 3 của Điều 78 Luật TTHC, VKS có quyền yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ nhưng thực chất quyền này chỉ được thực hiện trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án chuyển hồ sơ vụ án cho VKS kèm theo quyết định đưa vụ án ra xét xử. Do thời hạn đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại khoản 3, Điều 117 LTTHS (từ 20 – 30 ngày) nên hầu hết các trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu thu thập tài liệu, chứng cứ của VKS trước hoặc tại phiên tòa đều phải hoãn phiên tòa, làm kéo dài thời hạn giải quyết vụ án.
Mặc khác, một KSV được phân công kiểm sát nhiều vụ án hành chính trong cùng một thời điểm. Vì vậy 15 ngày để cho một KSV kiểm sát việc thu thập chứng cứ và đề ra yêu cầu thu thập chứng cứ (nếu có) của nhiều vụ án là rất khó khăn, làm cho hiệu quả của công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính không cao.
Thời hạn kháng nghị quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết các vụ án hành chính
Theo quy định tại khoản 2, Điều 183 Luật TTHC, thời hạn kháng nghị của VKS cùng cấp là 07 ngày, của VKS cấp trên trực tiếp là 10 ngày kể từ ngày VKS cùng cấp nhận được quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm. Trong khi đó, khoản 2, Điều 2 của Thông tư liên tịch số 03/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật TTHC về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính (viết tắt là Thông tư liên tịch 03/2012) chỉ quy định “Ngay sau khi nhận được yêu cầu của VKS, Toà án chuyển hồ sơ vụ án cho VKS có văn bản yêu cầu”. “Ngay sau khi” được hiểu như thế nào? Một ngày, hai ngày hay ba ngày sau khi Tòa án nhận được yêu cầu của VKS? Điều này làm ảnh hưởng rất lớn đến thời hạn kháng nghị của VKS.
Mặc khác, Luật TTHC chỉ quy định Tòa án gửi quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết vụ án án cho VKS cùng cấp không kèm theo bất cứ tài liệu nào gây khó khăn trong việc phát hiện những vi phạm pháp luật của những quyết định này.
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của các đương sự tại phiên tòa
Theo quy định tại khoản 1, Điều 160 Luật TTHC, tại phiên tòa sơ thẩm KSV phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng hành chính, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và tại khoản 1, Điều 14 Thông tư liên tịch 03/2012 cũng quy định KSV“Phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng hành chính, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, không phát biểu về quan điểm giải quyết vụ án” nhưng tại mẫu 5c của Vụ 12 hướng dẫn nội dung phát biểu của KSV tại phiên tòa hành chính sơ thẩm là “Đánh giá tóm tắt về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng hành chính từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án có những vi phạm gì? Đồng thời cần đánh giá về tính có căn cứ, không có căn cứ của nội dung khởi kiện thể hiện trong hồ sơ và việc thay đổi nội dung khởi kiện tại phiên tòa (nếu có); về tính hợp pháp, không hợp pháp, của Quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện cùng các tài liệu, kết luận giám định…. (nếu có) thể hiện trong hồ sơ và qua diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm.”
Thực tế, bài phát biểu của KSV tại phiên tòa hành chính sơ thẩm đã thể hiện nội dung như hướng dẫn của Vụ 10 nhưng có nhiều bản án đã nhận định nội dung phát biểu của KSV đã vi phạm vào khoản 1, Điều 160 Luật TTHC và Điều 14 Thông tư liên tịch 03/2012.
Thi hành bản án và quyết định của Tòa án
Điều 244 và 245 Luật TTHC chỉquy định cơ quan Thi hành án Dân sự có trách nhiệm đôn đốc đối với người phải thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhưng thẩm quyền của cơ quan Thi hành án Dân sự chỉ dừng lại ở “trách nhiệm đôn đốc” và nếu cơ quan có nghĩa vụ thi hành án không thi hành bản án, quyết định của Tòa án thì cơ quan Thi hành án Dân sự cũng chỉ có văn bản thông báo cho cơ quan cấp trên trực tiếp của người phải thi hành án biết để xem xét, chỉ đạo việc thi hành án. Nếu cơ quan cấp trên trực tiếp không chỉ đạo hoặc đã chỉ đạo nhưng người phải thi hành bản án, quyết định hành chính vẫn không thực hiện thì cơ quan Thi hành án Dân sự phải áp dụng biện pháp tiếp theo là gì? Việc không quy định biện pháp cưỡng chế đã tạo nên sự bất bình đẳng trong công tác thi hành án và làm cho bản án, quyết định hành chính của Tòa án mất hiệu lực.
Những giải pháp
Sửa đổi, bổ sung Luật tố tụng hành chính
Từ những vướng mắc, bất cập của pháp luật đã nêu trên cho thấy việc sửa đổi, bổ sung Luật TTHC là rất cần thiết. Việc sửa đổi, bổ sung Luật TTHC cần tập trung vào những vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, phải tạo điều kiện cho VKSND thực hiện tốt và có hiệu quả chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính.
Trả lại đơn khởi kiện là một hành vi tố tụng của Thẩm phán nhằm không công nhận quyền khởi kiện vụ án hành chính của đương sự. Với ý nghĩa quan trọng đó, pháp luật quy định nhiệm vụ kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án là phù hợp. Việc Chánh án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện là một hành vi hành chính thì việc Thẩm phán ra thông báo về việc thụ lý vụ án hành chính một hành vi tố tụng đầu tiên làm phát sinh cho quá trình tố tụng tiếp theo.
Tuy nhiên, chỉ với thông báo thụ lý vụ án và văn bản trả lại đơn khởi kiện mà Tòa án gửi cho VKS thì việc kiểm sát chỉ là kiểm sát về hình thức. Muốn kiểm sát về nội dung, Luật TTHC cần phải sửa đổi, bổ sung theo hướng ngoài việc gửi văn bản trả lại đơn khởi kiện, Tòa án phải gửi kèm theo các tài liệu , chứng cứ có liên quan đến việc trả lại đơn và quy định VKS được tiếp cận hồ sơ từ giai đoạn thụ lý vụ án là rất cần thiết, là phù hợp với khoản 2, Điều 27 Luật tổ chức VKSND và khoản 2, Điều 23 Luật TTHC: “VKSnhândânkiểmsátcácvụánhànhchínhtừkhithụlýđếnkhikếtthúcviệc giải quyếtvụán”. Ngoài việc bổ sung quyền của VKSND được tiếp cận hồ sơ vụ án ngay sau khi Tòa án có thông báo thụ lý, Luật TTHC cũng cần bổ sung quyền kiến nghị của VKS khi phát hiện việc thụ lý vụ án của Tòa án trái pháp luật.
Việc quy định VKS được tiếp cận hồ sơ từ giai đoạn thụ lý vụ án cũng làm cơ sở cho việc kiểm sát tính hợp pháp và tính có căn cứ của quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính của Tòa án; kiểm sát tính hợp pháp, tính liên quan, tính khách quan của chứng cứ do Tòa án thu thập được.
Như đã viện dẫn ở trên, Luật tổ chức VKSND (khoản 2, Điều 27) và Luật TTHC (khoản 2, Điều 23) quy định VKSND có nhiệm vụkiểmsátcácvụánhànhchínhtừkhithụlýđếnkhikếtthúcviệc giải quyếtvụán nhưng lại không quy định Tòa án cấp phúc thẩm gửi thông báo thụ lý cho VKS cùng cấp là bất hợp lý, là một xung đột pháp luật cần phải giải quyết. Nếu như Điều 257 Bộ luật tố tụng dân sự (đã sữa đổi, bổ sung năm 2011) quy định Tòa án thông báo cho VKS cùng cấp về việc thụ lý vụ án để xét xử theo thủ tục phúc thẩm nhưng Luật TTHC lại không có quy định này.
Thứ hai, cần phải xây dựng hoàn chỉnh pháp luật về thi hành án hành chính.
Song song với pháp luật về tố tụng là pháp luật về thi hành án, chẳng hạn như Bộ luật tố tụng hình sự - Luật thi hành án hình sự; Bộ luật tố tụng dân sự - Luật thi hành án dân sự. Chỉ riêng Luật TTHC là chưa có Luật thi hành án hành chính song hành. Nếu như hiện nay chúng ta chưa xây dựng được Luật thi hành án hành chính thì cũng cần bổ sung các chế định về cưỡng chế thi hành bản án, quyết định hành chính vào Chương XVI của Luật TTHC. Có như thế mới bảo vệ được quyền và lợi ích của công dân, bảo đảm tính có hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án.
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao cần tăng cường công tác hướng dẫn áp dụng pháp luật
Việc ban hành các văn bản hướng dẫn pháp luật như nghị quyết, thông tư liên tịch phải có tính giải thích cao, tránh lặp lại những nội dung đã được quy định trong luật mà Thông tư liên tịch 03/2012 là một điển hình và có tính ổn định để không phải sửa đổi, bổ sung như Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP ngày 27/9/2011 được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị quyết 01/2015/NQ-HĐTP ngày 15/01/2015 về đối tượng khởi kiện hành chính.
Nếu như khoản 2, Điều 8 Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn thế nào là không đủ điều kiện khởi kiện vụ án dân sự thì Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao cũng cần hướng dẫn điều kiện khởi kiện những vụ án hành chính.
Tại phiên tòa sơ thẩm, KSV đánh giá về tính có căn cứ, không có căn cứ của nội dung khởi kiện thể hiện trong hồ sơ và việc thay đổi nội dung khởi kiện tại phiên tòa (nếu có); về tính hợp pháp, không hợp pháp của Quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện cùng các tài liệu, kết luận giám định...theo mẫu 5c của Vụ 10 là hoàn toàn hợp lý nhưng để thống nhất trong toàn ngành Kiểm sát, VKSND tối cao cần có văn bản hướng dẫn chính thức về nội dung này. Việc VKSND tối cao ban hành văn bản hướng dẫn là phù hợp với khoản 2 của Điều 160 Luật TTHC.
Các giải pháp nghiệp vụ
Để nâng cao chất lượng kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính trong thời gian tới cần thực hiện tốt các giải pháp sau:
Tiếp nhận, vào sổ theo dõi và kiểm sát chặt chẽ cả nội dung và thời hạn gửi thông báo thụ lý vụ án, việc trả lại đơn khởi kiện và các quyết định tố tụng của Tòa án cùng cấp. Việc ghi rõ ngày nhận là nhằm để tính thời hạn kháng nghị phúc thẩm, nhằm để kiểm sát việc Tòa án gửi các văn bản tố tụng có đúng thời hạn theo quy định của Luật TTHC hay không để làm cơ sở cho việc kiến nghị.
VKS cấp sơ thẩm chủ động kiểm sát các bản án, quyết định của Tòa án cùng cấp và sao gửi cho VKS cấp phúc thẩm cùng phối hợp kiểm sát, đảm bảo mọi bản án, quyết định của Tòa án đều được kiểm sát chặt chẽ. Đồng thời VKS cấp sơ thẩm cần gửi bản sao thông báo về việc kháng cáo cho VKS cấp phúc thẩm để VKS cấp phúc thẩm chủ động hơn trong việc kiểm sát việc thụ lý vụ án hành chính phúc thẩm của Tòa án cùng cấp.
Tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ cho VKS cấp sơ thẩm và tổng kết rút kinh nghiệm công tác xét xử các vụ án bị Tòa án cấp phúc thẩm sửa án, hủy án.
Hầu hết các quyết định hành chính của cơ quan quản lý Nhà nước là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính. Vì vậy đòi hỏi KSV làm công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính phải nghiên cứu, nắm bắt kịp thời các luật, nghị quyết, thông tư liên tịch và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan để làm tốt công tác tham mưu và công tác kiểm sát xét xử.
Những kinh nghiệm
Luật TTHC năm 2010 còn nhiều vướng mắc, bất cập và các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật về tố tụng hành chính chưa được cụ thể, rõ ràng. Để thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, VKSND tỉnh Kiên Giang có những kinh nghiệm sau:
Phải tạo mối quan hệ tốt với Tòa án, với các Thẩm phán
Giữa Chánh tòa hành chính, Chánh tòa kinh doanh thương mại, Chánh tòa lao động và Trưởng Phòng 10 nên có mối quan hệ mật thiết để tạo điều kiện cho KSV và Thẩm phán trao đổi về những thủ tố tụng và nội dung vụ án để cho Thẩm phán khắc phục ngay những vi phạm (nếu có) mà không cần phải kiến nghị. Mối quan hệ giữa Tòa án và VKS; giữa Thẩm phán và KSV phải dựa trên nguyên tắc bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Nhờ vậy mà trong công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính của VKSND tỉnh Kiên Giang được thuận lợi hơn. Chẳng hạn như: tuy luật không bắt buộc nhưng Thẩm phán vẫn gửi thông báo thụ lý vụ án hành chính phúc thẩm cho VKS; khi gửi các quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thì Thẩm phán photo tài liệu có liên quan kèm theo; ở một số trường hợp KSV tiếp cận hồ sơ vụ án được sớm hơn, thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án của KSV được bảo đảm hơn.
Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hành chính
Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hành chính, KSV cần cần chú ý các vấn đề sau:
- Về thủ tục tố tụng: Tập trung nghiên cứu thẩm quyền giải quyết của Tòa án; quyền khởi kiện và các điều kiện khởi kiện của đương sự; xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, nhất là đối với những người có quyền và nghĩa vụ liên quan để xem Tòa án đã đưa đầy đủ những người này vào tham gia tố tụng hay chưa.
Việc tiến hành thu thập chứng cứ của Tòa án có đầy đủ và hợp pháp không, nếu chưa đầy đủ hoặc những chứng cứ nào chưa hợp pháp thì cần trao đổi ngay với Thẩm phán trước khi có văn bản yêu cầu.
KSV phải kiểm tra quyết định đưa vụ án ra xét xử vì rất nhiều trường hợp do Tòa án bị động về Thẩm phán, về Hội thẩm nhân nhân nên thành phần Hội đồng xét xử có sự thay đổi, không đúng với thành phần đã ghi trong quyết định. Trường hợp này KSV nên nhắc nhở Thẩm phán đề nghị Chánh án ban hành quyết định thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân kịp thời để đưa vào hồ sơ vụ án. Kiểm tra quyết định đưa vụ án ra xét xử cũng là nhằm kiểm sát thời hạn chuẩn bị xét xử của Tòa án, nếu có vi phạm cần tổng hợp để kiến nghị chung.
- Về nội dung: KSV phải xác định được quan hệ pháp luật cần giải quyết thuộc lĩnh vực nào, thuộc ngành luật nào điều chỉnh để tra cứu, vận dụng chính xác. Ngoài việc nghiên cứu các luật và bộ luật, KSV còn phải nghiên cứu đến các nghị quyết của Quốc hội, của Hội đồng Thẩm phán; các nghị định của Chính phủ; các thông tư liên tịch và các kết luận của Chánh án TAND tối cao tại các hội nghị tổng kết của Tòa án, các công văn của hướng dẫn nghiệp vụ của ngành Tòa án...và hiệu lực thi hành của các văn bản này. Có rất nhiều trường hợp Thẩm phán áp dụng văn bản quy phạm pháp luật đã hết hiệu lực hoặc chưa có hiệu lực tại thời điểm phát sinh quan hệ pháp luật cần giải quyết.
Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, KSV cần trao đổi với lãnh đạo phòng để làm rõ những vấn đề còn vướng mắc, chưa rõ và các biện pháp xử lý. Trên cơ sở đó việc báo cáo xin đường lối giải quyết với lãnh đạo Viện sẽ nhanh chóng hơn.
Kỷ năng phát biểu tại phiên tòa hành chính sơ thẩm
Theo quy định tại khoản 1, Điều 160 Luật TTHC, tại phiên tòa sơ thẫm, KSV chỉ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng hành chính, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Để đánh giá tính có cơ sở của nội dung khởi kiện của người khởi kiện; tính hợp pháp hay không hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện mà không vi phạm đến phạm vi phát biểu ý kiến của VKS thì KSV cần lồng nội dung đánh giá này vào nội dung đánh giá việc thu thập chứng cứ của Tòa án. Việc “lồng ghép” này là hoàn toàn hợp lý vì chỉ trên cơ sở đánh giá chứng cứ mới đánh giá được nội dung khởi kiện của đương sự là có cơ sở hay không; mới đánh giá được quyết định hành chính, hành vi hành chính có hợp pháp hay không hợp pháp.
Tăng cường hơn nữa các phiên tòa rút kinh nghiệm để cho các KSV học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau và rèn luyện, nâng cao các kỷ năng cần thiết cho công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chinh, kinh doanh thương mại, lao động. Trong nhiều năm qua, thực hiện chủ trương của VKDND tối cao, lãnh đạo Viện đã chỉ đạo Phòng 10 và các VKS cấp huyện tổ chức nhiều phiên tòa rút kinh nghiệm án hành chính, kinh doanh thương mại (mỗi đơn vị từ 01 – 03 vụ/năm), ngay cả lãnh đạo phòng và lãnh đạo VKS cấp huyện cũng phải thực hiện chủ trương này. Từ đó cho thấy kỷ năng nghiệp vụ, trách nhiệm của các KSV được nâng lên rõ rệt.
Ngoài những kinh nghiệm nêu trên, để làm tốt công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính nói riêng thì hàng năm VKS địa phương cần bám sát các quy chế của ngành cũng như của đơn vị để rà soát các chỉ tiêu trong năm. Bên cạnh đó cũng cần chủ động phát hiện vi phạm của Tòa án cùng cấp thông qua nắm bắt các nguồn thông tin như: qua tiếp nhận giải quyết đơn khiếu nại, thông tin từ các cơ quan báo chí …. Đồng thời bộ phận kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính cần phối hợp chặt chẽ với bộ phận công tác kiểm sát thi hành án dân sự để kịp thời phát hiện những bản án, quyết định có vi phạm, không thi hành được (đối với những trường hợp Tòa án chậm gửi quyết định, bản án cho VKS) qua đó yêu cầu Tòa án chuyển hồ sơ để nghiên cứu và kháng nghị phúc thẩm hoặc báo cáo đề nghị VKS cấp trên kháng nghị giám đốc thẩm.
10. VKSND tỉnh Gia Lai
Khó khăn, vướng mắc trong công tác kiểm sát giải quyết vụ việc KDTM:
- Những vụ án mà người khởi kiện là Ngân hàng chính sách xã hội, trong một số trường hợp Viện kiểm sát xác định đây là tranh chấp dân sự (bởi lẽ Ngân hàng chính sách xã hội là đơn vị hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, theo quy định tại điều 3 Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg ngày 04/10/2002 của Thủ Tưởng Chính Phủ, về việc thành lập Ngân hàng chính sách xã hội thì:“Hoạt động của Ngân hàng chính sách xã hội không vì mục đích lợi nhuận, được nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán, tỉ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0%”, không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước”). Tuy nhiên, theo một số văn bản hướng dẫn của ngành cấp trên của Tòa án thì xác định là tranh chấp kinh doanh thương mại. Vấn đề này đến nay vẫn chưa có sự thống nhất giữa hai ngành.
- Mặt khác, việc xác định tranh chấp giữa án Kinh doanh thương mại và tranh chấp hợp đồng dân sự (có liên quan đến mua bán hàng hóa) còn chưa thống nhất. Ví dụ: Các tranh chấp dân sự thông thường trong lĩnh vực mua bán hàng hóa mà chủ thể giao dịch không có đăng ký kinh doanh, khi phát sinh tranh chấp thì Tòa án vẫn xác định là án Kinh doanh thương mại. Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật TTDS thì chỉ có chuyển giao công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ là không cần đăng ký kinh doanh, còn việc mua bán giữa các bên có mục đích để phát sinh lợi nhuận có trong rất nhiều các giao dịch dân sự. Do vậy, khi Viện kiểm sát Kiến nghị Tòa án về việc xác định việc thụ lý loại án là Kinh doanh thương mại hay án dân sự vẫn còn nhiều quan điểm tranh luận khác nhau.
Điển hình như tại địa bàn huyện Phú thiện (Gia Lai) có nhiều tranh chấp giữa Ngân hàng với người vay tiền, như: có trường hợp hợp đồng cho vay với mục đích mua bò để nuôi sinh sản thì Tòa án xác định là án Kinh doanh thương mại vì vay tuy không đăng ký kinh doanh nhưng có phát sinh lợi nhuận trong việc nuôi bò sinh sản. Nhưng với một hợp đồng tương tự, nhưng người vay với mục đích xây dựng (không rõ mục đích xây để kinh doanh hay không), thì Tòa án xác định là tranh chấp hợp đồng dân sự. Ở đây cho thấy còn có tranh cãi vì một bên tuy không phát sinh lợi nhuận và bên có phát sinh lợi nhuận đều là những cá nhân hoặc hộ gia đình không có đăng ký kinh doanh, mà chỉ có một mình Ngân hàng mới có đăng ký kinh doanh.
- Việc Ngân hàng chính sách xã hội khởi kiện một cá nhân hay tổ chức nào đó vi phạm hợp đồng vay tài sản thì Ngân hàng chính sách xã hội đứng ra khởi kiện có phải nộp tạm ứng án phí hay không? Hiện nay đây là vấn đề còn tranh cãi giữa Tòa án và Viện kiểm sát ở một số nơi, nhưng chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể của cấp trên (Viện kiểm sát đã có kiến nghị Tòa án vấn đề này, nhưng Tòa án chưa chấp nhận) vì chưa có hướng dẫn cấp trên. Có những quan điểm:
Thứ nhất: Ngân hàng chính sách xã hội thuộc hệ thống nhà nước mà khởi kiện thì không phải nộp tạm ứng án phí, vì việc khởi kiện này là bảo vệ lợi ích của nhà nước theo quy định tại khoản 2 – Điều 10 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án và tại Điều 3 của Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg ngày 04/10/2002 của Thủ tướng chính phủ.
