Vào các ngày 15 và 16/01/2013, Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức Hội nghị triển khai nhiệm vụ công tác năm 2013. Tại Hội nghị, đại diện Lãnh đạo một số đơn vị trong Ngành đã trình bày các tham luận nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nhân dân. Trang tin điện tử Viện kiểm sát nhân dân tối cao trích đăng một số bài tham luận để ban đọc tham khảo...
Một số Tham luận nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nhân dân
Vào các ngày 15 và 16/01/2013, Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức Hội nghị triển khai nhiệm vụ công tác năm 2013. Tại Hội nghị, đại diện Lãnh đạo một số đơn vị trong Ngành đã trình bày các tham luận nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nhân dân. Trang tin điện tử Viện kiểm sát nhân dân tối cao trích đăng một số bài tham luận để ban đọc tham khảo.
1. Nâng cao chất lượng giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, tăng cường công tác phòng ngừa vi phạm, tội phạm trong hoạt động tư pháp đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và đấu tranh phòng chống tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp trong tình hình mới
Trong năm 2012, tuy có nhiều biến động lớn về tổ chức, nhưng được sự quan tâm của Ban cán sự Đảng và lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cùng sự nỗ lực phấn đấu của đội ngũ Điều tra viên, của tập thể cán bộ, công chức và sự phối hợp, hỗ trợ của các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát nhân dân địa phương nên chất lượng, hiệu quả công tác năm 2012 của Cục Điều tra tiếp tục được nâng cao. Các chỉ tiêu công tác quan trọng đều đạt hoặc vượt so với chỉ tiêu của Ngành và tăng cao hơn so với năm 2011. Cụ thể: Tỷ lệ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đạt 76,02%, vượt chỉ tiêu của ngành 6,02% và tăng 26,02% so với năm 2011. Các vụ án khởi tố và thụ lý điều tra giải quyết đều đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Không có vụ án nào phải đình chỉ điều tra vì không phạm tội hoặc đề nghị truy tố, sau đó Tòa án tuyên không phạm tội. Không có vụ án nào phải hủy để điều tra lại. Tỷ lệ án trả hồ sơ để điều tra bổ sung thấp (2,27%). Công tác phòng ngừa vi phạm, tội phạm trong hoạt động tư pháp được đẩy mạnh, đã ban hành 70 kiến nghị xử lý và phòng ngừa vi phạm, tăng 15 kiến nghị (27,2%) so với năm 2011. Hoạt động điều tra của Cục Điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã thực sự phát huy hiệu quả, thực sự là cánh tay nối dài của hoạt động công tố, là công cụ sắc bén, có tác dụng quan trọng bảo đảm và hỗ trợ tích cực để thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, góp phần nâng cao uy tín và vị thế của Ngành, thực hiện có hiệu quả chủ trương: “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra”; kịp thời chấn chỉnh, khắc phục vi phạm, tội phạm trong hoạt động tư pháp; góp phần củng cố, nâng cao uy tín và bảo đảm sự trong sạch, vững mạnh của các cơ quan tư pháp, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới.
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác điều tra, Cục Điều tra xác định đổi mới công tác tiếp nhận, thu thập và giải quyết tố giác, tin báo tội phạm thuộc thẩm quyền là một trong các khâu công tác đột phá. Cục Điều tra đã xây dựng, kiện toàn hệ thống sổ nghiệp vụ, xây dựng quy trình tiếp nhận, phân loại, xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm khoa học, chặt chẽ. Cục Điều tra thường xuyên tiến hành rà soát, phân định thông tin vi phạm, tội phạm với tố giác, tin báo về tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, quản lý thống nhất bằng hệ thống sổ nghiệp vụ. Các thông tin vi phạm, tội phạm từ các nguồn chuyển đến đều được cập nhật và nghiên cứu phân loại đầy đủ, kịp thời. Thông qua đó, lãnh đạo Cục Điều tra nắm được đầy đủ vấn đề, diễn biến tình hình vi phạm, tội phạm xảy ra, chỉ đạo các phòng nghiệp vụ, phân công Điều tra viên xây dựng và thực hiện kế hoạch kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo đúng thời hạn, có chất lượng và hiệu quả.
