Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 là công cụ pháp lý và là cơ sở quan trọng để cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong đó có Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng kiểm sát trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự...
Một số hạn chế trong việc tham gia phiên tòa dân sự của Kiểm sát viên
Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 là công cụ pháp lý và là cơ sở quan trọng để cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong đó có Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng kiểm sát trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự.
Trong những năm qua, thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ công tác, được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp đã ý thức trách nhiệm đối với công việc được giao, Kiểm sát viên Viện kiểm sát hai cấp đã chú trọng việc học tập, rèn luyện nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa xét xử các vụ, việc dân sự, đảm bảo quá trình giải quyết các vụ việc dân sự kịp thời, đúng quy định của pháp luật và góp phần nâng cao vị thế, vai trò của Kiểm sát viên và ngành kiểm sát nhân dân.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc tham gia phiên tòa dân sự trong thời gian qua của Kiểm sát viên Viện kiểm sát còn bộc lộ một số hạn chế về nhận thức pháp luật; về vai trò, trách nhiệm của Kiểm sát viên; kĩ năng kiểm sát tại phiên tòa làm ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả công tác kiểm sát giải quyết các vụ, việc dân sự.
Về nhận thức pháp luật
Một số Kiểm sát viên nhận thức chưa đúng, đầy đủ về vị trí, vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát và Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa xét xử các vụ án dân sự (nhất là Kiểm sát viên cấp huyện) nên không nhận thức được quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã vi phạm tố tụng. Một số vụ án, Kiểm sát viên chỉ quan tâm đến việc chấp hành pháp luật về tố tụng, coi nhẹ hoặc không chú trọng đến nội dung vụ án nên khi vụ án có vi phạm nghiêm trọng về áp dụng pháp luật nhưng Kiểm sát viên không biết. Ngoài ra, có vụ án giữa Kiểm sát viên và Thẩm phán trong quá trình giải quyết chưa có sự phối hợp chặt chẽ, trao đổi thông tin cần thiết liên quan đến việc giải quyết vụ án, nên khi Thẩm phán Tòa án thẩm định, định giá tài sản không đúng, việc thu thập chứng cứ không đầy đủ hoặc thu thập nhưng không cung cấp đầy đủ cho Viện kiểm sát trước khi tiến hành xét xử gây khó khăn cho Viện kiểm sát trong việc đánh giá chứng cứ và đề xuất đường lối giải quyết vụ án song Kiểm sát viên không phát hiện được để báo cáo Lãnh đạo kiến nghị kịp thời.
Việc nghiên cứu hồ sơ vụ án
Một số Kiểm sát viên vẫn còn nhận thức việc cung cấp tài liệu chứng cứ và việc thu thập chứng cứ của cơ quan Tòa án là thuộc trách nhiệm của Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án. Dẫn tới trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Kiểm sát viên chưa có sự phối hợp với Thẩm phán trong hoạt động này. Quá trình nghiên cứu hồ sơ vẫn còn trường hợp Kiểm sát viên nghiên cứu không hết, không đầy đủ tài liệu nên không phát hiện được những vi phạm về tố tụng và vi phạm trong quá trình thu thập, sử dụng chứng cứ của Thẩm phán. Vì vậy, Hội đồng xét xử ban hành bản án không đúng quy định của pháp luật song Kiểm sát viên không phát hiện được để báo cáo kháng nghị nên cấp phúc thẩm phải hủy án để giải quyết lại vụ án. Một số vụ án Kiểm sát viên lập hồ sơ kiểm sát còn sơ sài, lạm dụng việc phô tô các tài liệu dẫn đến việc báo cáo án chưa chính xác; khi tham gia phiên tòa lúng túng trong việc dẫn chiếu tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ.
Về kỹ năng tại phiên tòa của Kiểm sát viên
Tư thế, tác phong: Vẫn còn có Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa tư thế tác phong chưa nghiêm túc, mặc chưa đúng trang phục của ngành kiểm sát theo quy định. Có Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa có đông người tham dự còn thiếu tự tin, lúng túng chưa thể hiện được vị thế của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát.