Thứ hai: Ngân hàng chính sách xã hội phải nộp tạm ứng án phí vì theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, thì Ngân hàng chính sách xã hội không thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí, vì Ngân hàng chính sách xã hội là một tổ chức hoạt động có đăng ký kinh doanh và có tính lãi suất chứ không phải là không có lợi nhuận.
Đối với các khoản phải nộp cho ngân sách nhà nước thì được miễn. Tuy nhiên, tiền tạm ứng án phí thì chưa xác định được có phải là án phí để sung công hay không, vì nó mới là thủ tục tố tụng ban đầu.
- Về việc xác định thẩm quyền được quy định tại Điều 29 của BLTTDS thực tiễn áp dụng đã phát sinh một số vướng mắc, bất cập sau:
+ Điều 29 BLTTDS quy định quan hệ tranh chấp nào là tranh chấp kinh doanh thương mại. Theo đó, khi có một trong các loại tranh chấp quy định tại các khoản từ 1 đến 4 của Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự thì tranh chấp đó là tranh chấp kinh doanh thương mại. Trong đó, quy định tại khoản 4 Điều 29 là quy định mở nên có thể dẫn đến các trường hợp sau:
Một là, Tranh chấp giữa các bên có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận nhưng chưa được quy định tại khoản 1 Điều 29.
Hai là, tranh chấp giữa các bên mà cả hai cùng có mục đích lợi nhuận nhưng chỉ một bên có đăng ký kinh doanh hoặc cả hai đều không có đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, dù thuộc trường hợp một hay hai thì phải có văn bản chỉ rõ đó có phải là tranh chấp kinh doanh thương mại hay không.
Tuy nhiên, khi phân định thẩm quyền cho các Tòa chuyên trách thuộc TAND cấp tỉnh, điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 lại xác định, bên cạnh nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết các tranh chấp và các yêu cầu về kinh doanh, thương mại quy định tại Điều 29 và Điều 30 của BLTTDS, Tòa Kinh tế lại có thẩm quyền giải quyết “các tranh chấp về kinh doanh, thương mại mà một hoặc các bên không có đăng ký kinh doanh, nhưng đều có mục đích lợi nhuận”. Từ quy định này có thể hiểu, ngoài các tranh chấp quy định tại Điều 29 BLTTDS thì còn có các tranh chấp về kinh doanh thương mại mà một hoặc các bên không có đăng ký kinh doanh nhưng đều có mục đích lợi nhuận. Như vậy, hướng dẫn này đã vượt quá phạm vi quy định tại Điều 29 BLTTDS và không phù hợp.
- Tại khoản 1 và 3 Điều 179 BLTTDS quy định về thời hạn giải quyết vụ án.
Với quy định trên của BLTTDS thì thời hạn giải quyết vụ án kinh doanh thương mại quá ngắn. Nếu trong một vụ án kinh doanh thương mại đương sự không hợp tác, không có mặt để tham gia tố tụng khi được triệu tập. Ngoài lý do không nhận được văn bản triệu tập, có trường hợp đương sự không còn ở địa phương hoặc đương sự cố tình lẩn tránh không hợp tác; đương sự trình độ pháp luật hạn chế khi tham gia ký kết các hợp đồng nên khi xảy ra tranh chấp không tự cung cấp được chứng cứ, phải yêu cầu Tòa án thu thập từ các cơ quan, tổ chức khác. Tính phức tạp trong nội dung tranh chấp kinh doanh, thương mại cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc giải quyết án bị kéo dài, quá hạn luật định, gây không ít khó khăn cho Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án.
- Đối với việc áp dụng Luật Thương mại: trường hợp tại Điều 306 Luật thương mại quy định về quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán:“Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.
Như vậy, trong vụ án kinh doanh thương mại, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả lãi suất chậm trả theo mức lãi suất của vụ án dân sự (thấp hơn mức lãi suất kinh doanh thương mại). Vậy Toà án có cần thiết phải yêu cầu Ngân hàng cung cấp bảng lãi suất chậm trả do Ngân hàng nhà nước quy định nữa hay không? Nếu trong hồ sơ không có thủ tục này có xem là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng không?
Ngoài ra, việc xác định mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường cần phải căn cứ trên cơ sở nào? Có quan điểm cho rằng tính theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng nhà nước công bố tại thời điểm thanh toán. Nhưng có quan điểm cho rằng phải tính theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình của ba ngân hàng Vietcombank, Vietinbank, Agribank đang hoạt động trên địa bàn xảy ra tranh chấp.
- Đa phần những tranh chấp hợp đồng tín dụng, tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa là những tranh chấp phức tạp, vì vậy khi kiểm sát xét xử án kinh doanh thương mại, Bộ luật TTDS đã quy định rất chi tiết, đầy đủ các thủ tục về quá trình giải quyết các vụ việc dân sự, đây là cơ sở pháp lý thống nhất, buộc các đương sự những người tham gia và những người tiến hành tố tụng phải thực hiện theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, qua thực tiễn xét xử cho thấy một số điều luật chưa phù hợp hoặc chưa được quy định trong Bộ luật TTDS, do vậy khi giải quyết còn gặp nhiều lúng túng: Theo quy định của Bộ luật TTDS, Viện Kiểm sát không kiểm sát quá trình lập hồ sơ của Tòa án, việc phát hiện vi phạm của Tòa án trong quá trình kiểm sát bản án, quyết định bị hạn chế quá nhiều, nhất là các vi phạm về mặt thủ tục mà chỉ nghiên cứu hồ sơ mới có thể phát hiện được. Chính vì lý do này mà có một số trường hợp Tòa án cấp trên hủy án sơ thẩm mà Viện kiểm sát không phát hiện được trong quá trình kiểm sát bản án sơ thẩm, quyết định để kháng nghị theo thẩm quyền. Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2, điểm x, điều 58 Bộ luật TTDS thì nguyên đơn có quyền được đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án, nhưng điều luật lại không quy định về các căn cứ để nguyên đơn đề nghị Tòa án tạm đình chỉ vụ án như ở trường hợp Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ theo điều 189 Bộ luật TTDS. Quá trình kiểm sát quyết định tạm đình chỉ với lý do ghi trong quyết định tạm đình chỉ là “Theo đề nghị của nguyên đơn”, thì Viện kiểm sát không thể phát hiện được Tòa án quyết định đúng hay sai, do vậy cần bổ sung vào Bộ luật TTDS những yêu cầu cụ thể mà nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án tạm đình chỉ.
Tại Điều 5 Bộ luật TTDS thể hiện quyền tự định đoạt của đương sự, họ chỉ yêu cầu tòa án công nhận sự thỏa thuận thì lại yêu cầu VKS phải tham gia 100%. Ngược lại, các vụ án tranh chấp về kinh doanh thương mại và lao động mà các bên không thể tự nguyện thỏa thuận, hòa giải với nhau được, phải đưa ra xét xử thì Bộ luật TTDS lại không quy định VKS phải tham gia để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên đương sự (trừ khi đương sự có đơn khiếu nại).
Về việc Kiểm sát thông báo thụ lý vụ án kinh doanh thương mại:
Những kinh nghiệm, giải pháp nâng cao chấp lượng công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc kinh doanh thương mại
Ngành Trung ương cần quan tâm hơn nữa đối với công tác kiểm sát cácvụ việc kinh doanh thương mại. Bởi vì đây là lĩnh vực khó và phức tạp vì liên quan đến các tranh chấp kinh tế phức tạp có nhiều quy phạm pháp luật điều chỉnh và các quyền của các bên đương sự được pháp luật bảo hộ, do đó cần tăng cường sự chỉ đạo sâu sát mới có sự chuyển biến tích cực. Lãnh đạo đơn vị phụ trách phải nghe báo và duyệt từng nội dung vụ việc, từng kiến nghị, kháng nghị, việc duyệt án, duyệt văn bản để đảm bảo kiến nghị, kháng nghị được chuẩn xác.
Nắm vững pháp luật, đầu tư nghiên cứu các văn bản liên quan đến việc giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại, các tranh chấp kinh tế và tranh chấp dân sự…Phát hiện vi phạm kịp thời, đề xuất biện pháp giải quyết.Nghiên cứu báo cáo án chi tiết các nội dung từ thủ tố tụng cho đến nội dụng giải quyết vụ án. Tăng cường công tác đào tạo cán bộ giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại, thường xuyên tập huấn các kỹ năng về kiểm sát giải quyết án Kinh doanh thương mại.
Giải pháp hỗ trợ
Viện kiểm sát tối cao cần bổ sung thêm lực lượng cán bộ, Kiểm sát viên hoặc tách phòng để thực hiện tốt chức năng kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình và hành chính, kinh doanh thương mại để đạt hiệu quả công tác cao hơn.
Kết hợp cùng với Tòa án họp để đề ra hướng thống nhất giải quyết một số vụ, việc phức tạp tránh trường hợp ý kiến, quan điểm giải quyết khác nhau.
Bổ sung thêm trang thiết bị phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu và cập nhật kịp thời các quy định hiện hành: như các văn bản pháp luật mới có hiệu lực và máy ghi âm, ghi hình, máy Scan….
Kiến nghị
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
Để nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát trong việc kiểm sát giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại một trong những khâu then chốt là cơ quan có thẩm quyền cần hoàn thiện các thể chế pháp luật liên quan đến việc giải quyết các tranh chấp kinh tế, tranh chấp dân sự, ban hành các thông tư hướng dẫn Luật Thương mại, các văn bản liên quan về án kinh doanh thương mại nhằm cụ thể hơn quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia tố tụng và cơ quan, người tiến hành tố tụng, quy định rõ ràng, đầy đủ hơn về vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện tốt chức năng kiểm sát, góp phần tích cực nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án các cấp đối với loại án này.
Xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ đặc biệt là trong các lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính về thuế, tài nguyên môi trường và xác định rõ từng lĩnh vực tranh chấp, nhất là lĩnh vực kinh doanh thương mại có tính chấp phức tạp... Trước mắt cần khẩn trương sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật trong các lĩnh vực này theo hướng thống nhất giải quyết những vướng mắc trong quá trình áp dụng khi xét xử vụ án kinh doanh tương mại và dân sự; hệ thống các văn bản pháp luật theo chuyên ngành nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu, thực thi, áp dụng cho mọi công dân, tổ chức cũng như cơ quan hành chính nhà nước và cơ quan tiến hành tố tụng cũng như người tiến hành tố tụng.
Các vụ án kinh doanh, thương mại ngày càng tăng và tính chất vụ án ngày càng phức tạp, do đó ngoài việc mỗi cán bộ cần phải tự học trau dồi kiến thức thì việc đào tạo, đào tạo chuyên sâu cán bộ giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại là nhiệm vụ cấp bách và cần thiết; bên cạnh đó ngành cấp trên cần tổ chức nhiều hội nghị cũng như mở rộng đối tượng tập huấn; tổ chức hội thảo chuyên đề pháp luật hàng quý hoặc năm, qua đó rút kinh nghiệm thực tiễn để tổng kết lý luận đưa ra những kiến nghị sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh hoặc hướng dẫn áp dụng pháp luật đáp ứng yêu cầu giải quyết án.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm sát việc giải quvết vụ việc kinh doanh thương mại
Thứ nhất, tăng cường sự Lãnh đạo cảu Đảng, giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân và sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm sát việc giải quyết vụ việc kinh doanh thương mại.
Thứ hai, cần chú trọng công tác hòa giải và kiên trì hòa giải, nhưng phải đảm bảo thời hạn tố tụng luật định, việc thu thập, đánh giá chứng cứ phải tuân thủ đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự.
Thứ ba, những vụ việc có tính chất phức tạp, có nhiều quan điểm khác nhau hoặc pháp luật quy định, điều chỉnh chưa rõ ràng, chưa được hướng dẫn cụ thể... Tòa án cần chủ động trong việc xin ý kiến Ủy ban Thẩm phán hoặc các Tòa chuyên trách của Tòa án nhân dân cấp tỉnh cũng như chủ động phối hợp với Viện kiểm sát thông qua các cuộc họp liên ngành để thống nhất nhận thức trong áp dụng pháp luật để nhằm hạn chế việc giải quyết vụ án theo cảm tính, nhận định chủ quan của Thẩm phán dẫn đến bị hủy án, sửa án.
11. Thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn, số lượng tranh chấp kinh doanh thương mại mà TAND TP.HCM thụ lý giải quyết hàng năm chiếm tỷ lệ cao trong cả nước. Chỉ tính trong khoảng thời gian từ 01/01/2012 (thời điểm BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011 có hiệu lực) đến ngày 31/5/2015, Tòa án đã thụ lý là 13.484 vụ, việc, (sơ thẩm là 12.725, phúc thẩm là 759), đã giải quyết 11.867 vụ, việc (sơ thẩm: 11.197 (gồm xét xử: 2.225; hòa giải thành: 3.474; đình chỉ: 3.370; tạm đình chỉ: 2.128) và phúc thẩm 670 vụ (gồm xét xử: 537; đình chỉ: 69; phiên họp: 64). Trong đó, các tranh chấp hợp đồng tín dụng và mua bán hàng hóa chiếm tỷ lệ cao gần 60%, cụ thể: Tranh chấp hợp đồng tín dụng chiếm tỷ lệ 24,3% và hợp đồng mua bán hàng hóa chiếm tỷ lệ 34,62%; còn lại các tranh chấp hợp đồng dịch vụ, tranh chấp thành viên công ty, cá yêu cầu liên quan đến trọng tài thương mại trong và ngoài nước…
Các tranh chấp không những nhiều về số lượng mà còn đa dạng, phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực dẫn đến trong quá trình thực hiện công tác kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có những thuận lợi, khó khăn, vướng mắc cũng như những bài học kinh nghiệm, giải pháp và kiến nghị xin báo cáo với hội nghị như sau:
Những khó khăn, vướng mắc:
Về chuyển hồ sơ theo yêu cầu của VKS để xem xét Kháng nghị phúc thẩm
Công tác kiểm sát bản án, quyết định chủ yếu là phát hiện các vi phạm trong thủ tục tố tụng như xác định không đúng tư cách tham gia tố tụng của đương sự, giải quyết chưa hết yêu cầu của đương sự, vi phạm về án phí…, còn các vi phạm về nội dung giải quyết vụ án thường khó được phát hiện, hoặc có phát hiện nhưng chưa bảo đảm tính căn cứ để kháng nghị, cần phải có hồ sơ vụ án để nghiên cứu. Tuy nhiên, nhiều trường hợp VKS yêu cầu chuyển hồ sơ vụ án để xem xét kháng nghị phúc thẩm thì Tòa án bị yêu cầu cố tình không thực hiện hoặc dây dưa trì hoãn việc chuyển hồ sơ nhằm kéo dài đến hết thời hạn kháng nghị phúc thẩm của VKS (02 cấp), những vi phạm này hiện nay rất phổ biến nhưng chưa có bất cứ một chế tài, một quy định nào bắt buộc thi hành, dẫn đến tình trạng yêu cầu của VKS không được thực hiện một cách nghiêm túc và triệt để, đã ảnh hưởng lớn đến công tác kháng nghị phúc thẩm của VKS.
Thời hạn kháng nghị phúc thẩm
Theo quy định tại Khoản 2, Điều 252 Bộ luật TTDS thì thời hạn kháng nghị của VKS cùng cấp đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm là bảy ngày, của VKS cấp trên trực tiếp là mười ngày, kể từ ngày VKS cùng cấp nhận được quyết định. Trong thời hạn 07 ngày trên, VKS phải chuyển giao cho cán bộ nghiên cứu, đối chiếu quy định pháp luật, báo cáo Lãnh đạo đơn vị, nếu có vi phạm thì phải soạn thảo dự thảo quyết định kháng nghị trình Lãnh đạo phê duyệt. Như vậy, với thời gian 07 ngày thì không thể hoàn thành tốt các tất cả công việc trên, chưa kể trong nhiều trường hợp phải yêu cầu Tòa án chuyển hồ sơ để nghiên cứu thêm về các căn cứ kháng nghị.
Về tạm đình chỉ giải quyết vụ án
Theo quy định tại Khoản 2, Điều 194 BLTTDS thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, Tòa án phải gửi quyết định tạm đình chỉ cho VKS cùng cấp, vì vậy, VKS có thể biết được việc Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Tuy nhiên, không có quy định bắt buộc Tòa án phải thông báo cho VKS khi Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án khi lý do tạm đình chỉ không còn, điều này dẫn đến tình trạng VKS không thể nắm bắt được thời điểm bắt đầu tính lại thời hạn chuẩn bị xét xử nên không kiểm sát được các trường hợp Tòa án vi phạm thời hạn giải quyết vụ án.
Về thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài
Các trường hợp xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài rất phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật nhưng Khoản 2, Điều 368 BLTTDS quy định Tòa án phải chuyển hồ sơ cho VKS nghiên cứu trong thời hạn 10 ngày. Tuy nhiên, trong thời hạn 10 ngày có đến 02 ngày nghỉ nên VKS chỉ còn 08 ngày làm việc để nghiên cứu và báo cáo Lãnh đạo đường lối giải quyết với thời hạn quá ngắn, không đủ để VKS giải quyết yêu cầu của đương sự. Mặt khác, tại điểm b, Khoản 2, Điều 370 BLTTDS quy định: “Quyết định của Trọng tài nước ngoài cũng không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam, nếu Toà án Việt Nam xét thấy:… Việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”. Tuy nhiên, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
Về phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa sơ thẩm
Theo quy định tại Điều 234 BLTTDS thì tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên chỉ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng không phát biểu về đường lối quan điểm giải quyết vụ án. Dẫn đến tình trạng Kiểm sát viên tham gia phiên tòa sơ thẩm ít quan tâm đến nội dung vụ án, quan hệ tranh chấp nên việc tham gia phiên tòa còn mang tính hình thức, trách nhiệm chưa cao.
Về nội dung
Việc giải quyết vụ án KDTM rất phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật, các văn bản pháp luật trong một lĩnh vực có nhiều mâu thuẫn, nội dung không rõ ràng, dẫn đến việc hiểu và vận dụng pháp luật không đồng bộ, quan điểm về đường lối giải quyết vụ án giữa 02 ngành Tòa án và Viện kiểm sát còn chưa thống nhất, đơn cử một số trường hợp như sau:
Việc áp dụng mức lãi suất theo Điều 306 Luật Thương mại hay Điều 305 Bộ luật dân sự đối với tiền lãi trên số tiền chậm trả
Đối với những tranh chấp hợp đồng đặt cọc, ký quỹ hay tiền tạm ứng trước… không thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 306 Luật Thương mại (Điều 306 Luật Thương mại chỉ quy định đối với việc “thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác”) quan điểm của VKS TP. Hồ Chí Minh thì nên áp dụng mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước theo quy định tại Điều 305 Bộ luật dân sự để tính tiền lãi chậm thanh toán là phù hợp. Tuy nhiên, có quan điểm nhận định đây là vụ án KDTM nên áp dụng mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại. Mặt khác, chưa có văn bản hướng dẫn chính thức về việc áp dụng mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường của các ngân hàng nào cũng như hướng dẫn về thời điểm thanh toán.
Việc áp dụng mức lãi suất đối với tranh chấp hợp đồng ngoại thương
Theo thỏa thuận giữa hai bên là thanh toán theo tiền đô la Mỹ được quy đổi ra tiền VNĐ theo tỷ giá tại thời điểm thanh toán. Như vậy, đã bảo đảm về mặt giá trị việc thanh toán bằng đô la Mỹ đối với các khoản mà bị đơn chưa thanh toán, trong trường hợp này có quan điểm áp dụng mức lãi suất quá hạn đối với tiền đô la Mỹ để tính tiền lãi chậm thanh toán. Nhưng có quan điểm áp dụng mức lãi suất quá hạn đối với đồng Việt Nam, để tính tiền lãi chậm thanh toán, trong khi 02 mức lãi suất này có sự chênh lệch rất lớn (mức lãi suất quá hạn đối với đồng Việt Nam thường gấp 02 lần so với mức lãi suất quá hạn đối với tiền đô la Mỹ).
Ví dụ: Tại Bản án KDTM phúc thẩm số 1022/2013/KDTM-PT ngày 15/8/2013, Tòa án Nhân dân TP. HCM đã chấp nhận đề nghị của KSV sửa án sơ thẩm với nhận định: Theo thỏa thuận giữa hai bên là thanh toán theo tiền đô la Mỹ được quy đổi ra tiền VNĐ theo tỷ giá tại thời điểm thanh toán. Như vậy, đã bảo đảm về mặt giá trị việc thanh toán bằng đô la Mỹ đối với các khoản mà bị đơn chưa thanh toán. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng mức lãi suất quá hạn đối với lãi vay quá hạn đồng Việt Nam, để tính tiền lãi chậm thanh toán là chưa phù hợp.Vì vậy, cần phải áp dụng mức lãi suất quá hạn đối với tiền đô la Mỹ do Ngân hàng nhà nước công bố tại thời điểm mở phiên tòa sơ thẩm mới phù hợp quy định pháp luật.
Tuy nhiên, cũng với trường hợp tương tự, tại Bản án KDTM phúc thẩm số 1138/2015/KDTM-PT ngày 10/9/2015, Tòa án Nhân dân TP. HCM lại không chấp nhận đề nghị của KSV sửa án sơ thẩm theo hướng áp dụng mức lãi suất cho vay quá hạn đối với tiền đô la Mỹ mà áp dụng mức lãi suất quá hạn đối với lãi vay quá hạn đồng Việt Nam, để tính tiền lãi chậm thanh toán.