Cục Điều tra đã phối hợp với Vụ 1A tổ chức Hội nghị sơ kết công tác phối hợp; đồng thời ký Quy định số 02 ngày 15/6/2012 về quan hệ phối hợp giữa hai đơn vị trong công tác tiếp nhận, giải quyết và kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và điều tra, truy tố các vụ án hình sự để thay thế quy định cũ không còn phù hợp với thực tế. Vụ 1A thường xuyên cử cán bộ để kiểm sát việc tiếp nhận, phân loại, cập nhật vào sổ quản lý tố giác, tin báo về tội phạm thuộc thẩm quyền; đồng thời, phân công Kiểm sát viên kiểm sát ngay từ đầu việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm. Quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, Kiểm sát viên và Điều tra viên bàn bạc, trao đổi, kịp thời xử lý những nội dung phát sinh. Sau khi có kết quả xác minh, Cục Điều tra và Vụ 1A đều có sự đánh giá thống nhất xác định có tội phạm thì khởi tố điều tra theo luật định, nếu không có tội phạm mà chỉ là vi phạm thì ra quyết định không khởi tố vụ án, đồng thời ban hành kiến nghị phòng ngừa vi phạm, tội phạm đến các cơ quan hữu quan để có biện pháp xử lý, khắc phục, đảm bảo không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
Cục Điều tra đã tổ chức Hội nghị tập huấn toàn ngành về Quy chế tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan Điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, ban hành kèm theo Quyết định số 116/2011/QĐ-VKSTC-C6 ngày 14/4/2011 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Kết quả Hội nghị đã tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát nhân dân địa phương về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, vai trò của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nhân dân. Từ đó, trong quá trình hoạt động các đơn vị đã chủ động, tích cực phát hiện những vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp, cung cấp đầy đủ, kịp thời đến Cục Điều tra để tổ chức kiểm tra, xác minh theo quy định của pháp luật, giúp Cục Điều tra hoàn thành tốt nhiệm vụ. Việc phối hợp chặt chẽ giữa Cục Điều tra với các đơn vị nghiệp vụ trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát nhân dân địa phương trong việc tiếp nhận, thu thập và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đã góp phần tích cực nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác này, tỷ lệ giải quyết tố giác, tin báo tội phạm được nâng lên rõ rệt, việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đúng pháp luật, đúng thời hạn, đảm bảo chất lượng, hiệu quả. Điển hình, một số đơn vị phối hợp có hiệu quả là: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông, tỉnh Hải Dương, tỉnh Quảng Ngãi, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng, Cần Thơ, Đồng Tháp, Lâm Đồng...
Trong quá trình đổi mới về tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, quan điểm chỉ đạo của Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao là việc đổi mới phải đáp ứng được tính chất đặc thù đấu tranh phòng chống tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp ở nước ta và xu hướng tội phạm này trong thời gian tới; với phương châm “vừa chống, vừa xây” lấy “xây” là chủ đạo. Một mặt phải phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh các hành vi phạm tội đồng thời phải chú trọng làm rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm để kiến nghị các giải pháp phòng ngừa và hoàn thiện pháp luật. Coi việc giảm vi phạm, tội phạm trong hoạt động tư pháp là mục tiêu chính cần hướng tới. Năm 2012, công tác phòng ngừa vi phạm, tội phạm trong hoạt động tư pháp được Cục Điều tra đặc biệt chú trọng, coi đây là một nhiệm vụ trọng tâm. Cục Điều tra đã ban hành 70 bản kiến nghị đến các cơ quan Tư pháp Trung ương và địa phương để xử lý và phòng ngừa vi phạm, tội phạm, trong đó: 34 kiến nghị ngành Công an, 16kiến nghị ngành Toà án; 08 kiến nghị ngành Thi hành án dân sự; 07 kiến nghị ngành Kiểm sát và 05 kiến nghị ngành khác. Kiến nghị xử lý 108 cán bộ trong các cơ quan tư pháp có vi phạm trong khi thực thi nhiệm vụ. Các kiến nghị đều được các cơ quan hữu quan tiếp thu và tổ chức thực hiện. Quán triệt và thực hiện quan điểm chỉ đạo của Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong năm 2013 và những năm tiếp theo, Cục Điều tra tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa vi phạm, tội phạm trong hoạt động tư pháp. Hoạt động phòng ngừa không chỉ dừng ở những vụ việc cụ thể mà trên cơ sở tổng hợp những vi phạm, thiếu sót, sơ hở có tính hệ thống, phổ biến trong từng ngành, từng lĩnh vực để có kiến nghị chung đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chỉ đạo khắc phục.