Trong phần thủ tục phiên tòa: Một số vụ án, Hội đồng xét xử không giải thích và phổ biến đầy đủ nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng xét xử, của Kiểm sát viên; quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự (nhất là các vụ án có đông người tham gia tố tụng) nhưng Kiểm sát viên không phát hiện được vi phạm để kịp thời yêu cầu Hội đồng xét xử khắc phục sửa chữa
Trong phần hỏi: Hầu hết Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa đều có dự kiến các câu hỏi, dự kiến các tình huống có thể phát sinh tại phiên tòa. Tuy nhiên, do theo dõi không kịp, không chặt chẽ phần hỏi, chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm dẫn tới còn có Kiểm sát viên tham gia hỏi không có chất lượng, hỏi trùng lặp những câu mà Hội đồng xét xử đã hỏi làm rõ, chỉ hỏi về việc chấp hành pháp luật tố tụng, không phát hiện được vi phạm trong thủ tục hỏi của Hội đồng xét xử: có phiên tòa, Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên vi phạm thứ tự hỏi theo Điều 222 Bộ luật tố tụng dân sự, không phân định rõ việc hỏi và việc tranh luận tại phiên tòa, không hỏi để làm rõ một số nội dung quan trọng để làm căn cứ giải quyết vụ án. Khi đương sự xuất trình chứng cứ mới tại phiên tòa, Hội đồng xét xử không yêu cầu nộp lại, Kiểm sát viên không phát hiện được vi phạm này; có phiên tòa Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên chưa hỏi rõ nghề nghiệp, thu nhập của các đương sự, đây là căn cứ quan trọng để xác định và chia tài sản đang có tranh chấp trong vụ án; có phiên tòa các bên đương sự có tranh chấp với nhau về số tiền chơi hụi họ tuy nhiên Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên không hỏi để làm rõ hình thức các đương sự chơi hụi, họ như thế nào để làm một trong những căn cứ giải quyết vụ án; có vụ, trong phần hỏi, Hội đồng xét xử không để cho các đương sự tự thỏa thuận với nhau về đường lối giải quyết vụ án, vi phạm của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên không phát hiện được để yêu cầu Hội đồng xét xử khắc phục; có vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản, các nguyên đơn đã cho bị đơn vay một số tiền và vàng, tại phiên tòa, các nguyên đơn vẫn yêu cầu bị đơn trả tiền, vàng đã vay và lãi suất theo quy định nhưng Tòa án đã chấp nhận để các đương sự tính lãi số vàng cho vay là đã vi phạm Thông tư liên tịch số 01 ngày 19/6/1997 của Tòa án tối cao – Viện kiểm sát tối cao – Bộ tư pháp – Bộ tài chính nhưng Kiểm sát viên đã không phát hiện được vi phạm để đề xuất kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; có vụ trong phần hỏi, Kiểm sát viên còn hỏi lại một số câu hỏi mà Hội đồng xét xử đã hỏi, Kiểm sát viên yêu cầu đương sự trả lời cho Viện kiểm sát, yêu cầu Hội đồng xét xử trích đọc lời khai của một đương sự vắng mặt tuy nhiên yêu cầu của Kiểm sát viên không được Hội đồng xét xử chấp nhận nhưng Kiểm sát viên không xử lý tình huống này làm ảnh hưởng đến vị trí, vai trò của Kiểm sát viên tại phiên tòa; Một số phiên tòa, trong phần hỏi Hội đồng xét xử không yêu cầu đương sự đứng khai tại bàn khai nhưng Kiểm sát viên không yêu cầu Hội đồng xét xử khắc phục vi phạm này, Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên không kịp thời, không nhắc nhở đương sự xưng hô không đúng mực khi trả lời câu hỏi của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên như: Xưng em, cháu với Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên; gọi thành viên trong Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên là anh, chị…
Phát biểu của Kiểm sát viên: Vẫn còn có một số Kiểm sát viên khi phát biểu đọc còn nhanh, không có điểm nhấn, không thoát ly với tài liệu đã chuẩn bị sẵn. Còn có Kiểm sát viên khi phát biểu quan điểm đã không kịp thời bổ sung kết quả phần hỏi và phần tranh luận tại phiên tòa, dẫn tới quan điểm của Viện kiểm sát do Kiểm sát viên trình bày chưa phản ánh quá trình diễn biến tại phiên tòa và chưa có tính thuyết phục như: Bài phát biểu của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong vụ án yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Kiểm sát viên đã không kịp thời phát biểu về việc vắng mặt của bị đơn và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; các vi phạm của Hội đồng xét xử và của một số đương sự cũng không được đề cập và kiến nghị trong bài phát biểu; có bài phát biểu do Kiểm sát viên trình bày không bổ sung những diễn biến mới trong phần hỏi, phần tranh luận,…
TH