Những bài học kinh nghiệm, giải pháp và kiến nghị
Một số kinh nghiệm
- Trong điều kiện thiếu biên chế với số lượng án kiện lớn như hiện nay cần đánh giá, phân loại Thẩm phán xem Thẩm phán nào giỏi, cẩn thận, Thẩm phán nào yếu về nghiệp vụ, cẩu thả… để có phương thức kiểm sát phù hợp. Đối với những Thẩm phán giỏi, cẩn thận chúng ta dành thời gian nghiên cứu ít hơn, riêng đối với các Thẩm phán còn yếu về nghiệp vụ hoặc đối với Thẩm phán có tính cẩu thả, qua loa tắc trách thì cần dành thời gian thích hợp trong suốt quá trình kiểm sát giải quyết, từ khi thụ lý cho đến giai đoạn kiểm sát bản án, quyết định.
- Do luật định thời hạn kháng nghị quá ngắn cho nên trong quá trình kiểm sát việc giải quyết một vụ án cụ thể, Kiểm sát viên cần nghiên cứu ghi chép cẩn thận những vi phạm của Tòa án trong từng giai đoạn từ khi thụ lý đến khi xét xử xong. Sau khi xét xử, trong khi chờ nhận bản án, KSV phải tổng hợp phân tích rõ các vi phạm và căn cứ pháp luật để báo cáo đề xuất với lãnh đạo xem xét kháng nghị. Nếu Lãnh đạo đồng ý thì dự thảo kháng nghị trước, khi nhận được bản án thì KSV đối chiếu sửa chữa cho phù hợp để trình ký, ban hành kháng nghị đúng thời hạn.
- Kiểm sát viên được phân công tham gia phiên tòa sơ thẩm ngoài việc chú trọng kiểm sát về tố tụng còn phải quan tâm đến nội dung vụ án, nghiên cứu kỹ và sao chụp các tài liệu, chứng cứ có liên quan cũng như thực hiện tốt công tác kiểm sát việc tuyên án, kiểm tra biên bản phiên tòa, để kịp thời kháng nghị cả phần nội dung theo thẩm quyền hoặc báo cáo đề nghị kháng nghị.
- Khi phát hiện bản án, quyết định có vi phạm, cán bộ, Kiểm sát viên được phân công tùy theo từng trường hợp mà tiến hành các biện pháp nghiệp vụ cần thiết nếu có đủ căn cứ thì đề xuất kháng nghị, nều cần nghiên cứu hồ sơ thì yêu cầu Tòa án nhanh chóng chuyển hồ sơ. Nếu có biểu hiện trì hoãn việc không chuyển hồ sơ thì kiến nghị…
Những giải pháp
- Cần có kế hoạch tăng cường biên chế, bổ nhiệm Kiểm sát viên tương xứng với tính chất, mức độ công việc cụ thể của từng đơn vị. Trong đó, chú trọng tăng cường đội ngũ Kiểm sát viên có kinh nghiệm trong lĩnh vực này cùng với việc quan tâm bồi dưỡng, đào tạo những Kiểm sát viên trẻ tuổi có năng lực.
- Cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng tham mưu, xây dựng văn bản kiến nghị, kháng nghị cho đội ngũ Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, chuyên viên làm công tác kiểm sát giải quyết án KDTM.
- Cần khắc phục tình trạng một số cán bộ, KSV do năng lực hạn chế, một phần chưa làm hết trách nhiệm với công việc được giao, chưa chịu khó nghiên cứu học tập các văn bản pháp luật cũng như những kinh nghiệm đúc rút từ hoạt động thực tiễn, nên chất lượng công tác chưa cao. Do đó, cần phải có kế hoạch bồi dưỡng phù hợp.
- Viện kiểm sát cấp tỉnh (Phòng 10) tiếp tục tăng cường hướng dẫn nghiệp vụ, thông báo rút kinh nghiệm những vụ án do Viện kiểm sát kháng nghị có chất lượng tốt, được Toà án xử chấp nhận kháng nghị huỷ án, sửa án để các đơn vị cấp dưới cùng nghiên cứu, học tập, rút kinh nghiệm (nhất là những vụ án cấp sơ thẩm phát hiện và kháng nghị được phần vi phạm của Tòa về nội dung).
- Duy trì và tăng cường phối hợp, trao đổi giữa VKS cấp trên với VKS cấp dưới và trao đổi, tham khảo kinh nghiệm với các đơn vị đã làm tốt, có nhiều sáng kiến, kinh nghiệm hoặc cách làm đạt hiệu quả cao trong công tác kiểm sát bản án, quyết định, công tác thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị; qua đó, học tập, nhân rộng các điển hình làm tốt, hỗ trợ cho nhau để hoàn thành tốt công tác kiểm sát tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự gắn với mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên “Vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm”.
- Tiếp tục tăng cường kiểm sát bản án, quyết định của Toà án để phát hiện vi phạm, thực hiện kháng nghị phúc thẩm. Coi việc kiểm sát bản án, quyết định của Toà án là một trong những nhiệm vụ chính, quan trọng và thường xuyên của đơn vị; có sự hỗ trợ, bổ sung thông qua việc nghiên cứu hồ sơ khi Toà án chuyển cho Viện kiểm sát để tham gia phiên toà xét xử để kịp thời phát hiện vi phạm của Toà án, thực hiện kháng nghị phúc thẩm có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Cần xác định công tác kháng nghị phúc thẩm (thông qua kiểm sát bản án, quyết định) là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, gắn với chỉ tiêu thi đua hàng năm và là công tác mũi nhọn có tính chất đột phá khi thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự để bảo đảm thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 04/CT-VKSTC-VPT1 ngày 17/5/2012 của Viện trưởng VKSNDTC về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm dân sự, hành chính.
- Viện kiểm sát các cấp phải nhận thức đúng và đầy đủ về quyền yêu cầu, quyền kiến nghị, quyền kháng nghị là những quyền năng cơ bản và quan trọng nhất của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự để thường xuyên rèn luyện, tích luỹ kinh nghiệm, kỹ năng thực hiện các quyền năng này; bảo đảm có chất lượng, đúng pháp luật và đạt hiệu quả cao nhất. Viện KSND tối cao cần nghiên cứu bổ sung quy định chế tài để nâng cao tính chất pháp lý các yêu cầu, kiến nghị của VKS, đặc biệt là các yêu cầu chuyển hồ sơ, các kiến nghị về việc không gửi, gửi không đúng thời hạn các bản án, quyết định, tạo điều kiện để VKS nâng cao kết quả công tác trong quá trình thực hiện chức năng theo quy định của BLTTDS.
- Cán bộ, Kiểm sát viên được phân công làm khâu này cần nhận thức đúng, phát huy vị trí, vai trò, trách nhiệm khi tham gia phiên toà, khi kiểm sát bản án, quyết định giải quyết vụ, việc kinh doanh thương mại của Toà án, tránh hiện tượng chủ quan, coi nhẹ công tác này. Khi đề xuất, phát biểu, kiến nghị, kháng nghị phải trên cơ sở pháp lý vững chắc và xuất phát từ yêu cầu bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên đương sự, tránh tình trạng chủ quan, cảm tính. Phải nắm chắc các quy định của pháp luật về nội dung và tố tụng khi tham gia phiên tòa để góp phần tích cực giúp cho HĐXX ban hành bản án, quyết định thỏa đáng đúng pháp luật.
- Công tác kiểm sát tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự là một bộ phận quan trọng của kiểm sát hoạt động tư pháp tuy có những mặt thuận lợi nhưng cũng còn nhiều khó khăn và phức tạp như đã nêu trên. Do vậy, để bảo đảm thực hiện tốt công tác này, cần có sự đánh giá, nhìn nhận, quan tâm đúng mức và sự chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo VKS các cấp, nhất là sự quan tâm chỉ đạo kịp thời và thường xuyên của VKSND Tối cao.
Kiến nghị, đề xuất
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần tăng cường biên chế cho Viện kiểm sát địa phương và mở những lớp tập huấn ngắn ngày theo từng chuyên đề, vừa có tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn, phù hợp với từng đối tượng cũng như tổ chức các buổi tập huấn về các văn bản mới có liên quan. Đồng thời, Viện kiểm sát tối cao thường xuyên tổ chức sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm đối với VKS địa phương trong công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc KDTM về hoạt động kháng nghị, kiến nghị, thông báo bản án, quyết định bị cấp phúc thẩm hủy, sửa v.v…
- Kiến nghị VKSNDTC cho xuất bản thành tập san, chuyên đề hoặc đăng tải những kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm của VKSNDTC đã được Toà án có thẩm quyền chấp nhận kháng nghị huỷ án trên trang Web của Ngành hoặc trên Tạp chí kiểm sát để các Kiểm sát viên, công chức làm công tác kiểm sát giải quyết án KDTM, có điều kiện học tập, tích luỹ kinh nghiệm, nâng cao trình độ nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp.
- Cần sửa đổi pháp luật về tố tụng và luật nội dung phục vụ tốt nhất cho VKS thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị. Kịp thời hướng dẫn thống nhất giữa 2 ngành đối với một số quy định còn nhiều cách hiểu khác nhau.
12. VKSND thành phố Đà Nẵng
Vướng mắc trong việc thực hiện BLTTDS (sửa đổi):
- Theo Điều 179 BLTTDS: Đối với vụ án có tính chấp phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Toà án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử… nhưng chưa thấy có văn bản nào hướng dẫn về thời hạn gửi quyết định nên dẫn đến việc Toà án gửi chậm quyết định cho VKS và các đương sự.
- Theo Điều 191 BLTTDS, trường hợp Toà án tiếp tục giải quyết vụ án khi lý do tạm đình chỉ không còn nhưng không có quy định về việc phải thông báo cho VKS cùng cấp biết việc này dẫn đến Toà án không gửi hoặc gửi chậm thông báo cho VKS, VKS không có căn cứ để kiến nghị, kháng nghị.
- Khoản 2 Điều 188 BLTTDS quy định: “Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe doạ hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội”, quy định như vậy chưa đầy đủ, cần bổ sung quy định có thể kháng nghị theo thủ tục kháng nghị tái thẩm.
- Đối với những Kiến nghị do Viện kiểm sát ban hành để yêu cầu khắc phục vi phạm của Tòa án, chưa có chế tài ràng buộc cụ thể trách nhiệm của Tòa án, nên chưa nâng cao chất lượng trong công tác này.
- Khoản 1 Điều 187 BLTTDS quy định: "Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự". Điều luật quy định không rõ về giới hạn thời gian ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong vòng bao nhiêu ngày (sau 07 ngày là bao nhiêu ngày ?), thực tế có không ít trường hợp sau ra quyết định từ ngày thứ 10, 11... kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành.
- Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Tại điểm b khoản 1 Điều 179 BLTTDS quy định là 02 tháng, đối với những vụ án phức tạp hoặc có trở ngại khách quan thì có thể gia hạn, thời gian gia hạn tối đa là 01 tháng. Quy định trên chưa đảm bảo về mặt thời gian, trong khi số lượng án thụ lý ở Tòa án nhiều, dẫn đến khó khăn trong công tác giải quyết án.
- Trong trường hợp sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc tại phiên tòa sơ thẩm mà xuất hiện thêm người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thì xử lý như thế nào? Trong trường hợp này nếu hoãn phiên tòa thì không có căn cứ để hoãn theo quy định tại Điều 208 BLTTDS. Nếu đưa họ vào tham gia với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thì quyền và nghĩa vụ của họ đối với việc tham gia hòa giải, cung cấp lời trình bày, tài liệu chứng cứ được giải quyết như thế nào?. Đây vẫn còn là một vướng mắc cần được hướng dẫn cụ thể.
- Đối với những trường hợp phát hiện sai phạm vụ án bắt buộc có Viện kiểm sát tham gia, nhưng Tòa án không thông báo Viện kiểm sát tham gia, nếu sau đó Tòa án giải quyết đúng về nội dung thì có Kháng nghị yêu cầu hủy án do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng được không ?. Vấn đề này cũng còn có nhiều cách nhận thức khác nhau, cần được hướng dẫn thống nhất.
- Phát biểu của Kiểm sát viên (KSV) tại phiên tòa sơ thẩm chỉ phát biểu về kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng, chưa đáp ứng được sự mong mỏi quan tâm của nhân dân, nhất là các đương sự, nên hình ảnh, vai trò, vị trí của VKS tại các phiên tòa này chưa được nâng cao đúng tầm.
Những khó khăn, vướng mắc trong quản lý, chỉ đạo, điều hành công tác kiểm sát:
- Nhận thức pháp luật của cán bộ, KSV trong nhiều thường hợp còn hạn chế, chưa thống nhất, nên một số trường hợp còn chậm hoặc phát hiện những vi phạm của Tòa án để thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị.
- Lực lượng cán bộ, KSV làm công tác giải quyết vụ việc KDTM còn mỏng, nhất là ở cấp quận huyện trong khi số lượng án và việc ngày càng nhiều, nên cũng gặp không ít khó khăn trong công việc và chất lượng công việc.
Những kinh nghiệm:
- Đối với trường hợp Toà án ra quyết định công nhận thỏa thuận không đúng:
Đối với những vụ án mà tại biên bản hòa giải thành thể hiện các bên đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị của bị đơn nhưng không có thỏa thuận về phần án phí. Như vậy, trong trường hợp này, các đương sự đã không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, lẽ ra Tóa án phải đưa vụ án ra xét xử, nhưng Tòa án lại ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự là không đúng với quy định tại khoản 2 Điều 187 BLTTDS: “Thẩm phán chỉ ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án”.
- Việc xác định tài sản đảm bảo cho các hợp đồng tín dụng là tài sản chung của vợ chồng:
Quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi đăng ký quyền sử dụng phải ghi tên của vợ chồng, tuy nhiên trên thực tế cũng có nhiều trường hợp chỉ ghi tên một người. Do đó, đối với trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất được cấp cho cá nhân (trong Giấy chứng nhận chỉ ghi tên mỗi cá nhân) đã phát sinh nhiều cách hiểu khác nhau sau khi cá nhân đó đem thế chấp quyền sử dụng đất, thì có cơ quan công chứng yêu cầu cả hai vợ chồng cùng ký vào hợp đồng thế chấp, có cơ quan không yêu cầu. Và khi giải quyết tranh chấp thì có Tòa án chấp nhận xác định hợp đồng thế chấp là hợp pháp nhưng cũng có Tòa án tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu. Những trường hợp này khi giải quyết cần yêu cầu Toà án xác minh làm rõ tài sản bảo đảm là tài sản riêng hay tài sản chung để xác định hợp đồng thế chấp có hợp pháp hay không.
Đề xuất, kiến nghị:
- KSV cần phải thường xuyên cập nhật, nghiên cứu các tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ, quy chế công tác kiểm sát, các chuyên đề, thông báo rút kinh nghiệm và học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước để tích lũy kinh nghiệm trong công tác.
- Hàng năm tiến hành tổng kết rút kinh nghiệm và kịp thời hướng dẫn giải quyết các khó khăn, vướng mắc này sinh trong quá trình giải quyết án kinh doanh thương mại cho Viện kiểm sát các cấp.
- Đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần tăng cường hướng dẫn, chỉ đạo và thông báo những kinh nghiệm thực tiễn trong việc áp dụng pháp luật tố tụng dân sự để thực hiện công tác kiểm sát đạt hiệu quả, chất lượng.
- Thường xuyên cử KSV, cán bộ trẻ tham gia các lớp tập huấn bồi dưỡng kiến thức chuyên sâu về chuyên môn nghiệp vụ nhằm nâng cao chất lượng công tác nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ được giao.
- Tăng cường nguồn nhân lực về con người cũng như cơ sở vật chất nhằm đáp ứng yêu cầu của công việc ngày càng tăng và phức tạp. KSV, Chuyên viên làm công tác nghiệp vụ giải quyết các vụ việc Kinh doanh thương mại cần hạn chế luân chuyển nơi làm việc để tạo điều kiện cho việc tích luỹ kinh nghiệm chuyên môn. Đồng thời quan tâm hơn nữa chế độ, chính sách đối với KSV và Chuyên viên.
- Đề xuất cần có quy định về phát biểu của KSV tại phiên tòa sơ thẩm theo hướng KSV không chỉ phát biểu về kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng mà cần thiết phát biểu cả về phần nội dung giải quyết vụ án. Phán quyết của Toà án cần xem xét đầy đủ các ý kiến quan điểm của các đương sự, luật sư, Kiểm sát viên.
13. VKSND tỉnh Nam Định
Những khó khăn
- Lĩnh vực kinh doanh thương mại là lĩnh vực rộng được điều chỉnh bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật, liên quan nhiều chuyên ngành phát luật nên việc nghiên cứu chuyên sâu sẽ khá vất vả. Bên cạnh đó các văn bản pháp luật đã dàn trải ấy lại còn những quy phạm chồng chéo, mâu thuẫn dẫn đến việc giải quyết tranh chấp gặp khá nhiều khó khăn.
- Trong những năm gần đây các vụ việc kinh doanh thương mại phát sinh trong thực tế ngày càng nhiều trên địa bàn tỉnh Nam Định. Trong đó có vụ việc phức tạp hoặc mới xuất hiện lần đầu liên quan đến rất nhiều lĩnh vực chuyên ngành khác nhau và khá đa dạng như: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, thư tín dụng, hợp đồng xây dựng, hợp đồng bảo hiểm cháy, công nhận và cho thi hành các bản án, quyết định của Trọng tài nước ngoài … Việc đánh giá lỗi, vi phạm của các bên không phải đơn giản, đồng thời phải căn cứ rất nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành khác nhau và được bổ sung, sửa đổi qua các thời kỳ nên nảy sinh nhiều vấn đề khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc này.
- Cán bộ, KSV ở khâu công tác này hầu hết không được đào tạo chuyên sâu ở lĩnh vực kinh doanh thương mại.
Về vướng mắc
- Về xác định thời hiệu khởi kiện vụ án:
Thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp phát sinh từ quan hệ thương mại được xác định theo thứ tự: Luật chuyên ngành, Luật thương mại. Như vậy, trước hết phải xác định theo luật chuyên ngành của từng lĩnh vực, trường hợp không có luật chuyên ngành thì áp dụng thời hiệu theo quy định của Luật thương mại. Theo đó “Thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp thương mại là 02 năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Riêng những tranh chấp thương mại phát sinh từ dịch vụ Logictics thì thời hiệu khởi kiện là 09 tháng kể từ ngày giao hàng”. Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay cho thấy hầu như thời hiệu khởi kiện quy định trên không được áp dụng mà chủ yếu áp dụng thời hiệu khởi kiện quy định trong các luật chuyên ngành điều chỉnh hoạt động thương mại trong các lĩnh vực cụ thể, như trường hợp yêu cầu hủy Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông được xác định tại Điều 147 của Luật doanh nghiệp 2014; về Hợp đồng bảo hiểm thì tùy từng loại hợp đồng, thời hiệu được xác định theo Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật thương mại, Luật dân sự 2005 và một số trường hợp khác như trong lĩnh vực hoạt động hàng hải, về hợp đồng vận chuyển hàng không ...dẫn đến việc áp dụng pháp luật trong việc xác định thời hiệu giữa các Tòa án, giữa các Thẩm phán chưa mang tính thống nhất. Bên cạnh đó, có trường hợp Tòa án vận dụng phương pháp tính thời hiệu có lợi cho đương sự nếu theo quy định của luật chuyên ngành mà hết thời hiệu thì họ áp dụng thời hiệu quy định trong BLTTDS hoặc ngược lại dẫn đến việc áp dụng luật trong việc xác định thời hiệu chưa mang tính thống nhất cao.
- Về trường hợp VKSND phải tham gia phiên tòa:
+ Theo quy định tại Khoản 2 Điều 21 BLTTDS thì VKSND tham gia các phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, tuy nhiên ngay trong nội tại quy định của BLTTDS cũng có mâu thuẫn. Đó là tại Khoản 1 Điều 85 quy định: “Trong trường hợp xét thấy tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc dân sự chưa đủ cơ sở để giải quyết thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ”, nhưng tại Khoản 2 Điều 85 BLTTDS lại quy định: “Trong các trường hợp do Bộ luật này quy định, Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ: g) yêu cầu cá nhân, cơ quan tổ chức cung cấp tài liệu… " . Theo đó thực tế tại địa phương có những cách hiểu khác nhau về việc TAND có thu thập chứng cứ hay không, kéo theo là việc VKSND có tham gia phiên tòa hay không?
+ Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/8/2012 của liên ngành VKSND tối cao và TAND tối cao hướng dẫn tại Điều 7 về sự tham gia phiên tòa của VKSND, trong đó có quy định về đối tượng tranh chấp là tài sản công và người có nhược điểm về tâm thần. Vấn đề đặt ra là tranh chấp tài sản liên quan đến tài sản của doanh nghiệp nhà nước có coi là tài sản công hoặc trường hợp cá nhân có đăng ký kinh doanh có sổ khám, chữa bệnh ngoại trú thể hiện cá nhân bị bệnh tâm thần có phải là căn cứ xác định đó là người có nhược điểm về thể chất tinh thần để VKSND tham gia phiên toà hay không, hiện còn có cách hiểu và thực hiện khác nhau.