Tóm lại, trong những năm qua hoạt động của Cục Điều tra có nhiều chuyển biến tích cực nhưng kết quả đạt được mới chỉ là bước đầu. Cục Điều tra cần tiếp tục đổi mới và hoàn thiện, cần nghiêm túc khắc phục những tồn tại, hạn chế. Để nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả công tác, đáp ứng được sự mong đợi và tin cậy của Đảng và Nhà nước, của ngành Kiểm sát nhân dân. Cục Điều tra đề nghị:
- Ban Cán sự Đảng và Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao tiếp tục quan tâm chỉ đạo và tạo điều kiện giúp Cục Điều tra hoàn thành tốt nhiệm vụ.
- Các đơn vị nghiệp vụ trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát nhân dân địa phương tiếp tục phối hợp chặt chẽ, hỗ trợ tích cực có hiệu quả với Cục Điều tra trong thực hiện Quy chế 116 và các hoạt động điều tra.
- Để tạo điều kiện giúp Cục Điều tra tăng cường, kiện toàn bộ máy tổ chức và biên chế, Cục Điều tra đề nghị các đơn vị nghiệp vụ trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát nhân dân địa phương giới thiệu và tạo điều kiện cho các cán bộ có phẩm chất, có năng lực được đến công tác tại Cục Điều tra.
- Hiện nay, Cục Điều tra được giao thực hiện Đề án “Thực trạng và giải pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động tư pháp”. Đây là đề án hết sức quan trọng có liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp cơ quan tư pháp, Cục Điều tra đề nghị các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát nhân dân địa phương tích cực phối hợp và hỗ trợ giúp Cục Điều tra hoàn thành đề án có chất lượng, hiệu quả.
2. Các biện pháp nâng cao chất lượng kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh
Công tác phân loại xử lý tin báo, tố giác tội phạm có vai trò rất quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, là giai đoạn mấu chốt xác định có hay không có tội phạm xảy ra để quyết định việc khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự, nhằm tránh bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội. Đây là giai đoạn đầu Viện kiểm sát thực hiện tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với điều tra theo tinh thần Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị.
Xuất phát từ tầm quan trọng của việc phân loại xử lý tin báo, tố giác tội phạm, Ban cán sự Đảng, Lãnh đạo VKSND tỉnh Quảng Ninh đã xác định: Phải đổi mới trong chỉ đạo điều hành, từ quán triệt nâng cao nhận thức đến tổ chức thực hiện các biện pháp, nhằm nâng cao chất lượng kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm.
Trước hết, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh xác định là phải nâng cao nhận thức cho Kiểm sát viên. Quán triệt cho Kiểm sát viên Nghị quyết 08, Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị, Chỉ thị của Viện trưởng VKSNDTC và Hướng dẫn của Vụ nghiệp vụ về vai trò quan trọng và các biện pháp, kỹ năng để làm tốt công tác kiểm sát việc phân loại, xử lý tin báo, tố giác tội phạm của cơ quan điều tra và các cơ quan có chức năng thực hiện một số hoạt động điều tra ban đầu.
Với điều kiện pháp luật tố tụng hình sự của nước ta chưa quy định rõ các quyền năng, biện pháp của VKS trong kiểm sát việc phân loại, xử lý tin báo, tố giác tội phạm (Điều 103 BLTTHS quy định VKS kiểm sát tin báo tố giác tội phạm nhưng chưa có thông tư hướng dẫn làm như thế nào, các ngành cung cấp tin báo cho VKS ra sao nên nhiều địa phương khó khăn, lúng túng trong hoạt động kiểm sát tin báo, tố giác tội phạm). Nhiều hành vi có dấu hiệu tội phạm ở các lĩnh vực kinh tế, tham nhũng, sở hữu, môi trường chậm được khởi tố, điều tra; một số vụ chuyển xử lý hành chính dẫn đến bỏ lọt tội phạm…Để khắc phục tình trạng đó, ngay từ năm 2007, Lãnh đạo VKS tỉnh đã chủ trì ký Quy chế phối hợp với 07 ngành: Công an, Bộ đội biên phòng, Kiểm lâm, Hải quan, Quản lý thị trường, Thuế, Thanh tra Nhà nước cùng cấp về phân loại xử lý tin báo, tố giác tội phạm và giao cho Phòng 1 theo dõi chỉ đạo trên toàn tỉnh (từ năm 2011 giao cho Phòng 1A theo dõi chuyên đề này), ở mỗi đơn vị đều phân công Lãnh đạo phụ trách, cán bộ thực hiện theo dõi chuyên đề.