- Về nội dung phát biểu của KSV:
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 197 BLTTDS thì những vụ án có Kiểm sát viên tham gia phiên tòa thì Hội đồng xét xử nghe Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của VKS về việc giải quyết vụ án. Nhưng theo quy định tại Điều 234 thì Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa sơ thẩm chỉ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành của người tham gia tố tụng… Nội dung này đã được liên ngành chỉ đạo chung tại Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/8/2012 của liên ngành VKSND tối cao và TAND tối cao là KSV chỉ phát biểu về tố tụng, song cũng cần sửa đổi đồng bộ ở luật tố tụng tới đây.
- Quy định về sửa bản án:
Theo quy định tại Điều 240 BLTTDS thì khi phát hiện lỗi rõ ràng về chính tả, về số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai thì được sửa chữa, bổ sung bản án nhưng không quy định cụ thể là bao nhiêu ngày dẫn đến khó khăn cho việc thi hành bản án cũng như thực hiện chức năng, nhiệm vụ.
Một số kinh nghiệm và giải pháp
Nam Định, những năm qua, khâu công tác này đã đạt được một số kết quả đó là không có án bị cấp trên hủy án, VKSND tỉnh đã kháng nghị được cả ở trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm, được cấp có thẩm quyền chấp nhận. Tuy vậy, những năm qua số lượng án kinh doanh thương mại có tăng song cũng vẫn thuộc tốp tỉnh có án ít, kinh nghiệm trong việc giải quyết án này không nhiều nhưng có thể khái quát một số cách thức đơn vị đã làm để đạt được kết quả, đó là:
- Tranh thủ được sự lãnh đạo chỉ đạo của VKSND tối cao, sự lãnh đạo thường xuyên trực tiếp của lãnh đạo viện, lãnh đạo phòng 10; tăng cường phối kết hợp chặt chẽ với Tòa án cùng cấp.
- Tăng cường đoàn kết thống nhất, chú trọng đề cao trách nhiệm của cán bộ, KSV thực hiện tốt chức trách nhiệm vụ của mình ngay từ khi kiểm sát thụ lý vụ án, trong suốt quá trình giải quyết vụ án và kiểm sát án văn.
- Kịp thời phát hiện vi phạm, nhất là các vi phạm về tố tụng của Tòa án để kiến nghị khắc phục hoặc kháng nghị theo thẩm quyền.
- Đẩy mạnh việc tổ chức và thực hiện các phiên tòa rút kinh nghiệm để tăng cường sự học hỏi lẫn nhau nâng cao trình độ về mọi mặt.
- Chú trọng lãnh đạo cán bộ, KSV tăng cường nghiên cứu các luật chuyên ngành để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu công tác trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
Đề xuất, kiến nghị
- Đề nghị các ngành Trung ương quan tâm hệ thống hóa các văn bản trong lĩnh vực này, kịp thời loại bỏ những văn bản chồng chéo, không còn hiệu lực để thuận lợi trong việc nghiên cứu và thực hiện nhiệm vụ; đồng thời ban hành các văn bản khắc phục những khó khăn, vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực tiễn và chỉ đạo thực hiện thống nhất.
- Tiếp tục triển khai thực hiện phiên tòa rút kinh nghiệm và có chỉ đạo từ Trung ương để tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm của cả hai ngành.
- Thường xuyên tổ chức hội nghị tập huấn về các luật chuyên ngành thuộc lĩnh vực công tác và các kỹ năng của KSV trong thực hiện nhiệm vụ.
14. VKSND tỉnh Vĩnh Long
Những khó khăn,vướng mắc:
Xác định án kinh doanh thương mại hay dân sự:
Chủ thể trong tranh chấp KDTM: Khoản 1 Điều 29 Bộ luật TTDS qui định: Tòa án có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận…và Khoản 1 Điều 6 Nghị quyết 03/2012/ NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao cũng hướng dẫn thế nào là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh…
Theo câu chữ của điều luật này thì được hiểu điều kiện về chủ thể trong tranh chấp KDTM là các bên phải có đăng ký kinh doanh và cùng mục đích lợi nhuận.Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại Điểm b Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn: Tòa kinh tế có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết các tranh chấp và các yêu cầu về KDTM qui định tại Điều 29 và Điều 30 của BLTTDS; các tranh chấp về kinh doanh, thương mại mà một hoặc các bên không có đăng ký kinh doanh nhưng cùng có mục đích lợi nhuận.
Với hướng dẫn của Điểm b Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP cùng với tài liệu tập huấn cho cán bộ ngành Tòa án đều xác định vụ án KDTM chỉ cần điều kiện các bên đều có mục đích lợi nhuận mà không cần điều kiện chủ thể phải có đăng ký kinh doanh.
*Về xác định mục đích lợi nhuận?
Khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 03/2012 của HĐTP TATC đã hướng dẫn: Mục đích lợi nhuận của cá nhân, tổ chức trong hoạt động kinh doanh, thương mại là mong muốn của cá nhân, tổ chức đó thu được lợi nhuận mà không phân biệt có thu được hay không thu được lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, thương mại đó.
Khoản 3 Điều 6 Nghị quyết 03/2012 của HĐTP TATC xác định: Hoạt động kinh doanh, thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại. Hoạt động kinh doanh, thương mại không chỉ là hoạt động trực tiếp theo đăng ký kinh doanh ,thương mại mà còn bao gồm cả hoạt động khác phục vụ thúc đẩy, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, thương mại.
Việc xác định thế nào là có mục đích lợi nhuận cũng đang có ý kiến trái ngược nhau. Đối với hoạt động cho vay của Ngân hàng Chính sách và Ngân hàng Phát triển Việt Nam là thực hiện hỗ trợ vốn, cho vay đối với các đối tượng chính sach theo kế hoạch, dự án của Chính phủ. Hoạt động của hai Ngân hàng này đều được xác định trong quyết định thành lập là không vì mục tiêu lợi nhuận. Vấn đề này cũng có ý kiến khác nhau như sau:
- Ý kiến thứ nhất cho rằng: Các Ngân hàng này cho các đối tượng chính sách vay có lãi suất. Người vay là những người nghèo, cân nghèo sử dụng vốn vay để cải thiện đời sống( bán vé số, chăn nuôi, cải tạo vườn…) cũng là những hoạt động sản xuất, kinh doanh và có mục đích lợi nhuận. Căn cứ vào hướng dẫn của ngành Tòa án xác định chủ thể không cần có đăng ký kinh doanh và các bên đều có mục đích lợi nhuận nên những vụ kiện của Ngân hàng chính sách đối với những hộ vay vốn xóa đói giảm nghèo, chăn nuôi đều được Tòa án thụ lý theo vụ án KDTM. Hậu quả của nhận thức này là gây thiệt hại cho bị đơn về án phí. Ví dụ: giá trị tranh chấp 4 triệu đồng nhưng nếu thụ lý án KDTM thì án phí phải chịu là 2 triệu đồng. Nếu thụ lý vụ án dân sự thì án phí chỉ là 250 ngàn đồng.
- Ý kiến thứ hai: Xác định những tranh chấp này là dân sự vì một bên không có đăng ký kinh doanh, và mục tiêu của Ngân hàng được xác định là không vì mục tiêu lợi nhuận. Lãi suất cho vay chỉ là hoạt động bảo toàn vốn của Ngân hàng mà thôi.
Về thỏa thuận lãi suất trong Hợp đồng tín dụng:
Căn cứ Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 có hiệu lực 01/01/2011 quy định về quyền thỏa thuận về lãi suất theo quyết định của pháp luật. Căn cứ Điều 11 quy chế cho vay..theo Quyết định 1627/2011/QĐ-NHNN ngày 31/12/2011 của Thống đốc ngân hàng nhà nước thì mức lãi suất cho vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận phù hợp với quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Mức lãi suất áp dụng đối với các khoản nợ gốc quá hạn do tổ chức tín dụng ấn định và thỏa thuận với khách hàng trong hợp đồng tín dụng nhưng không vượt quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong hợp đồng tín dụng.
Ngày 16/5/2008 Ngân hàng nhà nước ban hành Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN về việc điều chỉnh lãi suất. Theo đó lãi suất cho vay không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố. Tuy nhiên từ đầu năm 2011 đến nay, thực hiện Luật Ngân hàng nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, các Ngân hàng thương mại tự ấn định lãi suất cho vay cao hơn rất nhiều so với quy định Khoản 1 Điều 476 BLDS.Trong năm 2011,lãi suất cho vay là 24%/năm, lãi suất quá hạn: 36%/năm, lãi suất phạt chậm trả lãi 36%. Trong quá trình giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng, KSV và Thẩm phán rất lúng túng.Vì vậy, một số vụ án KDTM không cùng quan điểm giải quyết giữa hai ngành.
Ngoài ra trong HĐTD có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay, nhưng còn bất hợp lý là Ngân hàng phân nhóm khách hàng để áp dụng mức lãi suất không thống nhất, trong đó khách hàng vi phạm hợp đồng thường xếp vào nhóm có mức lãi cao hơn so với mặt bằng chung, gây bất lợi cho khách hàng đang lâm vào tình trạng khó khăn lại càng khó khăn hơn và thực chất thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất không có tính bình đẳng giữa Ngân hàng và khách hàng.
Về thỏa thuận phạt chậm trả lãi trong hợp đồng tín dụng:
Trong hợp đồng tín dụng được Ngân hàng và khách hàng vay thỏa thuận. Bên cạnh những nội dung về điều kiện vay, số tiền vay, lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn… còn có thỏa thuận chịu thêm khoản lãi phạt trên số tiền lãi chậm trả với mức lãi 0,1%/ngày. Vấn đề này có hai ý kiến.
Ý kiến thứ nhất cho rằng việc thỏa thuận phạt lãi là không phù hợp với qui định của Luật các tổ chức tín dụng nên không chấp nhận.
Ý kiến thứ hai cho rằng thỏa thuận của hai bên là tự nguyện, phù hợp với qui định của BLDS, nếu có vi phạm Ngân hàng khởi kiện thì phải chấp nhận, nếu có tranh chấp về mức lãi thì áp dụng Khoản 2 Điều 305 BLDS để giải quyết.
Về việc xác định hợp đồng thế chấp tài sản vô hiệu toàn bộ hay một phần.
Theo qui định Điều 135 BLDS: Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần khi một phần của giao dịch vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến phần còn lại của giao dịch.
Áp dụng qui định này, các vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng có xử lý tài sản thế chấp QSD đất của hộ gia đình, nhưng khi ký hợp đồng không có sự tham gia của các thành viên từ đủ 15 tuổi trở lên thì có Thẩm phán xác định vô hiệu một phần của những người này. Tuy nhiên có Thẩm phán lại vô hiệu toàn bộ, làm cho HĐTD của Ngân hàng rơi vào tình trạng vay không có bảo đảm, gây bất lợi cho Ngân hàng.
Tỉnh Vĩnh Long hiện nay đang vướng mắc vấn đề này, rất mong Hội nghị có ý kiến tháo gỡ.
Xác định tư cách tham gia tố tụng; quyền và nghĩa vụ của các thành viên hộ gia đình.
Việc xác định tư cách chủ hộ và thành viên hộ gia đình trong vụ tranh chấp hợp đồng tín dụng có thế chấp, bảo lãnh quyền sử dụng đất của hộ. Vấn đề này có hai ý kiến:
Ý kiến thứ nhất: Chỉ cần đưa chủ hộ vào tham gia tố tụng vì theo qui định Điều 107 BLDS năm 2005 qui định: Đại diện hộ gia đình là chủ hộ; giao dịch dân sự do người đại diện hộ gia đình xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả hộ gia đình”
Ý kiến thứ hai: Phải đưa tất cả những người trong hộ có đủ năng lực hành vi dân sự tham gia tố tụng. Bởi vì căn cứ Khoản 2 Điều 146 Nghị định 181/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ thì hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng QSD đất của chung hộ gia đình phải được tất cả thành viên có đủ năng lực hành vi dân sự trong hộ thống nhất ký tên hoặc có văn bản ủy quyền theo qui định của pháp luật về dân sự.
Về áp dụng Điều 306 Luật thương mại:
Khi giải quyết các tranh chấp thương mại theo Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại thì Tòa án áp dụng Điều 306 Luật thương mại để tính lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán. Tuy nhiên hiện nay chưa có văn bản nào của cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn như thế nào là lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường. Việc này dễ dẫn đến việc áp dụng pháp luật thiếu thống nhất.
Khi giải quyết án KDTM có vi phạm nghĩa vụ thanh toán,Tòa án đã tính lãi trên số nợ gốc đến thời điểm xét xử sơ thẩm theo Điều 306 Luật thương mại để buộc bị đơn trả cho nguyên đơn. Ngoài ra, nguyên đơn không có yêu cầu tiếp tục tính lãi trong giai đoạn thi hành án và Tòa cũng không hỏi xét xử nội dung này tại phiên tòa nhưng Tòa án vẫn tuyên trong bản án: Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người bị thi hành án chưa trả hết số tiền cho người được thi hành án thì hàng tháng người bị thi hành án còn phải chịu thêm phần lãi suất chậm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, theo qui định Điều 306 Luật thương mại.
Với cách tuyên án này, người bị thi hành phải chịu thêm lãi chậm thi hành án đối với số lãi đã được tính trong vụ án. Lẽ ra phải tuyên … chịu lãi chậm thi hành án trên số nợ gốc mới đúng. Vấn đề này còn chưa thống nhất trong nhận thức của KSV và Thẩm phán. Đề nghị Hội nghị cho ý kiến.
Một số vấn đề khác về tố tụng dân sự:
Quyết định tạm đình chỉ:
- Luật tố tụng không qui định thủ tục phục hồi đối với các vụ tạm đình chỉ nên khi hết lý do tạm đình chỉ, Tòa án có kịp thời tiếp tục giải quyết vụ án hay không thì VKS cũng không thể biết. Thực tế có một số vụ án được Tòa án TĐC giải quyết án để chạy thành tích nên không gởi quyết định cho VKS cũng như đương sự, khi tòa chuyển hồ sơ cho VKS để tham gia xét xử thì VKS mới biết vụ án có TĐC và quyết định TĐC không có căn cứ hoặc có vi phạm…nhưng không thể kháng nghị.
- Thời hạn kháng nghị đối với quyết định ĐC, TĐC chỉ 7 ngày đối với VKS cùng cấp và 10 ngày đối với VKS cấp trên, nếu trừ 2 ngày nghỉ thì chỉ còn 5 ngày và 8 ngày làm việc. Trong khi đó, muốn kháng nghị cần phải nghiên cứu hồ sơ vụ án nhưng thời gian mượn hồ sơ cũng như nghiên cứu, ban hành kháng nghị rất hạn hẹp, vì vậy việc kháng nghị đối với quyết định ĐC, TĐC cũng bị hạn chế nên chỉ thực hiện kiến nghị.
- Hình thức và nội dung của quyết định ĐC, TĐC chưa được qui định cụ thể trong luật như đối với bản án hoặc quyết định đưa vụ án ra xét xử mà chỉ được qui định trong hướng dẫn sử dụng biểu mẫu của Nghị quyết HĐTP TATC nên Thẩm phán trực tiếp giải quyết án dễ bị quên không thực hiện đầy đủ việc viện dẫn điều luật theo hướng dẫn.
- Thủ tục thụ lý đối với các vụ bị GĐT hủy án, giao về cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết lại. Tại Điều 171 BLTTDS chỉ qui định thủ tục thụ lý vụ án đối với những trường hợp theo đơn khởi kiện của đ/s, không có điều luật hoặc hướng dẫn nào qui định thủ tục thụ lý đối với trường hợp án sơ thẩm bị hủy, giao về thụ lý giải quyết lại. Do đó, không có căn cứ để xác định việc Tòa thụ lý có kịp thời hay không, có trường hợp án phí đã được Cơ quan Thi hành án trả lại cho nguyên đơn, nhưng khi thụ lý lại, Tòa án chỉ căn cứ vào quyết định GĐT để thụ lý lại vụ án mà không làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí.
Kiến nghị, đề xuất:
VKSTC và TATC cần sớm có hướng dẫn những vướng mắc xung quanh các qui định về hợp đồng tín dụng như đã nêu trên. Trước mắt, các trường hợp Ngân hàng khởi kiện mà đ/s không có tranh chấp về lãi suất thì giải quyết theo hợp đồng đã thỏa thuận. Những trường hợp có tranh chấp về lãi thì áp dụng BLDS để giải quyết. Riêng về yêu cầu đòi tiền phạt do chậm trả lãi cần tách ra, chờ hướng dẫn.
Vụ 10 cần tiếp tục tổ chức tập huấn chuyên đề có sự hướng dẫn của các chuyên gia chuyên ngành thường có liên quan đến các vụ án ở địa phương như Tài chính- Ngân hàng,Thuế, Đất đai, Bảo hiểm… Đồng thời cần có qui chế phối hợp với các ngành này để tư vấn giúp cho cơ quan tư pháp hiểu biết về chuyên môn. Qua đó có hướng xử lý nhanh và đúng đắn hơn trong quá trình giải quyết vụ án.
Do tính chất của công tác kiểm sát giải quyết án HC-KDTM-LĐ rất nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước, và rất phức tạp. Vì vậy Lãnh đạo Viện cần xem xét phân bổ kinh phí sử dụng phần mềm thư viện pháp luật để thường xuyên cập nhật văn bản, thông tin, phục vụ kịp thời cho việc nghiên cứu. Đồng thời, trang bị cho KSV máy ghi âm như trong hoạt động công tố, khiếu tố nhằm hỗ trợ cho công tác kiểm sát xét xử.
5. VKSND tỉnh Long An
Khó khăn, vướng mắcbất cập trong quá trình xét xử án lao động:
Để đảm bảo quyền và lợi ích cơ bản của người lao động, đồng thời để giải quyết những bất cập trong việc giải quyết các tranh chấp lao động hiện nay.
Tranh chấp về lao động có những đặc thù riêng so với tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại. Mặc dù có một số bất cập, hạn chế nhưng việc áp dụng BLTTDS để giải quyết các tranh chấp lao động cơ bản vẫn phù hợp, bởi lẽ các tranh chấp trong lĩnh vực này có cùng bản chất pháp lý, đều là những tranh chấp về tài sản hoặc nhân thân phi tài sản giữa các chủ thể bình đẳng về địa vị pháp lý. Bên cạnh đó, những tranh chấp này phát sinh từ quan hệ có đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh và chủ thể tương đối giống nhau. Do đó, cần nghiên cứu những nội dung đặc thù cho trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động, như việc cung cấp tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện trong vụ án lao động mà người khởi kiện là người lao động, để không mất quá nhiều thời gian cho việc lập hồ sơ ủy thác cũng như nhận ủy thác của các đương sự…
Giải pháp
- Phải nhận thức đầy đủ về quyền của Viện Kiểm sát nhân dân trong Tố tụng dân sự: Có quan điểm cho rằng Viện Kiểm sát không cần thiết phải kháng nghị phúc thẩm, để đương sự thực hiện quyền kháng cáo vì họ có quyền tự định đoạt lợi ích hợp pháp của mình khi có một bản án, quyết định tuyên không phù hợp pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của họ. Nếu hiểu theo quan điểm này thì chính Viện kiểm sát đã không thực hiện đầy đủ chức năng kiểm sát. Do đó phải hiểu tính độc lập về quyền kháng nghị của Viện kiểm sát và quyền kháng cáo của đương sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự. Viện Kiểm sát kháng nghị là bảo vệ tính đúng đắn của pháp luật, quyền, lợi ích chính đáng của đương sự, mang tính khách quan của cơ quan bảo vệ pháp luật, còn kháng cáo là vì lợi ích của người kháng cáo.
Quá trình kiểm sát, Viện kiểm sát thấy cần kháng nghị, nhưng đương sự được bảo vệ trong kháng nghị không kháng cáo và không yêu cầu bảo vệ hoặc có trường hợp đương sự được kháng nghị bảo vệ không đến tham gia phiên tòa thì việc bảo vệ kháng nghị hay rút quyết định kháng nghị khi Viện kiểm sát xét thấy cần thiết.
- Tăng cường quan hệ phối hợp giữa Viện Kiểm sát với Tòa án nhân dân và các cơ quan hữu quan khác thì những thiếu sót về thu thập chứng cứ, những tài liệu thu thập chưa phù hợp pháp luật, tống đạt các văn bản tố tụng chưa đầy đủ sẽ được khắc phục có hiệu quả hơn.
- Thường xuyên nâng cao trình độ nghiệp vụ cho kiểm sát viên thông qua trao đổi học tập và rút kinh nghiệm từ các thông báo của cấp trên.
Kiến nghị:
- Ngành Kiểm sát cần phải tiếp tục thực hiện việc rà soát, đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên thực hiện công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, hành chính để tăng cường nguồn lực về con người cũng như cơ sở vật chất cho khâu công tác;
- Số lượng các vụ án thụ lý ngày càng tăng, số vụ án kiểm sát viên phải tham gia phiên tòa cũng tăng theo. Trong khi đó, để xét xử một vụ án dân sự thường mất rất nhiều thời gian (hoãn nhiều lần, thời gian giải quyết kéo dài) nên cần quan tâm đến công việc kiểm sát viên chuyên khâu, tránh kiêm nhiệm nhiều.
- Hướng dẫn thống nhất về việc áp dụng pháp luật, tránh tình trạng nhận thức thiếu thống nhất hoặc có quan điểm khác nhau về đường lối giải quyết.
- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao cần tăng cường thông báo rút kinh nghiệm cho các Viện Kiểm sát địa phương. Đồng thời có thể tạo đường dây nóng cho các Viện Kiểm sát địa phương trao đổi, thỉnh thị kịp thời về quan điểm giải quyết án khi có vướng mắc.
Đề xuất:
- Mở các lớp tập huấn chuyên sâu kỹ năng đối với công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, kinh doanh thương mại, lao động.