Đồng thời chỉ đạo các VKS cấp huyện đồng loạt chủ trì ký Quy chế phối hợp với Cơ quan điều tra và một số ngành chức năng tại địa phương. Theo đó, các ngành chủ động báo tin cho VKS khi phát hiện có tội phạm xảy ra để VKS kiểm sát việc phân loại. Định kỳ tháng, quý các ngành báo cáo số tin báo, tố giác đã tiếp nhận, phân loại, xử lý chuyển về VKS để VKS tổng hợp và ra thông báo chung.
Đặc biệt, để hạn chế thấp nhất việc bỏ lọt tội phạm ngay từ cơ sở, năm 2010, VKS tỉnh đã chỉ đạo điểm 2 huyện Vân Đồn, Đông Triều ký Quy chế phối hợp với Công an xã, riêng VKS Cẩm Phả đã tranh thủ được sự chỉ đạo của cấp ủy Chỉ đạo Công an Thị xã ký Quy chế với VKS, từ đó yêu cầu Công an các phường trên địa bàn chủ động cung cấp tin báo cho VKS, VKS trực tiếp đối chiếu, kiểm tra việc giải quyết tin báo của Công an các phường, xã, nên có nhiều thông tin về tội phạm được khởi tố. Năm 2011, VKS tỉnh tiếp tục chỉ đạo nhân lên đồng loạt trong toàn tỉnh. Có đơn vị ký với Ủy ban nhân dân xã để Ủy ban chỉ đạo Công an xã thực hiện. Qua thực hiện đã yêu cầu khởi tố một số vụ án qua kiểm sát việc giải quyết tin báo của Công an cấp xã.
Năm 2012, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tiếp tục chỉ đạo nhân lên công tác này. Về phía VKS tỉnh: Lãnh đạo VKS tỉnh chỉ đạo 3 phòng KSĐT và 14 VKS cấp huyện kiểm sát trực tiếp việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm của Cơ quan điều tra cùng cấp. Chủ động xây dựng hệ thống mẫu kiểm sát trực tiếp để thực hiện. Đồng thời, thông qua tình trạng một số vụ việc vận chuyển hàng hóa trái phép hoặc buôn lậu qua biên giới có dấu hiệu hình sự nhưng các cơ quan chức năng đã đề nghị UBND tỉnh xử phạt hành chính, VKS tỉnh đã có công văn gửi UBND tỉnh đề nghị khi có các vụ việc do các cơ quan chức năng chuyển đến mà hàng hóa trị giá đến gần 100 triệu đồng nếu có dấu hiệu tội phạm thì chuyển hồ sơ cho VKS nghiên cứu trước khi quyết định xử phạt để hạn chế việc hành chính hóa hành vi phạm tội. Qua đó, VKSND tỉnh đã yêu cầu khởi tố được 5 vụ án hình sự về các tội vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và Kinh doanh trái phép.
Về phía các VKS cấp huyện tiếp tục rà soát bổ sung sửa đổi quy chế đã ký kết từ trước. Bên cạnh đó tranh thủ sự lãnh đạo của cấp ủy địa phương chỉ đạo UBND thị trấn hoặc chỉ đạo Cơ quan điều tra thị xã, thành phố yêu cầu Công an các phường ký Quy chế phối hợp trong giải quyết tin báo với VKS nhằm hạn chế việc bỏ lọt tội phạm ngay từ cơ sở. Một số VKS cấp huyện còn chủ trì Hội nghị sơ kết thực hiện Quy chế phối hợp và ký Quy chế bổ sung với Cơ quan điều tra và Công an các xã, phường trên địa bàn, trong đó có VKS Quảng Yên và VKS huyện Vân Đồn tham mưu được cho cấp ủy, chính quyền chỉ đạo tổ chức Hội nghị sơ kết, khen thưởng cho các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc. VKS tỉnh đã 2 lần sơ, tổng kết với 8 Ngành.
Thực hiện quy chế phối hợp đã ký kết, cơ bảncác Ngành chủ động báo tin cho VKS khi phát hiện có tội phạm xảy ra để VKS phân loại xử lý. Hàng tuần, hàng tháng VKS trực tiếp đối chiếu số liệu tin báo đã tiếp nhận với các ngành (riêng các VKS cấp huyện còn đối chiếu với Công an cấp xã), từ đó đối chiếu ngược trở lại với Cơ quan điều tra để kịp thời yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố.