- Đẩy mạnh hơn nữa sự phối hợp giữa cấp dưới với cấp trên và nhất là sự phối hợp giữa Viện Kiểm sát với Tòa án để việc thực hiện những quy định của Luật TTHC, BLTTDS, Bộ Luật Lao động được nghiêm chỉnh, thống nhất.
16. VKSND thành phố Hải Phòng
Những khó khăn, vướng mắc trong công tác kiểm sát giải quyết án lao động
Thực tế cho thấy, so với các loại án khác thì án lao động không nhiều nhưng có tính chất phức tạp vì liên quan đến quyền lợi của người lao động, thậm chí là tập thể người lao động và người sử dụng lao động. Bên cạnh đó, hiện nay còn nhiều vướng mắc khi giải quyết án lao động do quy định chưa cụ thể hoặc thiếu hướng dẫn. Cụ thể như sau:
Về xác định thẩm quyền của Tòa án
- Tại Điều 35, 36 BLTTDS quy định về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ và theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu. Vậy hiểu như thế nào là đúng về nơi cư trú cuối cùng của bị đơn? Trong BLTTDS không giải thích như thế nào là nơi cư trú cuối cùng nên đã gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án. Ngoài ra, theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 35 BLTTDS quy định về thẩm quyền theo lãnh thổ như sau: Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết… Trong trường hợp bị đơn là chủ doanh nghiệp tư nhân thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nơi chủ doanh nghiệp tư nhân cư trú hay nơi có trụ sở doanh nghiệp tư nhân đăng ký hoạt động kinh doanh?
Vướng mắc về xác định tư cách đương sự
Trong thời gian qua có nhiều doanh nghiệp thực hiện việc sắp xếp lại sản xuất, chuyển đổi mô hình tổ chức, cho người lao động nghỉ việc và giải quyết chế độ nghỉ việc. Sau khi nghỉ việc, người lao động làm các thủ tục hưởng bảo hiểm xã hội và được cơ quan bảo hiểm xã hội giải quyết. Sau khi có quyết định giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội, người lao động khởi kiện đòi đơn vị sử dụng lao động thanh toán các chế độ trợ cấp thôi việc, tính lại tiền lương hưu và thanh toán tiền trợ cấp một lần khi nghỉ hưu.
Với những nội dung tranh chấp nêu trên và căn cứ vào các quy định của Bộ luật lao động, Luật bảo hiểm xã hội thì việc giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động, còn việc tính tiền lương hưu, thanh toán tiền trợ cấp một lần khi nghỉ hưu, là thuộc trách nhiệm của cơ quan bảo hiểm xã hội. Vậy trong trường hợp này, người lao động phải khởi kiện đối với đối tượng nào? người sử dụng lao động, nơ quan bảo hiểm xã hội hay cả hai? Nếu người lao động chỉ kiện người sử dụng lao động, tòa án không đưa cơ quan bảo hiểm xã hội vào tham gia tố tụng hoặc đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì có bị coi là đưa thiếu người tham gia tố tụng hay không?
Về thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Theo Điều 202 BLLĐ 2012:
1. Thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân là 06 tháng, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.
2. Thời hiệu yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.
Thông thường các Tòa án thường lấy ngày người lao động nhận được quyết định (như quyết định chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định đình chỉ công tác… ) làm mốc để tính thời hiệu khởi kiện nhưng có trường hợp ngày người lao động nhận được quyết định không đồng thời là ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.
Quy định như vậy là không rõ ràng vì ở đây thời điểm các bên “cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại” rất có thể sẽ khác nhau, thậm chí từng thời điểm đương sự cũng hiểu khác nhau thậm chí hiều không đúng gây khó khăn cho công tác giải quyết án của người làm luật.
Ví dụ một trường hợp khác, người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật nhưng sau đó đã có quyết định khác gọi người lao động trở lại làm việc nhưng người lao động không trở lại. Có quan điểm cho rằng quyết định chấm dứt hợp đồng lao động đã không còn hiệu lực (do người sử dụng lao động đã mời người lao động trở lại làm việc) thì không còn căn cứ để khởi kiện ra tòa án mà việc chấm dứt hợp đồng lao động bây giờ là do lỗi của người lao động tự nghỉ việc. Vậy thời hiệu của vụ án này được tính từ khi nào? Điều này cần có hướng dẫn cụ thể của cơ quan có thẩm quyền.
Về thủ tục hòa giải tiền tố tụng
BLTTDS quy định các trường hợp tranh chấp lao động cá nhân được khởi kiện tại tòa án là:
- Thuộc trường hợp không phải thông qua hoà giải viên;
- Hoà giải không thành;
- Một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành;
- Quá thời hạn do pháp luật quy định (5 ngày làm việc từ ngày nộp yêu cầu hoà giải) mà không tiến hành hoà giải.
Đối với các trường hợp phải thông qua hòa giải cơ sở, pháp luật hiện hành chưa có hướng dẫn cụ thể về thủ tục hòa giải, bằng chứng của việc đã tiến hành hòa giải, dẫn đến việc Tòa án không thống nhất trong việc căn cứ vào đâu để xác định đã qua thủ tục hòa giải hoặc hết thời hạn tiến hành hòa giải mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải. Ví dụ, người lao động nộp cho Tòa án chứng nhận của bưu điện đã gửi yêu cầu hòa giải theo đường bưu điện đã đủ căn cứ chưa? Hoặc người lao động nộp biên bản hòa giải nhưng xác định như thế nào là biên bản hòa giải hợp lệ để quyết định thụ lý hay không thụ lý vụ án?
Về giải quyết yêu cầu hủy quyết định cá biệt của đương sự:
Một số vụ án người lao động khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy hoặc tuyên quyết định đình chỉ, quyết định chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động là trái pháp luật. Vậy Tòa án có thẩm quyền này không? Nếu căn cứ Điều 32a BLTTDS thì cũng không đúng vì quyết định chấm dứt hợp đồng lao động không thuộc đối tượng cá biệt được hướng dẫn tại Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2014/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/1/2014 hướng dẫn thi hành Điều 32a của BLTTDS sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của bộ luật tố tụng dân sự. Theo Thông tư này, một trong những điều kiện để xác định quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật có thể bị Tòa án xem xét đó là “quyết định hành chính được quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật Tố tụng hành chính và hướng dẫn tại điểm a và b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29 tháng 7 năm 2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Tố tụng hành chính.” Tòa án cũng không có thẩm quyền tuyên quyết định nội bộ của cơ quan, tổ chức là trái pháp luật. Do đó, đề nghị VKSND tối cao có hướng dẫn về nội dung này.
Về vấn đề tính thuế thu nhập cá nhân (TNCN) trong các khoản bồi thường mà người lao động được hưởng do bản án, quyết định của Tòa án
Theo Điểm n Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế TNCN (áp dụng từ 01/10/2013) quy định về các khoản thu nhập được miễn thuế:“n)Thu nhập từ bồi thường hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe; tiền bồi thường tai nạn lao động; tiền bồi thường, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; các khoản bồi thường Nhà nước và các khoản bồi thường khác theo quy định của pháp luật về bồi thường Nhà nước”.
Các khoản bồi thường Nhà nước và các khoản bồi thường khác được quy định tại điểm n.4 như sau:
n.4) “Thu nhập từ bồi thường Nhà nước và các khoản bồi thường khác theo quy định của pháp luật về bồi thường Nhà nước là khoản tiền cá nhân được bồi thường do các quyết định xử phạt vi phạm hành chính không đúng của người có thẩm quyền, của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền gây thiệt hại đến quyền lợi của cá nhân; thu nhập từ bồi thường cho người bị oan do cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự quyết định. Căn cứ xác định khoản bồi thường này là quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền buộc cơ quan hoặc cá nhân có quyết định sai phải bồi thường và chứng từ chi bồi thường.”
Căn cứ các quy định nêu trên, số tiền mà người sử dụng lao động chi để bồi thường cho người lao động do chấm dứt hợp đồng trước thời hạn theo quy định tại Điều 42 Bộ luật Lao động không phải là các khoản bồi thường nhà nước nên không được miễn thuế TNCN theo quy định tại điểm n Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 111/2013/TT-BTC.
Vậy số tiền bồi thường đó có phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động để tính thuế TNCN theo quy định không? Nếu có thì Tòa án có phải tính thuế thu nhập cá nhân trong bản án luôn hay không? Có phải đưa cơ quan BHXH vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan để giải quyết vấn đề thuế thu nhập cá nhân hay không?
Ngoài những khó khăn về áp dụng pháp luật, do đặc điểm án Lao động là một lĩnh vực rộng, các văn bản pháp luật liên quan đến chính sách của nhà nước đối với người lao động qua các thời kỳ nên đòi hỏi Kiểm sát viên phải có khả năng tổng hợp, phải có tích lũy văn bản, phải đầu tư nhiều thời gian tìm kiếm và nghiên cứu văn bản. Các Kiểm sát viên ở cấp quận, huyện đa phần đều làm công tác kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực nên thời gian dành cho nghiên cứu và tập hợp văn bản pháp luật trực tiếp liên quan đến công tác kiểm sát giải quyết án lao động chưa nhiều, kỹ năng chưa đạt chất lượng tốt.
Bài học kinh nghiệm, giải pháp
Công tác cán bộ
- Trên cơ sở năng lực, trình độ của các Kiểm sát viên, Lãnh đạo Viện phân công Kiểm sát viên kiểm sát các vụ việc và tham gia phiên tòa cho phù hợp. Đặc biệt, Lãnh đạo cần sâu sát, cụ thể hơn trong chỉ đạo giải quyết các vụ, việc, nhất là trong việc kiểm tra các chứng cứ, lập luận trong đề xuất của Kiểm sát viên để phát hiện ra những vấn đề còn thiếu và có những biện pháp khắc phục bổ sung kịp thời.
- Kiểm sát viên phải có ý thức trách nhiệm cao, có kiến thức pháp luật vững chắc, tinh thông về nghiệp vụ để phát hiện kịp thời, chính xác những vi phạm pháp luật trong các bản án, quyết định sơ thẩm lao động của Tòa án.
- Các đơn vị đều chủ động đẩy mạnh công tác tự đào tạo, chú trọng công tác kiểm sát các vụ án dân sự nói chung và án lao động nói riêng. Đơn vị đăng ký xét xử nhiều vụ án theo chuyên đề phiên tòa rút kinh nghiệm của Kiểm sát viên để thông qua đó, cán bộ, Kiểm sát viên làm nghiệp vụ trong đơn vị tham dự, nhận xét rút kinh nghiệm cho đồng nghiệp và chính bản thân về hoạt động thực tiễn tại phiên tòa. Đơn vị mạnh dạn đăng ký nhiều Kiểm sát viên, Chuyên viên tham gia phiên tòa giả định dân sự do Viện kiểm sát thành phố tổ chức nhằm đổi mới hình thức đào tạo, nâng cao hơn kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ, Kiểm sát viên.
Công tác quản lý chỉ đạo, điều hành
- Tập thể lãnh đạo các đơn vị luôn quán triệt và thực hiện nghiêm túc quyền năng kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát trong Bộ luật Tố tụng dân sự. Thường xuyên quan tâm chỉ đạo công tác kháng nghị phúc thẩm bản án, quyết định lao động, xác định đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác kiểm sát các hoạt động tư pháp.
- Lãnh đạo đơn vị cần quan tâm hơn nữa tới việc nâng cao năng lực, trình độ, ý thức trách nhiệm của Kiểm sát viên trong kiểm sát việc giải quyết các vụ án lao động bằng nhiều các biện pháp như:
+ Trong Chương trình công tác hàng năm lãnh đạo các đơn vị cần xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, kiểm sát viên làm công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án lao động để các Kiểm sát viên, cán bộ nhận thức đúng đắn về chức năng nhiệm vụ; nắm vững các quy định pháp luật.
+ Đối với các vụ án khó phức tạp, Lãnh đạo đơn vị cùng Kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ, định hướng phương án giải quyết. Kiểm sát viên thường xuyên báo cáo lãnh đạo, trao đổi với Tòa án những vấn đề về tố tụng và nội dung đảm bảo cho các phiên tòa đúng pháp luật tiến hành thảo luận tập thể để các Kiểm sát viên đều phải nghiên cứu và có ý kiến từ đó lãnh đạo đơn vị quyết định phương án giải quyết tối ưu nhất cho vụ án.
- Lãnh đạo đơn vị thường xuyên đưa ra thảo luận, học tập các văn bản rút kinh nghiệm của Viện kiểm sát thành phố, Viện kiểm sát tối cao để các cán bộ, Kiểm sát viên cùng học tập, rút kinh nghiệm chung.
Sự phối hợp giữa Viện kiểm sát hai cấp
Việc phối hợp chặt chẽ giữa Viện kiểm sát hai cấp trong hoạt động kháng nghị phúc thẩm án lao động là rất cần thiết nhằm kịp thời phát hiện vi phạm của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án để kháng nghị đúng thời hạn, nâng cao tỷ lệ kháng nghị phúc thẩm đối với các vụ án bị sửa, hủy, hạn chế việc kháng nghị rồi phải rút quyết định kháng nghị.
Phòng 10 VKSND thành phố thường xuyên tổng hợp, ra thông báo rút kinh nghiệm về những thiếu sót hạn chế của từng kháng nghị, đưa ra những kháng nghị có chất lượng tốt để các cán bộ, Kiểm sát viên cùng học tập, rút kinh nghiệm chung, tránh sai sót tương tự xảy ra. Kịp thời thông báo những bản án, quyết định sơ thẩm của cấp huyện bị tòa án cấp phúc thẩm sửa, hủy để rút kinh nghiệm chung trong công tác phát hiện và xử lý vi phạm.
Đề xuất, kiến nghị
- Vụ 10 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần thường xuyên tập huấn chuyên sâu về công tác kiểm sát giải quyết án HC-KDTM-LĐ. Kịp thời thông báo những bản án, quyết định sơ thẩm của cấp huyện, tỉnh bị Tòa án cấp phúc thẩm sửa, hủy để rút kinh nghiệm chung trong công tác phát hiện và xử lý vi phạm. Tăng cường công tác hướng dẫn nghiệp vụ và kiểm tra hoạt động kiểm sát việc giải quyết vụ, việc lao động đối với cấp huyện, tỉnh.
- Tăng cường biên chế Kiểm sát viên có trình độ, năng lực cho khâu công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc kinh doanh thương mại, lao động, hành chính.
- Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành một số điều luật còn vướng mắc trong Bộ luật Lao động; đào tạo, tập huấn cho Kiểm sát viên, cán bộ được phân công thực hiện công tác kiểm sát giải quyết các vụ án lao động.
17. VKSND tỉnh Hưng Yên
Tỉnh Hưng Yên có vị trí là trung tâm đồng bằng sông Hồng, nơi tập trung nhiều khu công nghiệp với vốn đầu tư lớn, trong đó có đầu tư nước ngoài. Trong những năm qua nhiều dự án được hoàn thành, đưa vào sử dụng, góp phần đẩy mạnh sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, đưa Hưng Yên trở thành tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế nhanh trong khu vực đồng bằng sông Hồng.
Trong những năm gần đây số vụ việc tranh chấp về lao động xảy ra trên địa bàn tỉnh Hưng Yên không nhiều. Tranh chấp chủ yếu giữa cá nhân người lao động với người sử dụng lao động về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, giữa cá nhân người lao động với người sử dụng lao động về bảo hiểm xã hội, tiền lương, bồi thường thiệt hại; giữa cơ quan bảo hiểm xã hội với các công ty, tập đoàn sử dụng người lao động trong việc kiện đòi tiền nợ đóng BHXH, BHYT, BH thất nghiệp. Quá trình kiểm sát, viện kiểm sát địa phương đã kiểm sát chặt chẽ việc giải quyết của tòa án, đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Thường kỳ 6 tháng, 12 tháng viện kiểm sát địa phương đã có kiến nghị tổng hợp chung đối với những vi phạm của tòa án, được tòa án chấp nhận.
Qua thực tiễn công tác kiểm sát giải quyết các vụ án tranh chấp về lao động, viện kiểm sát nhân dân địa phương còn thấy một số khó khăn như sau:
-Tuy các Nghị định, Thông tư, Hướng dẫn đã được ban hành sau khi Bộ luật có hiệu lực thi hành nhưng vẫn còn chưa đầy đủ, nhất là các hướng dẫn chi tiết, cụ thể về giải quyết tranh chấp lao động.
-Bước đầu mới thực hiện theo luật mới và các văn bản hướng dẫn thi hành nên cũng còn nhiều lúng túng, việc giải quyết các vụ án tranh chấp về lao động phải áp dụng nhiều Bộ luật và các văn bản chuyên ngành khác thì mới giải quyết được (ví dụ tranh chấp lao động về bảo hiểm xã hội thì phải xem xét đối chiếu với luật bảo hiểm xã hội và các văn bản hướng dẫn thi hành), vì vậy đòi hỏi phải có thời gian, tìm tòi đối chiếu thì mới đảm bảo thực hiện tốt công tác kiểm sát.
- Việc tập huấn chuyên sâu, tổng kết rút kinh nghiệm, các chuyên đề nghiệp vụ chuyên sâu chưa được thực hiện nhiều và phổ biến rộng rãi, việc tổ chức các phiên tòa rút kinh nghiệm các vụ án tranh chấp về lao động chưa được quan tâm, nên việc trao đổi, học hỏi, rút kinh nghiệm cũng còn hạn chế, vì vậy ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng hiệu quả công tác kiểm sát.
- Cán bộ, kiểm sát viên làm công tác kiểm sát giải quyết các vụ án tranh chấp về lao động ở Viện kiểm sát cấp huyện, thành phố chủ yếu là kiêm nhiệm, trình độ không đồng đều, chưa chuyên sâu, kinh nghiệm chưa nhiều nên khi kiểm sát giải quyết các vụ án tranh chấp về lao động còn nhiều bỡ ngỡ, lúng túng đã ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát.
Về vướng mắc
Qua thực tiễn công tác kiểm sát giải quyết các vụ án tranh chấp về lao động, Viện KSND tỉnh Hưng Yên thấy có một số vướng mắc sau đây:
- Về thẩm quyền khởi kiện: Luật cũng như văn bản hướng dẫn không quy định, hướng dẫn rõ đối tượng nào có quyền khởi kiện tại tòa án về các tranh chấp liên quan đến việc vi phạm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp vì:
+ Cơ quan BHXH là cơ quan có trách nhiệm thu các loại bảo hiểm cho người lao động đối với người sử dụng lao động. Đối tượng bị nợ đọng là quỹ bảo hiểm do cơ quan BHXH có nhiệm vụ quản lý và duy trì.
+ Người lao động bị mất quyền lợi ( vì người sử dụng lao động trích tiền lương của người lao động để đóng các loại bảo hiểm nhưng không đóng) thì người lao động có quyền khởi kiện vụ án tại tòa án để bảo vệ quyền lợi cho mình không?
+ Tổ chức công đoàn cơ sở ( nơi người lao động làm việc) hoặc liên đoàn lao động cùng cấp là những tổ chức đại diện và bảo vệ quyền lợi cho người lao động có quyền khởi kiện vụ án tại tòa án để bảo vệ quyền lợi cho người lao động không?.
Vì vậy cần kiến nghị xem xét cả 3 đối tượng trên đều có quyền khởi kiện vụ án lao động tại tòa án nhân dân đối với việc người sử dụng lao động vi phạm về đóng các loại bảo hiểm cho ngừơi lao động.
- Tại Điều 19 Luật BHXH (Năm 2006 hiện đang áp dụng) quy định về quyền của tổ chức BHXH không thể hiện có quyền khởi kiện vụ án lao động về tranh chấp bảo hiểm tại tòa án, chỉ quy định có quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về xử lý vi phạm pháp luật về BHXH.
- Chương 10 - Luật BHXH 2006 về xử lý vi phạm: Điều 134 liệt kê các hành vi vi phạm pháp luật về đóng BHXH nhưng Điều 138 quy định về xử lý vi phạm không quy định về thẩm quyền giải quyết vi phạm về đóng BHXH của Tòa án nhân dân.
- Về xác định tư cách người tham gia tố tụng
+ Người lao động là người bị thiệt hại (vì người sử dụng lao động trích tiền lương để đóng BHXH nhưng không đóng cho cơ quan BHXH) thì có đưa họ vào tham gia tố tụng không? Tham gia với tư cách gì? Với doanh nghiệp, tập đoàn lớn có rất nhiều công nhân nếu đưa vào tham gia tố tụng tất cả thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn...
+ Chủ sử dụng lao động là đại diện cho bị đơn đồng thời cũng là người bị thiệt hại (không đóng BHXH) thì tham gia tố tụng với tư cách nào?
+ Cơ quan BHXH khởi kiện vụ án đòi tiền bảo hiểm cho người lao động nhưng cơ quan bảo hiểm xã hội theo quy định không phải là cơ quan, tổ chức đại diện cho người lao động (tổ chức công đoàn) vậy có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền lợi cho người lao động không?
- Về xác định quan hệ pháp luật.
+ Cơ quan BHXH khởi kiện vụ án đòi tiền nợ đóng BHXH, BHYT, BHTN mà cơ quan BHXH không phải là cơ quan tổ chức đại diện cho người lao động? việc thực hiện này có đúng không?
+ Xác định đây là vụ án dân sự kiện đòi nợ thông thường hay xác định đây là vụ án lao động kiện đòi tiền bảo hiểm?
- Về quá trình thụ lý giải quyết vụ án:
+ Quỹ BHXH có một phần do ngân sách nhà nước đóng góp, thì xác định toàn bộ tiền bảo hiểm có phải là tiền thuộc ngân sách nhà nước không?, Tòa án xem xét giải quyết có quyền hòa giải vụ án không? (Vì theo Điều 181 BLTTDS không được hòa giải liên quan đến tài sản của nhà nước)
+ Quỹ BHXH gồm hai nguồn một phần do người lao động và người sử dụng lao động đóng góp, một phần do ngân sách nhà nước. Toàn bộ quỹ này không phải có nguồn từ ngân sách nhà nước (chỉ một phần nhà nước hỗ trợ) cơ quan BHXH là cơ quan hành chính sự nghiệp có thu. Vậy khi khởi kiện vụ án có nghĩa vụ nộp tạm ứng án phí không?, có nghĩa vụ phải nộp án phí không nếu một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện không được tòa án chấp nhận.
Từ thực tiễn kiểm sát giải quyết các vụ án cụ thể về tranh chấp lao động trong thời gian qua, viện kiểm sát nhân dân địa phương rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu sau:
Thứ nhất: Trong nhận thức và chỉ đạo viện kiểm sát nhân dân địa phương xác định công tác kiểm sát giải quyết các vụ án lao động là công tác đặc thù trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của viện kiểm sát nhân dân, có tính đa dạng, khó khăn, phức tạp riêng vì vậy lãnh đạo viện đã quan tâm sâu sắc, tập trung chỉ đạo, kịp thời, bố trí cán bộ hợp lý, tạo mọi điều kiện tốt nhất để cán bộ, kiếm sát viên thực hiện nhiệm vụ.
Thứ hai: Đối với cán bộ, kiểm sát viên ngoài tinh thần trách nhiệm còn có lòng say mê, nhiệt tình, tâm huyết, gắn bó, tập trung cao với công tác này, từ đó phát huy hết khả năng của mình khi thực hiện công tác kiểm sát. Thường xuyên rèn luyện kỹ năng, trao đổi, học hỏi rút kinh nghiệm nhất là kỹ năng kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phương pháp nghiên cứu kiểm sát các bản án, quyết định để xác định các dạng vi phạm, đảm bảo tính chính xác, có căn cứ. Quá trình kiểm sát trước hết phải nắm chắc trình tự thủ tục tố tụng, căn cứ pháp luật để đối chiếu về nội dung, chú ý đến các nội dung trọng tâm như nguyên tắc hòa giải, xác định tư cách người tham gia tố tụng, phạm vi yêu cầu khởi kiện, trình tự thủ tục tại phiên tòa khi xem xét việc thay đổi, bổ sung rút yêu cầu.
Một ví dụ điển hình là: Vụ án “ Tranh chấp giữa người lao động và người sử dụng lao động về BHXH, tiền lương, bồi thường thiệt hại”.Do tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm ngày 14/11/2014 giữa nguyên đơn Bà Trần Thị Trục, trú tại Thị trấn Bần, huyện Mỹ Hào- Hưng Yên, khởi kiện ông Chu Thành Công - Giám đốc công ty cổ phần đầu tư xây dựng Hưng Yên về việc phải giải quyết chế độ nghỉ hưu, tiền lương giữ lại, bồi thường thiệt hại... cho bà. Tại phiên tòa bà Trục có yêu cầu bổ sung ông Chu Thành Công phải trả khoản tiền chênh lệch tiền lương do tăng lương cơ bản. Tòa án thành phố Hưng Yên xác định ông Công là bị đơn, chấp nhận yêu cầu bổ sung của bà Trục taị phiên tòa để xem xét, giải quyết nhưng không chấp nhận nội dung yêu cầu. Sau khi xét xử bà Trục có kháng cáo, qua nghiên cứu hồ sơ để tham gia xét xử phúc thẩm, viện kiểm sát tỉnh Hưng Yên thấy Tòa án sơ thẩm có những vi phạm sau:
+ Xác định tư cách tham gia tố tụng chưa chính xác: Trong vụ án này, bị đơn phải là công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Hưng Yên, người đại diện theo pháp luật là giám đốc công ty ông Chu Thành Công chứ không phải bị đơn là cá nhân ông Chu Thành Công.
+ Giải quyết quá phạm vi yêu cầu khởi kiện; trong đơn khởi kiện và đến trước khi mở phiên tòa nguyên đơn là bà Trục yêu cầu tòa giải quyết gồm:
1.Ra quyết định nghỉ hưu cho bà theo quy định.
2.Thanh toán số tiền lương giữ lại chưa trả của các tháng 2,3,4,5/2013
3.Bồi thường thiệt hại do không ra quyết định nghỉ hưu và lập hồ sơ bảo hiểm cho bà, gây thiệt hại cho bà...
Tại phiên tòa nguyên đơn bà Trục có yêu cầu bổ sung buộc ông Công phải trả số tiền chênh lệch tiền lương do thay đổi mức lương cơ bản từ tháng 5 đến tháng 10 năm 2012. Hội đồng xét xử đã chấp nhận yêu cầu này và xem xét giải quyết. Như vậy Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm Điều 5, Điều 218 BLTTDS về xem xét giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện; xem xét việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu tại phiên tòa. Giải quyết quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu.
+Vi phạm thủ tục tố tụng, không qua thủ tục hòa giải trước khi yêu cầu tòa án giải quyết. Theo quy định tại khoản 1, Điều 201 Bộ luật lao động năm 2012 thì tranh chấp lao động cá nhân, phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ một số tranh chấp không phải bắt buộc qua thủ tục hòa giải như về xử lý kỷ luật lao động, bồi thường thiệt hại, người giúp việc, bảo hiểm xã hội...Trong vụ án này có tranh chấp về tiền lương phải qua thủ tục hòa giải nhưng nguyên đơn chưa thực hiện thủ tục hòa giải là chưa đủ điều kiện khởi kiện, tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết là vi phạm thủ tục tố tụng.
Qua vụ án này viện kiểm sát tỉnh Hưng Yên có thông báo rút kinh nghiệm gửi viện KSND các huyện, thành phố cùng rút kinh nghiệm chung.
Thứ 3: Để đảm bảo công tác kiểm sát có chất lượng, hiệu quả, viện kiểm sát địa phương đã áp dụng đồng bộ các biện pháp, ngoài yêu cầu thực hiện theo đúng quy chế nghiệp vụ của ngành, viện kiểm sát địa phương còn đề ra các biện pháp cụ thể gắn trách nhiệm của lãnh đạo đơn vị, từng kiểm sát viên trong suốt quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến sau khi kiểm sát bản án, quyết định và lập hồ sơ kiểm sát, thông qua hệ thống bảng chấm điểm, phiên tòa rút kinh nghiệm, dự phiên tòa đột xuất, có văn bản hướng dẫn và tiêu chí về tổ chức, đánh giá các phiên tòa rút kinh nghiệm đối với các viện kiểm sát nhân dân huyện, thành phố, có sự tham gia của phòng TCCB để đánh giá chất lượng kiểm sát viên. Từ việc áp các biện pháp cụ thể, thiết thực trên đây chất lượng công tác kiểm sát, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng kiểm sát hoạt động tư pháp của kiểm sát viên đã được nâng lên rõ rệt.
Thứ 4: Viện kiểm sát địa phương quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ, kiểm sát viên, nhất là kỹ năng thực hiện công tác kiểm sát. Ngoài các chương trình tập huấn, bồi dưỡng do viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức, hàng năm trên cơ sở thực tiễn giải quyết các vụ án, những khó khăn, vướng mắc, phòng nghiệp vụ đã tập hợp lại và xây dựng thành các chuyên đề và tổ chức tập huấn, tọa đàm chuyên sâu cho cán bộ, kiểm sát viên các viện kiểm sát huyện, thành phố.
Thứ 5: Viện kiểm sát hai cấp có sự phối hợp chặt chẽ trên cơ sở thực hiện nghiêm túc các quy chế nghiệp vụ của ngành. Kịp thời trao đổi, giải quyết những khó khăn vướng mắc, đường lối giải quyết, đảm bảo sự đồng bộ , thống nhất trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và công tác phối hợp.
Thứ 6: Có sự phối hợp chặt chẽ , thống nhất trên cơ sở quy định của pháp luật đối với cơ quan tòa án và các cơ quan hữu quan, nhất là đối với thẩm phán được phân công giải quyết vụ án về lao động để nâng cao nhận thức trong việc áp dụng pháp luật, đảm bảo việc giải quyết được khách quan, chính xác.
Để không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát giải quyết các vụ án lao động, viện kiểm sát địa phương đề ra một số giải pháp sau:
Giải pháp
- Trước hết cần tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ của viện kiểm sát nhân dân các cấp. Lãnh đạo các đơn vị nhất là cấp huyện, thành phố cần quan tâm và đẩy mạnh hơn nữa công tác kiểm sát giải quyết các vụ án lao động, đôn đốc, kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm từ đó nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát.
- Cán bộ, kiểm sát viên thực hiện công tác kiểm sát phải nắm chắc các quy định của BLTTDS, luật lao động, luật bảo hiểm xã hội và các Bộ luật có liên quan khác cùng các nghị quyết, thông tư, hướng dẫn.
- Cán bộ, kiểm sát viên không ngừng học hỏi, nâng cao kỹ năng kiểm sát như kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, dự thảo các văn bản đặc biệt là kỹ năng kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phương pháp nghiên cứu các bản án, quyết định của tòa án để xác định vi phạm, đảm bảo chính xác có căn cứ từ đó ban hành kháng nghị, kiến nghị.
- Lãnh đạo viện kiểm sát các cấp cần tăng cường công tác tập huấn nghiệp vụ, tập huấn chuyên sâu, tổng kết rút kinh nghiệm để các đơn vị cùng nghiên cứu thực hiện, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát.
- Viện kiểm sát các cấp cần quan tâm và hoàn thiện tổ chức bộ máy làm việc của cán bộ, đơn vị làm công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án lao động đảm bảo đủ về số lượng cán bộ, có tính ổn định, có trình độ, kinh nghiệm và kỹ năng để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ.
- Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa viện kiểm sát các cấp, các đơn vị trong ngành, đồng thời phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan nhất là cơ quan tòa án để tạo ra sự đồng thuận trên cơ sở quy định của pháp luật, đảm bảo việc áp dụng pháp luật và giải quyết các vụ án được thống nhất đúng theo quy định của pháp luật.
Kiến nghị
- Trên cơ sở những vướng mắc, bất cập quy định của pháp luật cũng như khó khăn vướng mắc trong thực tế giải quyết các vụ án về tranh chấp lao động như viện kiểm sát địa phương đã nêu ở trên, viện kiểm sát tối cao tổng hợp để kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc có hướng dẫn thi hành cụ thể để thuận tiện trong áp dụng đảm bảo sự thống nhất cao.
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao tăng cường mở các lớp tập huấn, xây dựng quy chế, kỹ năng kiểm sát nhất là tập huấn chuyên sâu, kỹ năng tham gia phiên tòa, phát biểu của kiểm sát viên để viện kiểm sát các cấp thực hiện.
- Trên cơ sở thực tiễn kết quả giải quyết các vụ án tranh chấp về lao động của viện kiểm sát các địa phương, viện KSND tối cao tổng hợp rút kinh nghiệm và phổ biến đến VKS các địa phương để cũng trao đổi, học hỏi rút kinh nghiệm, từ đó nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát.
18. VKSND tỉnh An Giang
Những khó khăn, vướng mắc trong công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính:
- Trong quá trình thi hành Luật Tố tụng hành chính, có vướng mắc về việc xác định khiếu kiện các Quyết định của Bảo hiểm xã hội về việc giải quyết chế độ cho người lao động. Trường hợp sau khi nhận được hoặc biết được quyết định, hành vi của Tổ chức Bảo hiểm xã hội, người có liên quan trực tiếp không đồng ý, nhưng họ không khiếu nại đến cơ quan quản lý Nhà nước về lao động mà họ khởi kiện ra Tòa án thì Tòa án phải xem xét thụ lý giải quyết theo tố tụng hành chính hay tố tụng dân sự, vấn đề này trong thực tiễn gặp vướng mắc.
- Vướng mắc trong kiểm sát các quyết định đình chỉ của Tòa án theo quy định tại điểm d Điều 120 Luật tố tụng hành chính, về phần tiền tạm ứng án phí Tòa ghi trong quyết định trả lại cho đương sự là không đúng. Vì theo quy định tại khoản 2 Điều 121 Luật tố tụng hành chính thì tiền tạm ứng án phí, lệ phí mà đương sự đã nộp được xử lý theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án. Tại Điều 6 Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn: Trường hợp vụ án hành chính bị đình chỉ theo quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 120 của Luật tố tụng hành chính thì số tiền tạm ứng án phí được sung vào công quỹ Nhà nước. Trường hợp vụ án hành chính bị đình chỉ theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 120 của Luật tố tụng hành chính thì số tiền tạm ứng án phí được trả lại cho người đã nộp tiền tạm ứng án phí. Nghị quyết đã bỏ sót quy định tại điểm d của Điều 120 Luật tố tụng hành chính, về giải quyết đối với số tiền tạm ứng án phí. Khi kiểm sát các quyết định đình chỉ trong trường hợp này, Tòa ghi trả tiền tạm ứng án phí cho đương sự là có vi phạm, nhưng Viện Kiểm sát không có căn cứ kháng nghị hoặc kiến nghị.
- Vướng mắc về tính án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hành chính theo điểm c khoản 3 Điều 19 Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định “Người khởi kiện có yêu cầu bồi thường thiệt hại về những khoản không phù hợp thì Tòa án phải giải thích cho họ việc họ phải chịu án phí nếu yêu cầu bồi thường thiệt hại đó không được Tòa án chấp nhận. Nếu họ vẫn yêu cầu Tòa án giải quyết thì họ phải chịu án phí nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận”. Nghị quyết không đưa ra trường hợp cụ thể, nên giữa Viện Kiểm sát và Tòa án còn có cách hiểu khác nhau khi áp dụng.
- Kiểm sát việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp, tạm thời: Theo quy định của Luật Đất đai thì Ủy ban nhân dân có thẩm quyền cưỡng chế thu hồi đất. Nhưng theo khoản 1 Điều 62 Luật tố tụng hành chính quy định biện pháp khẩn cấp tạm thời gồm “Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc...”. Đối chiếu với các quy định nêu trên nhận thấy trong trường hợp đương sự khởi kiện hành chính về quyết định thu hồi đất thì Tòa có quyền tạm đình chỉ quyết định thu hồi đất của Ủy ban nhân dân hay không, vấn đề này vẫn chưa được Luật quy định và hướng dẫn cụ thể.
Những khó khăn, vướng mắc trong công tác kiểm sát giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại:
- Vướng mắc trong thụ lý vụ án kinh doanh thương mại: Theo khoản 1 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định: Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án “Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau đều có mục đích lợi nhuận”,được hiểu là tranh chấp về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án phải có 3 yêu tố là: Nội dung tranh chấp trong hoạt động kinh doanh thương mại; các chủ thể tranh chấp phải có đăng ký kinh doanh; phải đều có mục đích lợi nhuận. Nhưng Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lại quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2 như sau: “Tòa kinh tế có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết các tranh chấp và các yêu cầu về kinh doanh, thương mại quy định tại Điều 29 và 30 của BLTTDS; các tranh chấp về kinh doanh, thương mại mà một hoặc các bên không có đăng ký kinh doanh, nhưng đều có mục đích lợi nhuận” là trái với khoản 1 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) , vì theo quy định này thì các bên phải có đăng ký kinh doanh. Vấn đề này có mâu thuẫn, nhưng chưa có văn bản hướng dẫn để thống nhất thực hiện.
- Về áp dụng lãi suất trong các hợp đồng vay tín dụng: Tại khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự quy định: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của Lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”. Đây là quy định mang tính nguyên tắc trong giao dịch dân sự. Nhưng Ngân hàng Nhà nước lại ban hành Thông tư số 12/2010TT-NHNN ngày 04/4/2010, hướng dẫn các tổ chức tín dụng thực hiện cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận đối với khách hàng. Trong thực tế do nhu cầu về vốn, nên có nhiều cá nhân, tổ chức chấp nhận ký hợp đồng tín dụng với các tổ chức tín dụng vay tiền với lãi suất cao hơn mức lãi suất quy định Bộ luật dân sự. Việc giao kết do hai bên thực hiện trên cơ sở thỏa thuận, tự nguyện. Khi phát sinh tranh chấp, Tòa án căn cứ hợp đồng tín dụng do các bên ký kết để chấp nhận mức tính lãi suất theo thỏa thuận trong hợp đồng. Vấn đề áp dụng lãi suất có mâu thuẫn trong thực tế giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại, nhưng chưa có văn bản hướng dẫn để thống nhất thực hiện.
Kinh nghiệm:
- Việc nâng cao trình độ kiến thức pháp luật cho cán bộ, Kiểm sát viên là yếu tố hết sức quan trọng, đảm bảo việc phát hiện nhanh vi phạm trong các bản án, quyết định hành chính của Tòa án ngay ở cấp sơ thẩm để làm căn cứ cho việc kiến nghị, kháng nghị. Để nâng cao năng lực, trình độ đòi hỏi Kiểm sát viên phải chịu khó nghiên cứu, cập nhật kiến thức pháp luật, nghiệp vụ và đúc rút kinh nghiệm qua công tác thực tiễn. Mặt khác Kiểm sát viên phải tự rèn luyện mình trong thực tiễn, đó là rèn luyện phong cách nói, diễn đạt, khả năng ứng xử linh hoạt, nhạy bén trước các vấn đề mới phát sinh.
- Để thực hiện tốt công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, cần tăng cường vai trò của Lãnh đạo các đơn vị trong công tác chỉ đạo. Lãnh đạo các đơn vị phải nghe báo cáo án, khi đã quyết định kháng nghị thì duyệt kỹ nội dung kháng nghị và đảm bảo về hình thức. Mặt khác cần xem xét bố trí Kiểm sát viên có kinh nghiệm trong lĩnh vực này.
- Tổ chức thực hiện tốt công tác xét xử tại phiên tòa, trước khi tham gia phiên tòa, Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, chuẩn bị đề cương hỏi sát với nội dung vụ án và chuẩn bị các tình huống có thể xảy ra tại phiên tòa. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phải theo dõi kỹ diễn biến phiên tòa, nhạy bén trước các vấn đề mới phát sinh tại phiên tòa. Khi Tòa tuyên án cần ghi chép kỹ để đối chiếu với bản án khi Tòa án gửi cho Viện Kiểm sát, nếu phát hiện bản án có vi phạm phải kịp thời báo cáo, đề xuất Lãnh đạo Viện kiến nghị, kháng nghị.
- Tăng cường quan hệ phối hợp giữa Tòa án và Viện kiểm sát; giữa Viện Kiểm sát cấp trên với Viện Kiểm sát cấp dưới, nhất là các trường hợp cần xem xét kháng nghị. Những trường hợp thời hạn kháng nghị của Viện Kiểm sát ngang cấp đã hết, cần báo cáo kịp thời để Viện Kiểm sát cấp trên quyết định.
Giải pháp:
- Cán bộ, Kiểm sát viên cần quán triệt sâu sắc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện Kiểm sát nhân dân khi thực hiện công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính. Mặt khác phải nhận thức đúng, đầy đủ về các quyền như: Yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị là những quyền năng cơ bản và quan trọng của Viện Kiểm sát, để khi thực hiện các quyền này phải bảo đảm đúng theo quy định của pháp luật, có chất lượng và đạt hiệu quả cao.
- Quan tâmgiáo dục ý thức chính trị và phẩm chất đạo đức cho cán bộ, Kiểm sát viên và coi đây là nhiệm vụ mang tính thường xuyên, liên tục. Vì vậy, để nâng cao chất lượng trước hết cán bộ, Kiểm sát viên, phải thực hiện tốt Chỉ thị 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị, về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và Kế hoạch thực hiện xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên “Vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm” do Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phát động, triển khai thực hiện nhằm làm cho cán bộ, Kiểm sát viên nhận thức sâu sắc về tư tưởng, tấm gương, đạo đức và phong cách của Bác; thấy rõ được vai trò, trách nhiệm của người cán bộ Kiểm sát trong thời kỳ mới, từ đó ra sức phấn đấu, học tập và rèn luyện để khắc phục những hạn chế, yếu kém; nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm trách nhiệm và đề cao kỷ cương, kỷ luật trong công tác.
- Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về nghiệp vụ kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính cho cán bộ, Kiểm sát viên. Đây là một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để đáp ứng kịp thời thực tiễn công tác trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành theo Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân (đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 24/11/2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2015)./.
19. VKSND tỉnh Thừa Thiên Huế
Đối với án KDTM, nội dung tranh chấp phổ biến là các hợp đồng tín dụng vay vốn giữa các doanh nghiệp với các ngân hàng thương mại và những tranh chấp về hợp đồng mua bán vật liệu xây dựng, các hợp đồng mua bán hàng hóa vật tư giữa các Công ty TNHH; Công ty cổ phần; Doanh nghiệp tư nhân với số lượng tiền hàng tranh chấp không lớn.
Tranh chấp lao động phát sinh chủ yếu là tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa người sử dụng lao động với người lao động, tranh chấp xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, yêu cầu bồi thường chi phí đào tạo…
Án Hành chính chủ yếu khiếu kiện các quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân trong việc thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cưỡng chế, xử phạt vi phạm hành chính về đất đai...