Bên cạnh đó, để chủ động trong việc tham gia phối hợp giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, Lãnh đạo 2 cấp phân công trực Lãnh đạo, trực Kiểm sát viên 24/24 giờ, kiểm sát 100% các vụ khám nghiệm hiện trường khi được Cơ quan điều tra thông báo; các vụ, việc nghiêm trọng đều do Lãnh đạo VKS 2 cấp trực tiếp tham gia khám nghiệm và phân loại trước khi khởi tố vụ án, đặc biệt trong lĩnh vực vi phạm giao thông.
Định kỳ tuần, tháng, Phòng Thống kê thông báo kết quả hoạt động trong đó có kết quả kiểm sát phân loại, xử lý tin báo, tố giác tội phạm, hoặc thông qua tuyên truyền trên Cổng Thông tin điện tử thành phần của VKS trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh cho các Phòng và các đơn vị nắm được. Các đợt giao ban quý, sơ kết 6 tháng, 9 tháng đều thông báo tiến độ, kết quả của từng đơn vị. Qua kiểm tra công tác đã kết hợp hướng dẫn kỹ năng nghiệp vụ, ngoài ra còn tổ chức tập huấn hàng năm.
Quá trình kiểm sát việc giải quyết tin báo, VKS đã bám sát quy định tại Điều 103 BLTTHS, chủ động trao đổi để cơ quan chức năng khởi tố. Đối với những vụ đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng Cơ quan điều tra không thực hiện, VKS đã kiên quyết yêu cầu khởi tố hoặc hủy quyết định không khởi tố, trực tiếp khởi tố vụ án, yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra…
Với các biện pháp nêu trên, trong năm 2012, VKS 2 cấp đã kiểm sát việc phân loại, xử lý 93% số tin báo, trong đó khởi tố hình sự chiếm 63,7 % số tin đã xử lý, không có tin báo nào quá hạn, đến nay đều đã giải quyết. Kiểm sát trực tiếp 19 cuộc tại Cơ quan điều tra Công an 2 cấp. Qua kiểm sát thường xuyên và kiểm sát trực tiếp, đã phát hiện các vi phạm như: vi phạm thời hạn giải quyết tin báo, chậm khởi tố hoặc ra quyết định không khởi tố không đúng, không tổ chức khám nghiệm hiện trường, không báo cho VKS tham gia khám nghiệm, vào sổ không đầy đủ…VKS đã hủy 01 quyết định không khởi tố vụ án và ra quyết định khởi tố vụ án về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện GTĐB; Yêu cầu Cơ quan điều tra và một số ngành có chức năng điều tra ban đầu khởi tố 78 vụ án trong đó có 11 vụ được phát hiện qua kiểm sát tin báo của Công an xã, 5 vụ từ việc nghiên cứu hồ sơ chuẩn bị xử phạt hành chính của UBND tỉnh; ban hành 41 kiến nghị khắc phục vi phạm, trong đó có 19 kiến nghị qua kiểm sát trực tiếp, (tăng 20 vụ yêu cầu khởi tố, 16 kiến nghị so với cùng kỳ). Các yêu cầu, kiến nghịcủa VKSđều được cơ quan liên quan tiếp thu thực hiện. Qua đó, vai trò của VKS 2 cấp trong việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm được đề cao, hạn chế việc bỏ lọt tội phạm ngay từ cơ sở, từng bước đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, góp phần vào việc ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.
Trên cơ sở kết quả đã đạt được, trong năm 2013 VKSND tỉnh Quảng Ninh dự kiến: Thông qua kiểm sát trực tiếp việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tốtại Cơ quan điều tra hai cấp, giao cho Phòng 1A tổng kết rút kinh nghiệm để đề ra các biện pháp thực hiện có hiệu quả hơn; triển khai việc kiểm sát trực tiếp việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm tại một số Cơ quan chức năng được giao tiến hành một số hoạt động điều tra như Hải quan, Kiểm Lâm, Bộ đội biên phòng...; Tiếp tục tăng cường các biện pháp nắm tố giác, tin báo tội phạm từ cấp phường xã.
Từ thực tế thực hiện ở địa phương, để tiếp tục nâng cao chất lượng kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, VKSND tỉnh Quảng Ninh rút ra những bài học kinh nghiệm sau đây:
Một là: Quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 08 và Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp, Chỉ thị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và hướng dẫn của các vụ nghiệp vụ, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động kiểm sát việc phân loại, xử lý tin báo, tố giác tội phạm. Đặc biệt, để làm tốt công tác phân loại, xử lý tin báo, tố giác tội phạm, phải tranh thủ được sự đồng tình của cấp ủy địa phương, hỗ trợ trong việc chỉ đạo UBND và các ngành liên quan cùng vào cuộc.