Công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc Kinh doanh thương mại, lao động, hành chính là khâu công tác khó, phạm vi rộng, liên quan đến nhiều quan hệ pháp luật. Các Bộ luật ra đời (Luật lao động, Luật thương mại, Luật tố tụng hành chính...) không chỉ góp phần từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam mà còn có ý nghĩa to lớn trong việc cụ thể hoá các chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp, góp phần thúc đẩy và nâng cao hiệu quả cải cách thủ tục hành chính hiện nay, tạo hành lang pháp lý thuận lợi, góp phần phát triển kinh tế, ổn định xã hội. Tuy nhiên, quá trình thực hiện do một số nội dung của Luật chưa được hướng dẫn cụ thể, nên còn có tình trạng thiếu thống nhất về nhận thức giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, khó khăn trong quá trình giải quyết các vụ án hành chính, kinh doanh thương mại, lao động.
Mặc dù, với số lượng các vụ án HC-KDTM-LĐ thụ lý, kiểm sát giải quyết qua các năm không nhiều, nhưng qua quá trình nghiên cứu và thực hiện chức năng nghiệp vụ, VKS tỉnh TT Huế gặp phải một số khó khăn, vướng mắc.
Đối với công tác kiểm sát:
+ Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện: Tòa án trả lại đơn khởi kiện chỉ gửi "văn bản trả lời đơn khởi kiện" cho VKS, thì rất khó kiểm sát được việc trả lại đơn có đúng theo căn cứ pháp luật hay không. Mặt khác, thời hạn kiến nghị của VKS theo quy định lại ngắn nên việc kiểm tra, xác minh việc trả lại đơn của Toà án có đúng hay không để VKS thực hiện quyền kiến nghị gặp nhiều khó khăn.
+ Kiểm sát việc thụ lý vụ án: Theo Điều 114 Luật TTHC quy định, sau khi thụ lý vụ án, Toà án gửi Thông báo thụ lý vụ án cho Viện kiểm sát mà không quy định gửi kèm theo các tài liệu, chứng cứ có liên quan nên công tác kiểm sát việc thụ lý vụ án của Viện kiểm sát còn hạn chế, vì không thể phát hiện vi phạm trong việc thụ lý vụ án của Toà án có đúng quan hệ pháp luật, đúng thẩm quyền và đặc biệt là xác định những người tham gia tố tụng có đúng không, thông thường Viện kiểm sát chỉ kiểm sát thời hạn Toà án gửi thông báo thụ lý vụ án có đúng quy định không.
+ Kiểm sát việc thu thập yêu cầu cung cấp chứng cứ: Trong một số vụ án Hành chính, khi Toà án hoặc Viện kiểm sát có văn bản yêu cầu các cơ quan nhà nước có liên quan hay người bị kiện cung cấp chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án thì các cơ quan này cung cấp rất chậm, làm cho vụ án kéo dài thời hạn giải quyết vụ án.
+ Kiểm sát việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: Toà chỉ gửi cho Viện kiểm sát quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc thông báo không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không có tài liệu liên quan kèm theo, nên trong thời hạn 3 ngày làm việc thì Viện kiểm sát không kiểm sát để ban hành kiến nghị được, bởi vì khi xác minh thu thập được các tài liệu liên quan để xem xét có nên kiến nghị hay không thì đã quá thời hạn trên.
+ Kiểm sát việc ra bản án, quyết định của Toà án: Kiểm sát quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án, Luật chưa có quy định cho VKS có quyền tự mình trực tiếp xác minh điều kiện Tạm đình chỉ giải quyết vụ án. VKS chỉ thực hiện chức năng kiểm sát thông qua Quyết định do Tòa án cùng cấp gửi, vì vậy có những vụ việc tạm đình chỉ với thời gian dài nhưng Tòa án vẫn chưa phục hồi giải quyết, đồng thời cũng không thấy hoạt động xác minh của Tòa án, nhưng Viện kiểm sát không thể tiến hành xác minh để yêu cầu TA đưa ra giải quyết.
+ Việc thực hiện các quyền: Tại khoản 2, Điều 183 Luật TTHC quy định thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm là 07 ngày, của VKS cấp trên là 10 ngày kể từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định là quá ngắn, rất khó khăn trong việc xác minh, thu thập chứng cứ thực hiện quyền kháng nghị của Viện kiểm sát.
Đối với việc áp dụng pháp luật
+ Khoản 8 Điều 3 LTTHC quy định về Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:“Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan họ tự mình hoặc đương sự khác đề nghị và được Toà án chấp nhận hoặc được Toà án đưa vào tham gia tố tụng”.Sau khi Tòa án có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, mới xác định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mới trong vụ án thì luật hiện nay chưa quy định thủ tục tố tụng thế nào để đưa họ vào tham gia tố tụng trong vụ án. Khi đương sự khác trong vụ án đề nghị đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án nhưng không cung cấp được địa chỉ của người này, và Tòa án cũng không xác minh được địa chỉ của họ, thì xử lý thế nào?
+ Tại điểm d khoản 1 Điều 109 LTTHC Lý do “ chưa có đủ điều kiện khởi kiện vụ án hành chính” là căn cứ để Toà án trả lại đơn khởi kiện (quy định) và cũng là căn cứ để Toà án đình chỉ việc giải quyết vụ án trong trường hợp đã thụ lý. Tuy nhiên, thế nào là “ chưa có đủ điều kiện khởi kiện “ thì chưa được hướng dẫn cụ thể.
+Thời hạn giải quyết vụ án kinh doanh thương mại quá ngắn (3 tháng). Nếu trong một vụ án kinh doanh thương mại đương sự không hợp tác, không có mặt để tham gia tố tụng khi được triệu tập... Ngoài lý do không nhận được văn bản triệu tập, rất nhiều trường hợp không còn ở địa phương hoặc cố tình lẫn tránh không hợp tác; đương sự ở nước ngoài thì cần phải làm thủ tục ủy thác tư pháp, thu thập thêm chứng cứ. Tính phức tạp trong nội dung tranh chấp kinh doanh thương mại cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc giải quyết án bị kéo dài, quá hạn luật định.
+ BLLĐ quy định: Tại khoản 2 Điều 3 “Người sử dụng lao động” : Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động; nếu là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Là một bên trong quan hệ lao động, Người sử dụng lao động xuất hiện trong hầu hết các chế định cụ thể của Bộ lật lao động. Song với khái niệm chung như vậy mà không có bất kỳ hướng dẫn nào chỉ rõ ai là người đại diện cho doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã làm “Người sử dụng lao động” để ký kết hợp đồng lao động, đối thoại, thương lượng, ký kết thoả ước lao động tập thể, xử lý kỷ luật, giải quyết tranh chấp lao động… thì sẽ gặp rất nhiều vướng mắc trong thực tiễn. Ngược đãi người lao động (khoản 2 Điều 8; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 1 Điều 183); Quấy rối tình dục tại nơi làm việc (khoản 2 Điều 8 điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 1 Điều 183) Cần có văn bản hướng dẫn: Hành vi cụ thể như thế nào thì được xem là ngược đãi người lao động, quấy rồi tình dục tại nơi làm việc.
+ Người có thẩm quyền ký kết hợp đồng lao động của bên Người sử dụng lao động (điểm b khoản 1 Điều 50, khoản 2 Điều 52…): Ai sẽ là người đại diện cho doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình làm người sử dụng lao động để ký kết hợp đồng lao động.
+ Vấn đề HĐLĐ hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc (khoản 2 Điều 22): Vấn đề này hiện đang có nhiều cách hiểu khác nhau. Một số cho rằng khi hợp đồng lao động hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc mà không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 22 trở thành hợp động lao động không xác định thời hạn và hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 22 trở thành hợp động lao động xác định thời hạn 24 tháng. Ý kiến khác lại cho rằng phải sau 30 ngày khi hợp đồng lao động hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc mà không ký kết hợp đồng lao động mới thì khi đó hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 22 trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 22 trở thành hợp đồng lao động xác đinh thời hạn 24 tháng. Đây là vấn đề cần được hướng dẫn và làm rõ.
+ Điểm a, Khoản 1 Điều 38 Bộ luật lao động quy định người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động. Vấn đề này trước đây nghị định 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 đã hướng dẫn rõ: “người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc là không hoàn thành định mức lao động hoặc nhiệm vụ được giao do yếu tố chủ quan và bị lập biên bản hoặc nhắc nhở bằng văn bản ít nhất hai lần trong một tháng, mà sau đó vẫn không khắc phục”. Theo hướng dẫn này thì vẫn còn một vướng mắc là trong thời hạn bao lâu kể từ ngày bị lập biên bản hoặc bị nhắc nhở bằng văn bản đến lần thứ hai đến ngày người lao động tiếp tục vi phạm (sau đó vẫn không khắc phục) thì người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng
lao động?
Về trình độ, năng lực cán bộ: Do số lượng kiểm sát viên làm công tác kiểm sát giải quyết án tranh chấp về lao động, hành chính, kinh doanh thương mại còn kiêm nhiệm các khâu công tác khác nên chất lượng công tác kiểm sát chưa cao. Mặt khác, do địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế ít xảy ra loại án tranh chấp về lao động nên khi kiểm sát giải quyết loại án này Kiểm sát viên còn nhiều lúng túng.
Những đề xuất, kiến nghị, giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát.
- Tăng cường công tác phối hợp giữa Tòa án và Viện kiểm sát nhằm nâng cao hiệu quả công tác.
- VKS cấp trên tiếp tục tăng cường ban hành các văn bản thông báo rút kinh nghiệm nghiệp vụ trong toàn ngành để VKS cấp dưới nghiên cứu vận dụng vào thực tiễn công tác;
- VKS tối cao cần tổ chức các Hội nghị tập huấn chuyên sâu và mở các lớp đào tạo ngắn hạn cho Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, cán bộ thực hiện các khâu công tác kiểm sát này để rút kinh nghiệm và tiếp cận nắm bắt về những kỹ năng nghiệp vụ để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
- Thường xuyên trao đổi kinh nghiệm công tác nghiệp vụ giữa các đơn vị (VKS cấp trên, VKS cấp dưới), rút kinh nghiệm trong công tác kiểm sát việc thụ lý, giải quyết án hành chính, kinh doanh thương mại, lao động nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả công tác.
- Liên ngành Trung ương và Cơ quan có thẩm quyền cần hướng dẫn thống nhất về áp dụng pháp luật, tránh tình trạng nhận thức thiếu thống nhất dẫn đến hoặc có những quan điểm khác nhau trong áp dụng pháp luật.
- Qua kiểm sát việc giải quyết các vụ án tranh chấp lao động thấy cần thiết xây dựng Luật tố tụng lao động, phạm vi cơ cấu của Luật này nên quy định cụ thể, sâu hơn về công tác giải quyết các tranh chấp về lao động.
- Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi tham gia tố tụng lao động cần phải được thể hiện trong Luật tố tụng lao động,nhằm đảm bảo thực hiện tốt chức năng kiểm sát giải quyết vụ án tranh chấp lao động.
- Cần bố trí những cán bộ có năng lực, chuyên sâu cho khâu công tác giải quyết các loại án trên nhằm, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hiện nay.
20. VKSND tỉnh Nghệ An
Một số khó khăn, vướng mắc trong công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, các vụ việc kinh doanh thương mại, lao động:
Trong công tác kiểm sát giải quyết vụ việc kinh doanh thương mại
- Vướng mắc trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng và thế chấp hoặc bảo lãnh:
Thứ nhất, BLDS 2005 quy định có 7 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, trong đó có biện pháp thế chấp tài sản và bảo lãnh (khoản 1 Điều 318). Tại khoản 1 Điều 342 thì thế chấp là việc bên thế chấp dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận thế chấp; Điều 361 quy định bảo lãnh là việc người thứ ba (bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Trên thực tế, hầu hết các hợp đồng tín dụng đều áp dụng biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là bảo lãnh nhưng khi ký kết lại bằng hình thức thế chấp. Như vậy, khi có tranh chấp yêu cầu Toà án giải quyết thì các hợp đồng thế chấp có bị xem là vô hiệu vì không tuân thủ đúng quy định pháp luật không hay vẫn được chấp nhận bởi về mặt bản chất và trình tự thủ tục thực hiện thì giữa biện pháp thế chấp và bảo lãnh là giống nhau mà chỉ khác nhau về tên gọi.
Thứ hai, đối với tranh chấp tín dụng có thế chấp tài sản: Khi người có tài sản thế chấp biết việc thế chấp tài sản có liên quan đến người thứ ba nhưng đã không thực hiện nghĩa vụ thông báo cho bên nhận thế chấp biết về các quyền của người thứ ba, vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 348 nên Toà án đã tuyên giao dịch dân sự vô hiệu; Đồng thời bên nhận thế chấp khi khởi kiện cũng không biết giao dịch dân sự bị tuyên là vô hiệu nên không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Trên thực tế Toà án chỉ giải quyết buộc bị đơn phải thanh toán nợ gốc và lãi cho nguyên đơn, không giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu là bồi thường thiệt hại bởi cho rằng không thể xác định được lỗi để buộc bồi thường thiệt hại.Vậy trong những trường hợp này thì có áp dụng khoản 2 Điều 137: " Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì ... bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường" và khoản 5 Điều 424 BLDS: " Hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn và các bên có thể thoả thuận thay thế đối tượng khác hoặc bồi thường thiệt hại" để giải quyết không? Sau khi xét xử sơ thẩm, bên nhận thế chấp kháng cáo yêu cầu bồi thường thiệt hại. Tại cấp phúc thẩm không giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại với lý do là cấp sơ thẩm không yêu cầu xem xét. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là trước khi có quyết định xét xử, người khởi kiện không biết được hợp đồng thế chấp có bị tuyên vô hiệu hay không nên không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Như vậy trong trường hợp này, cấp phúc thẩm có tuyên hủy án để giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu không hay là tách ra giải quyết bằng 1 vụ án khác để yêu cầu bồi thường thiệt hại.
- Vướng mắc về cách tính và mức lãi suất:
Khi giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại đối với các tranh chấp về hợp đồng tín dụng, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An thực hiện cách tính và mức lãi suất (bao gồm lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn) trong các hợp đồng tín dụng theo sự thoả thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng. Bởi vì: Hoạt động của các tổ chức tín dụng là hoạt động đặc thù nên cần áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: "Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thoả thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật". Đồng thời áp dụng các quy định pháp luật do Ngân hàng nhà nước ban hành như: Thông tư số 07/ 2010/TT-NHNN ngày 26/02/2010 và Thông tư số 12/TT-NHNN ngày 14/4/2010 hướng dẫn tổ chức tín dụng.
Theo quan điểm của VKSND tỉnh Nghệ An thì: Hợp đồng tín dụng là quan hệ dân sự. Khi tham gia quan hệ này, cả hai bên (Ngân hàng và khách hàng) đều phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Theo đó, cùng với việc bên vay thực hiện các thủ tục theo quy định pháp luật để được vay món tiền thì phái cho vay (Ngân hàng) cũng có trách nhiệm và nghĩa vụ đi kèm. Trên thực tế chỉ trừ trường hợp có rủi ro khách quan, còn lại nếu cả hai bên đều thực hiện đầy đủ trách nhiệm, nghĩa vụ theo cam kết của mình thì không có lý do gì mà Ngân hàng không thu hồi được vốn. Trong trường hợp người vay gặp rủi ro thì phía Ngân hàng cũng phải có trách nhiệm "chia sẻ" với khách hàng. Việc chia sẻ thực chất là tính đúng, tính đủ lãi suất theo quy định của pháp luật dân sự. Nhiều vụ việc Ngân hàng không muốn giải quyết theo hướng này, chỉ yêu cầu thực hiện theo cam kết có lợi cho Ngân hàng. Chúng tôi cho rằng, khi có tranh chấp xảy ra thì phải giải quyết theo pháp luật và tranh chấp dân sự đó phải lấy Bộ luật dân sự làm chuẩn mực và chuẩn mực đó chính là quy định tại khoản 5 Điều 474 và khoản 1 Điều 476 BLDS nêu trên. Mặt khác căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì các bên có quyền thỏa thuận về lãi suất nhưng không được trái pháp luật, cụ thể là không được trái với Luật các tổ chức tín dụng và Bộ luật dân sự. Trong trường hợp có tranh chấp về lãi suất thì đối với lãi suất trong hạn không được vượt quá 13,5% năm (9 % là lãi suất cơ bản hiện nay của NHNN) + 4,5% (tức 50% của 9%). Đối với lãi quá hạn được tính từ thời gian quá hạn hợp đồng theo lãi suất cơ bản do NHNN công bố đến thời điểm xét xử. Trong mọi trường hợp không được tính phạt gốc quá hạn, phạt lãi quá hạn để yêu cầu giải quyết.
Như vậy, hiện nay TAND hai cấp tỉnh Nghệ An xét xử theo hướng chấp nhận lãi suất theo hợp đồng và lãi suất đảm bảo thi hành án cũng theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Quan điểm VKS tỉnh Nghệ An là áp dụng quy định của Bộ luật dân sự. Do các hướng dẫn chưa thống nhất nên việc thực hiện chức năng kiểm sát còn gặp vướng mắc, mâu thuẫn về quan điểm giải quyết vụ án giữa 2 ngành.
- Vướng mắc trong việc đương sự rút một phần đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết án ở cấp phúc thẩm: Theo quy định tại Điều 269 BLTTDS và Điều 203 LTTHC quy định nguyên đơn, người khởi kiện rút đơn khởi kiện trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm thì HĐXX phúc thẩm phải hỏi bị đơn (người bị khởi kiện) có đồng ý hay không và tùy từng trường hợp mà giải quyết. Tuy nhiên điều luật chưa quy định rõ việc nguyên đơn, người khởi kiện rút một phần đơn khởi kiện trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm thì HĐXX phúc thẩm giải quyết như thế nào trong trường hợp bị đơn không đồng ý hoặc bị đơn vắng mặt tại phiên tòa. Và nội dung này còn liên quan đến vấn đề giải quyết án phí của đương sự. Ví dụ: trong các vụ án kinh doanh thương mại, qúa trình giải quyết tại cấp sơ thẩm Ngân hàng yêu cầu bị đơn phải thanh toán khoản tiền phạt lãi quá hạn. Tòa án cấp sơ thẩm đã bác yêu cầu này và buộc Ngân hàng phải chịu án phí đối với yêu cầu không được chấp nhận. Quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm, Ngân hàng lại rút yêu cầu này thì giải quyết như thế nào trong trường hợp bị đơn không đồng ý hoặc bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.
- Vướng mắc trong việc thực hiện quyền năng kháng nghị:
+ Tại phiên tòa phúc thẩm, do diễn biến thực tế của phiên tòa Kiểm sát viên có được đề xuất, thay đổi hướng kháng nghị từ sửa bản án sơ thẩm sang hướng hủy bản án sơ thẩm được không. Bởi vì, theo quy định tại khoản 1 Điều 256 BLTTDS: "trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo, Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị nhưng không được vượt quá phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu, nếu thời hạn kháng cáo, kháng nghị đã hết". Và tại Điều 263 BLTTDS quy định: "Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án, quyết định sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo kháng nghị". Và trên thực tế có những trường hợp khi ban hành kháng nghị Tòa án cấp sơ thẩm không chuyển hồ sơ cho VKS cấp phúc thẩm nên VKS đã kháng nghị trên bản án. Sau khi Tòa án cấp phúc thẩm chuyển hồ sơ cho VKS cùng cấp nghiên cứu hồ sơ, VKS mới phát hiện quá trình giải quyết của TA cấp sơ thẩm có vi phạm nếu không sửa án, hủy án sẽ khó khăn trong công tác thi hành án nhưng nội dung đó VKS không kháng nghị, các đương sự không kháng cáo về những vi phạm này. Tại phiên tòa phúc thẩm, thời hạn bổ sung kháng nghị đã hết thì VKS có quyền phát biểu nội dung vi phạm đó để đề nghị HĐXX hủy, sửa án sơ thẩm hay không?
+ Theo quy định tại khoản 2 Điều 122 và khoản 2 Điều 183 Luật Tố tụng hành chính quy định thời hạn chuyển các quyết định và thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát quy định: Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ Tòa án phải gửi các quyết định đó cho Viện kiểm sát. Tuy nhiên, thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 07 ngày, của VKS cấp trên là 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định. Như vậy thời hạn để Viện kiểm sát cấp sơ thẩm kháng nghị chỉ có 7 ngày và VKS cấp phúc thẩm là 10 ngày nhưng không quy định rõ trong khoảng thời gian này chỉ tính những ngày làm việc hay cả thứ 7, chủ nhật, ngày lễ,… Vì vậy, việc thực hiện quyền năng kháng nghị đối với các loại quyết định là rất hạn chế.
Các vướng mắc khác trong công tác kiểm sát giải quyết án.
Án Hành chính:
- Vướng mắc về xác định đối tượng khởi kiện vụ án Hành chính:
Theo Khoản 1 Điều 3 Luật tố tụng hành chính 2010 quy định về Quyết định hành chính là "văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hay người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành, quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hay một số đối tượng cụ thể".
Căn cứ tại Khoản 2 Điều 3 Luật tố tụng hành chính 2010 quy định "Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tổ chức khác hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó thực hiện hay không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định pháp luật". Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy vẫn còn có vướng mắc nhất định trong việc xác định đối tượng khởi kiện như trường hợp cụ thể sau đây:
Trong trường hợp cơ quan Nhà Nước ban hành Quyết định hành chính trong hoạt động quản lý Nhà Nước (VD: các quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định cưỡng chế...) nhưng người bị cưỡng chế lại không phải là người có tài sản bị cưỡng chế. Người khởi kiện chỉ khởi kiện hành vi cưỡng chế tài sản không khởi kiện quyết định hành chính. Trong trường hợp này xác định đối tượng khởi kiện là Quyết định hành chính hay là hành vi cưỡng chế của cơ quan Nhà nước. Có quan điểm cho rằng, đối tượng khởi kiện được xác định là hành vi hành chính. Theo quan điểm của VKS tỉnh Nghệ An thì trong trường hợp này đối tượng khởi kiện là quyết định hành chính chứ không phải là hành vi hành chính. Bởi vì, các quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định cưỡng chế... là các quyết định hành chính và quyết định hành chính cá biệt mà cơ quan Nhà Nước ban hành đã ban hành trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước và đã được triển khai thực hiện trong phạm vi các quyết định hành chính đã ban hành. Căn cứ Điều 28 LTTHC, Điều 1 Nghị quyết số 02 ngày 29/7/2011 của HĐTP - TANDTC Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật tố tụng hành chính về xác định đối tượng khởi kiện vụ án hành chính là hành vi hành chính của cơ quan Nhà Nước là chưa đảm bảo về điều kiện khởi kiện vụ án hành chính. Nên phải xác định đối tượng khởi kiện là quyết định hành chính mới chính xác theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
- Vướng mắc trong thực hiện theo NQ 23/2003 ngày 26/11/2003 và NQ 755/2005 ngày 02/4/2005 của UBTVQH
Đối với các khởi kiện yêu cầu đòi lại nhà đất đã được Nhà nước trưng dụng để sử dụng vào mục đích tập thể, không có các văn bản, tài liệu chứng minh được rằng việc Nhà nước đưa vào quản lý. Nay người khởi kiện yêu cầu đòi lại nhà đất thì việc áp dụng NQ 23/2003 ngày 26/11/2003 và NQ 755/2005 ngày 02/4/2005 của UBTVQH có phù hợp không? Nếu áp dụng văn bản nêu trên để giải quyết thì người khởi kiện không đồng ý bởi vì theo họ thì được xem Nhà Nước trưng dụng phải có văn bản, tài liệu để chứng minh.
Đối với án Lao động
Thứ nhất, trong một vụ kiện nguyên đơn khởi kiện nhiều nội dung, có cả tranh chấp lao động, có cả tranh chấp dân sự; Có những loại việc pháp luật quy định áp dụng thời hiệu và có những loại việc không áp dụng thời hiệu. Tuy nhiên, nếu nội nội dung khởi kiện chính là tranh chấp lao động thì có áp dụng Điều 163 BLTTDS và Điều 4 Nghị quyết số 05/2012 ngày 03/12/2012 của HĐTP TANDTC để giải quyết hay không hay không xem xét đến vấn đề thời hiệu.
Thứ hai, Bộ luật lao động có quy định về thời hiệu (Điều 167 Luật lao động năm 1995 và Điều 202 BLLĐ 2012). Trên thực tế, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm mà người lao động đã thực hiện việc khiếu nại đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chờ kết quả trả lời, không được hướng dẫn đến Toà án để giải quyết thì thời gian đó có được xem là trở ngại khách quan hay không và thời hiệu khởi kiện được tính từ lúc nào?
Thực tiễn triển khai thực hiện Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20.1.2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử hành chính tại Tòa án nhân dân còn có một số khó khăn, vướng mắc như sau:
Thứ nhất, về kiểm sát quyết định không áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính: Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh: Khi nhận được hồ sơ của cơ quan có thẩm quyền đề nghị chuyển đến, trường hợp hồ sơ không đầy đủ tài liệu thì Toà án trả lại hồ sơ và nêu rõ lý do. Sau khi Toà án thụ lý, Thẩm phán có quyền yêu cầu cơ quan đề nghị bổ sung tài liệu. Trong trường hợp yêu cầu nhưng cơ quan đề nghị không bổ sung thì Toà án vẫn ra quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định (Điều 14). Tại phiên họp, Thẩm phán công bố quyết định áp dụng, không áp dụng, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ (điểm h khoản 2 Điều 20). Tuy nhiên, Pháp lệnh không quy định các trường hợp do không cung cấp đủ hồ sơ, tài liệu nên Toà án ra quyết định không áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính. Đồng thời, cũng không quy định căn cứ để ban hành quyết định đình chỉ hay tạm đình chỉ vì không cung cấp đủ hồ sơ, tài liệu (Điều 15). Điều 29 quy định các quyết định của Toà án có thể bị khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị; nhưng không quy định VKS có quyền kiến nghị hoặc kháng nghị đối với quyết định tạm đình chỉ nên đã hạn chế chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS khi xét thấy việc ban hành quyết định tạm đình chỉ của Toà án không đảm bảo theo quy định pháp luật.
Thứ hai, kiểm sát tại phiên họp: Pháp lệnh không quy định trong trường hợp người bị đề nghị hoặc người đại diện hợp pháp của họ, cha mẹ hoặc người giám hộ của người bị đề nghị là người chưa thành niên, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị vắng mặt lần thứ nhất không có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên họp. Việc quy định này trên thực tế chưa đảm bảo được quyền dân chủ, quyền được giải trình trước Tòa án, tranh luận với cơ quan đề nghị nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp hợp pháp của mình theo nguyên tắc chung. Vì vậy, khi tham gia phiên họp, Kiểm sát viên không có căn cứ đề nghị Toà án hoãn phiên họp để tạo điều kiện nhằm đảm bảo người bị đề nghị được thực hiện các quyền luật định.
Ngoài ra, Pháp lệnh không quy định việc Tòa án chuyển hồ sơ cho VKS nghiên cứu nên việc VKS tham gia phiên họp rất bị động và không có thời gian để báo cáo án với lãnh đạo. Mặt khác, Pháp lệnh không quy định thẩm quyền kháng nghị các quyết định này của VKS cấp trên và không quy định VKS cấp trên có quyền yêu cầu Tòa án cấp dưới chuyển hồ sơ cho VKS nghiên cứu khi phát hiện có vi phạm nên khi VKS cấp trên nghiên cứu các quyết định của Tòa án cấp dưới phát hiện vi phạm thì không thể ban hành kháng nghị để bảo vệ quyền lợi cho người bị đề nghị.
Những bài học kinh nghiệm trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc hành chính, kinh doanh thương mại và các việc khác theo quy định của pháp luật:
- Bài học thứ nhất 1. Tăng cường công tác chỉ đạo Huyện: xác định cấp huyện là nơi trực tiếp giải quyết lượng án chủ yếu của cả tỉnh, trong lúc lực lượng cán bộ, kiểm sát viên đảm nhiệm khâu công tác ở đơn vị cấp Huyện lại thường xuyên biến động, kinh nghiệm công tác chưa nhiều; thực hiện phương châm của ngành là "hướng về cơ sở" nên hàng năm VKS Tỉnh chú trọng tập trung tăng cường công tác chỉ đạo cấp huyện.
- Bài học thứ 2. Nghiên cứu đầy đủ, kịp thời các bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm để thực hiện quyền năng kiến nghị, kháng nghị: Để thực hiện tốt quyền năng kháng nghị thì trước hết phải kiểm sát chặt chẽ các bản án, quyết định của Tòa án hai cấp. Do đó, ngoài việc kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án cấp Tỉnh; đơn vị đã yêu cầu các VKS cấp huyện phải gửi đầy đủ bản án, quyết định cho phòng nghiệp vụ để nghiên cứu.
- Bài học thứ 3. Chú trọng công tác tập huấn nghiệp vụ
Hàng năm VKS Tỉnh đều thực hiện công tác tập huấn nghiệp vụ cho VKS cấp huyện. Việc tập huấn được xây dựng thành các chuyên đề riêng và có sự chuẩn bị kỹ về nội dung, tài liệu cần thiết để việc tập huấn đem lại hiệu quả cao, có ý nghĩa thiết thực đối với đơn vị cấp huyện trong việc kiểm sát giải quyết các vụ, việc hành chính, lao động, kinh doanh thương mại.
- Bài học thứ 4. Phân công nhiệm vụ cho cán bộ một cách hợp lý: phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng đồng chí theo đúng năng lực, sở trường, kinh nghiệm công tác.
- Bài học thứ 5. Tăng cường việc ban hành thông báo rút kinh nghiệm thông qua đó giúp cán bộ, KSV nhanh tiếp cận và nắm bắt được cách giải quyết các loại vụ, việc dân sự; các dạng vi phạm của Tòa án nhất là đối với các cán bộ, kiểm sát viên mới được phân công về khâu công tác này.
Đề xuất giải pháp, kiến nghị để nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc, hành chính, kinh doanh thương mại và các việc khác theo quy định của pháp luật:
- Đề nghị Vụ 10 cần kịp thời sửa đổi, bổ sung các chỉ tiêu, biểu mẫu thống kê, sổ sách nghiệp vụ để phù hợp với quy định mới của Luật Tố tụng hành chính, Pháp lệnh số 09 hiện nay chưa có hướng dẫn thống kê vào cột mục nào và có hướng dẫn về mẫu bài phát biểu vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm;
- Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực dân sự, hành chính, kinh tế, lao động rất đa dạng nhưng công tác hệ thống hoá các văn bản này của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao còn hạn chế. Đề nghị Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, hàng năm cần hệ thống các văn bản pháp luật dân sự hiện hành và rà soát các văn bản hết hiệu lực để thông báo kịp thời cho Viện VKSND cấp dưới có cơ sở áp dụng đúng pháp luật; làm công cụ phương tiện trong quá trình thực hiện công tác;
- Đề nghị VKSND tối cao tăng cường công tác tập huấn, trong đó chú trọng tập huấn nghiệp vụ theo chuyên đề nhất là tập huấn về kỹ năng tham gia phiên tòa, kỹ năng kiểm sát bản án, quyết định; tập huấn chuyên đề về giải quyết án hành chính, các tranh chấp hợp đồng tín dụng đặc biệt căn cứ tính lãi suất và các tranh chấp trong công ty góp vốn đầu tư chia theo kỷ phần...Hướng dẫn kịp thời các vướng mắc, khó khăn trong công tác giải quyết các vụ án hành chính, kinh doanh thương mại, lao động. Thông qua hội nghị tập huấn đồng thời rút kinh nghiệm cho các địa phương về kết quả công tác kiểm sát.
21. VKSND tỉnh Bắc Giang
Về khó khăn:
- Án hành chính, vụ, việc KDTM, LĐ liên quan đến nhiều lĩnh vực, do nhiều ngành luật điều chỉnh, ban hành kèm theo là các Thông tư, Nghị định, Quyết định hướng dẫn thực hiện và còn liên tục sửa đổi, bổ sung...nhưng hiện chưa được hệ thống hóa, cập nhật đầy đủ, thường xuyên. Mặt khác, Pháp luật ở một số lĩnh vực sau khi có hiệu lực thi hành nhưng việc ban hành hướng dẫn còn chậm, không kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc khi triển khai thực hiện.
- Do biên chế cán bộ phân bổ cho địa phương có hạn, khối lượng công việc ngày càng gia tăng nên hầu hết cán bộ, KSV làm công tác này đều phải kiêm nhiệm làm công tác khác, do đó việc đầu tư nghiên cứu các văn bản qui phạm pháp luật liên quan không nhiều, nhiều lĩnh vực còn chưa nắm chắc, đầy đủ các quy định của pháp luật để vận dụng vào giải quyết vụ án nên đã phần nào ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát chung của ngành.
- Về khó khăn trong thực tế giải quyết vụ án hành chính: Đối với các vụ kiện mà bên bị kiện là cơ quan hành chính Nhà nước (UBND), thường UBND các cấp chậm cử người đại diện tham gia tố tụng, do đó đã làm chậm quá trình giải quyết án. Có những trường hợp phía UBND thường vắng mặt do bận việc cơ quan nên xin hoãn không đến làm việc, tham gia xét xử theo giấy triệu tập của tòa án hoặc không nắm rõ nội dung vụ việc nên trả lời không hết các câu hỏi của HĐXX hoặc của KSV để làm sáng tỏ nội dung vụ án...
- Về hệ thống biểu mẫu phục vụ công tác kiểm sỏt ỏn hành chớnh:
Ngay sau khi Luật tố tụng hành chính cú hiệu lực, VKSND tối cao đã ban hành tạm thời hệ thống biểu mẫu phục vụ công tác kiểm sát, tạo nhiều thuận lợi cho cán bộ, KSV thực hiện nhiệm vụ trong công tác này. Tuy nhiên, đến nay qua nghiên cứu và sử dụng hệ thống biểu mẫu do VKS tối cao ban hành nhận thấy có một số biểu mẫu không phù hợp với qui định của pháp luật tố tụng nhưng chưa được VKS tối cao ban hành thay thế.
Về vướng mắc nghiệp vụ:
- Về tuyên lãi suất chậm thi hành án trong các vụ án KDTM:
Qua công tác kiểm sát việc Tòa án giải quyết các vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” trên phạm vi toàn tỉnh thì thấy còn có quan điểm khác nhau về tuyên buộc bị đơn phải chịu lãi suất nếu chậm thi hành án như: Có bản án, quyết định tuyên bị đơn phải chịu lãi suất theo mức lãi suất cơ bản (áp dụng khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự), nhưng có vụ lại tuyên phải chịu mức lãi suất quá hạn do Ngân hàng nhà nước công bố tại thời điểm trả nợ (áp dụng Điều 306 Luật thương mại).
Khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự qui định về trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự; Điều 306 Luật thương mại qui định về quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán khi các bên xảy ra tranh chấp hợp đồng. Nội hàm của hai điều luật này không đề cập đến vấn đề trách nhiệm của bên có nghĩa vụ phải trả lãi theo mức lãi suất nào nếu chậm thi hành án (sau khi có bản án) nên dẫn đến mỗi Tòa án hiểu và vận dụng khác nhau (như nêu trên), nhưng hiện chưa có hướng dẫn vấn đề này.
- Về giải quyết án phí trong các vụ án KDTM (tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa) thỏa thuận được trước khi mở phiên tòa:
Khoản 3 Điều 131 Bộ luật TTDS qui định: “Trước khi mở phiên tòa, Tòa án tiến hành hòa giải nếu các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì họ chỉ phải chịu 50% mức án phí sơ thẩm...”. Tại khoản 11 Điều 27 Pháp lệnh án phí lệ phí Tòa án qui định “các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong trường hợp Tòa án tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tòa thì phải chịu 50% mức án phí qui định.
Hướng dẫn thi hành khoản 11 Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án, tại Điều 16 Nghị quyết số 01/2012/NQ- HĐTP ngày 13/6/2012 của HĐTP Tòa án tối cao chưa có hướng dẫn tính án phí đối với các loại tranh chấp về tài sản, mua bán hàng hóa (chỉ hướng dẫn trong vụ án ly hôn) nên hiện nay tại địa phương mỗi Tòa án vận dụng một khác: Có Tòa án buộc bên bị đơn phải chịu 50% mức án phí qui định (theo nguyên tắc bên vi phạm nghĩa vụ phải chịu), có Tòa án buộc cả nguyên đơn, bị đơn cùng chịu 50% mức án phí qui định (theo cách hiểu “họ”, “các bên” là cả hai cùng phải chịu).
Vì vậy, đề nghị Viện KSND tối cao phối hợp với liên ngành sớm có giải đáp, hướng dẫn các địa phương để công tác kiến nghị, kháng nghị của VKS đạt hiệu quả cao hơn.
- Về đại diện hộ gia đình tham gia tố tụng hành chính:
Hiện còn có quan điểm khác nhau về xác định tư cách người khởi kiện trong vụ khiếu kiện quyết định thu hồi đất và quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình: Có Tòa án xác định người khởi kiện là chủ hộ (theo sổ hộ khẩu), đại diện cho hộ gia đình tham gia tố tụng mà không cần có văn bản ủy quyền của các thành viên còn lại trong gia đình và không đưa các thành viên khác tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Nhưng có Tòa án lại xác định người khởi kiện là chủ hộ (theo sổ hộ khẩu) và đưa các thành viên khác tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Vấn đề này liên ngành Tòa án- VKS cũng chưa có hướng dẫn.
- Về việc khởi kiện và trả lại đơn khởi kiện:
Khoản 2 Điều 105 Luật TTHC quy định, ngoài đơn khởi kiện, người khởi kiện còn phải nộp kèm tài liệu chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp nhưng đến nay vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể là tài liệu này bao gồm những gì. Điều này gây khó khăn không nhỏ cho người khởi kiện vì trình độ hiểu biết của họ còn hạn chế, khó đánh giá cái nào là chứng cứ cần có và họ cũng không dễ dàng tìm kiếm, thu thập được.
Quy định của Luật TTHC về việc trả lại đơn khởi kiện với lý do “chưa đủ điều kiện khởi kiện” còn rất chung chung, dễ dẫn tới nhiều cách hiểu, áp dụng khác nhau. Đồng thời, trường hợp người khởi kiện đã nêu lý do không thể cung cấp được bản chính quyết định hành chính thì Toà án có thụ lý không và thế nào là “chưa đủ điều kiện khởi kiện” thì chưa được hướng dẫn?.
- Về trường hợp UBND tỉnh điều chỉnh qui hoạch (sử dụng đất) chung không đúng qui định tại Điều 27 Luật đất đai năm 2003 (không có sự điều chỉnh mục tiêu phát triển kinh tế, XH, QP, AN đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt mà sự điều chỉnh đó làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất...), sau đó có quyết định thu hồi đất của tổ chức và cho doanh nghiệp khác thuê để kinh doanh dịch vụ. Tổ chức có đất bị thu hồi khởi kiện vụ án hành chính đề nghị hủy quyết định thu hồi đất, hủy quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất (do không được bồi thường về đất).
Vậy, trong trường hợp này hành vi điều chỉnh qui hoạch sử dụng đất của UBND tỉnh mà người khởi kiện không nêu căn cứ này có là căn cứ để hủy quyết định thu hồi đất không? Đề nghị Vụ giải đáp.
Về kinh nghiệm nghiệp vụ
- Trước hết cán bộ, KSV phải thường xuyên cập nhật thông tin, tài liệu về việc ban hành, điều chỉnh, thay đổi chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước về cỏc lĩnh vực này. Quá trình cập nhật thông tin là quá trình tích luỹ kiến thức để nắm vững pháp luật, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để vận dụng vào giải quyết từng vụ, việc cụ thể mới đảm bảo tính chính xác, đúng đắn.
- Án hành chính, vụ, việc KDTM, LĐ là loại án khó, phức tạp, do đó khi kiểm sát giải quyết vụ án phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, nghiên cứu kỹ nội dung tài liệu, chứng cứ do hai bên đương sự giao nộp, cung cấp, không coi nhẹ, coi nặng tài liệu, chứng cứ của bên nào. Cần nắm rõ yêu cầu của người khởi kiện, người bị kiện để xác định cần phải đưa ai vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và mới đánh giá việc thu thập tài liệu, chứng cứ đã đầy đủ và đảm bảo về thủ tục tố tụng chưa? Để từ đó đưa ra ý kiến nhận xét, đề xuất đường lối giải quyết vụ án đảm bảo chính xác, khách quan, đúng qui định của pháp luật.
Ngoài ra, do các loại án này liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật như Luật hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự, Luật đất đai, Luật nhà ở, Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất, Luật khiếu nại…và nhiều Nghị định, Thông tư hướng dẫn. Do vậy phải tích cực, chịu khó nghiên cứu, chịu khó tìm tòi, học hỏi để trau dồi kiến thức, tích luỹ kinh nghiệm nhằm nâng cao trình độ nghề nghiệp bản thân mới đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ của khâu công tác.
* Về giải pháp:
- Lãnh đạo các đơn vị phải thường xuyờn quán triệt cho cán bộ, Kiểm sát viên trong ngành thực hiện công tác này nhận thức đúng đắn và đầy đủ những nội dung của Bộ luật tố tụng tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011, Luật tố tụng hành chính và những văn bản hướng dẫn về nghiệp vụ.
- Cán bộ, Kiểm sát viên được phân công ở khâu công tác này phải nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công tác. Tích cực học tập, nghiên cứu để nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tích luỹ kinh nghiệm nghiệp vụ để ứng dụng vào thực tiễn hoạt động công tác kiểm sát. Tích cực phấn đầu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
- Lãnh đạo viện kiểm sát nhân dân cấp huyện phải quan tâm đúng mức, xác định đúng về hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính là nặng nề hơn, khó khăn hơn trước đây, bởi hầu hết những vụ án mà Toà án đưa ra xét xử đều có Kiểm sát viên tham gia phiên toà. Do đó cần chú trọng sắp xếp, bố trí hợp lý cán bộ, KSV có trình độ, kinh nghiệm cho khâu công tác này.
- Các đơn vị tăng cường tự đào tạo, bồi dưỡng về kỹ năng phát hiện vi phạm, xây dựng văn bản kiến nghị, kháng nghị cho đội ngũ Kiểm sát viên, chuyên viên làm công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự, hành chính.
- Viện kiểm sát tỉnh tăng cường thông báo rút kinh nghiệm đối với những vụ án do Viện kiểm sát kháng nghị có chất lượng tốt, những vụ án Tòa án có vi phạm nhưng qua công tác kiểm sát tại phiên tòa Kiểm sát viên không phát hiện được đẫn đến phải hủy, sửa án sơ thẩm và thường xuyên kiểm tra để kịp thời phát hiện thiếu sót, tồn tại để sửa chữa uốn nắn kịp thời sai sót trong khâu công tác này.
- Tăng cường công tác phối hợp giữa các phòng nghiệp vụ trong đơn vị và giữa Viện kiểm sát cấp huyện, Phòng nghiệp vụ với Viện kiểm sát cấp trên; tăng cường, chủ động phối hợp với Toà án cùng cấp để kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc nảy sinh trong thực tiễn.
Tổng hợp