Hai là: Việc kiểm sát phân loại, xử lý tin báo, tố giác tội phạm phải được thực hiện từ cấp phường, xã, thị trấn, nhằm hạn chế việc bỏ lọt tội phạm ngay từ cơ sở.
Ba là: Đưa chỉ tiêu cụ thểvề kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm vào kế hoạch công tác hàng năm như: tỷ lệ giải quyết tin báo, số cuộc kiểm sát trực tiếp việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm của cơ quan chức năng, số vụ VKS trực tiếp khởi tố, yêu cầu khởi tố, kiến nghị khắc phục vi phạm, không để tin báo quá hạn giải quyết...coi đây là chỉ tiêu bắt buộc trong xét thi đua.
Bốn là: Khi tổ chức thực hiện phải phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng tập thể, cá nhân. Thường xuyên quan tâm đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ cho Kiểm sát viên nhất là kỹ năng kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm. Tăng cường kiểm tra, hướng dẫn giữa VKS cấp trên với VKS cấp dưới, giữa Lãnh đạo với Kiểm sát viên, chuyên viên trong từng đơn vị ; Định kỳ hàng tháng, hàng quý, 6 tháng, năm ra thông báo rút kinh nghiệm để kịp thời chấn chỉnh các tồn tại, thiếu sót.
Năm là: Định kỳ sơ, tổng kết, đánh giá kết quả, xác định các vấn đề còn tồn tại, tìm ra nguyên nhân, xác định trách nhiệm, rút ra các bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý tin báo.
Một số vướng mắc, kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh trong công tác này:
- Chưa có thông tư liên tịch giữa các ngành hướng dẫn thực hiện Điều 103 BLTTHS về việc các ngành cung cấp thông tin cho VKS, các phương thức để VKS thực hiện kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm của các ngành. Trong khi chờ sửa đổi BLTTHS, đề nghị VKSNDTC sớm ký thông tư liên tịch để làm căn cứ thực hiện.
- Có văn bản VKSNDTC ký với các ngành Trung ương, khi thực hiện ở cấp cơ sở còn vướng mắc. Ví dụ: Thông tư Liên tịch số 239/2009/TTLT- BTC-VKSNDTC-TANDTC giữa Bộ Tài Chính, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao: Tại Khoản 2 Điều 5 quy định: Những vụ thuộc thẩm quyền giải quyết của các Chi cục Hải quan do Cục Hải quan quyết định cung cấp cho VKS. Do vậy, ở Quảng Ninh, mặc dù các VKS cấp huyện đã ký quy chế phối hợp với Chi cục Hải quan nhưng khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm lại không được Chi cục Hải quan cung cấp hồ sơ để nghiên cứu, mà phải đợi Cục Hải quan đồng ý cung cấp. Do vậy nhiều vụ không được giải quyết kịp thời. Đề nghị VKSNDTC xem xét để thống nhất cùng Bộ tài chính và Tòa án nhân dân tối cao nghiên cứu sửa đổi để tạo thuận lợi cho cấp cơ sở thực hiện.
3. Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra.
Để khắc phục những hạn chế, tháo gỡ vướng mắc, khó khăn, nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra, thực hiện sự chỉ đạo của lãnh đạo VKSNDTC, năm 2012 Vụ 1A đã chủ trì và nhận được sự phối hợp chặt chẽ của các đơn vị hữu quan, Viện kiểm sát các địa phương để xây dựng, hoàn thiện Đề án “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn hoạt động công tố với hoạt động điều tra theo tinh thần cải cách tư pháp”. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của Đề án, thay mặt cho Vụ 1A, tôi xin được tham luận một số ý kiến sau:
Thứ nhất, chúng tôi nhận thức rằng, “tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn hoạt động công tố với hoạt động điều tra” là sự chủ động liên tục của Viện kiểm sát trong việc thực hiện đầy đủ các hành vi và quyết định công tố theo thẩm quyền do Bộ luật tố tụng hình sự quy định ngay từ khi Cơ quan điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, tiến hành các hoạt động điều tra trước khi khởi tố vụ án hình sự và trong suốt quá trình điều tra thu thập chứng cứ cho đến khi kết thúc điều tra. Ở đâu và khi nào Cơ quan điều tra tiến hành hoạt động điều tra thì ở đó đều phải có hoạt động công tố của Viện kiểm sát, bảo đảm mọi hành vi phạm tội được phát hiện đều phải được khởi tố, điều tra, xử lý kịp thời, nghiêm minh, không làm oan người không phạm tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội.
Thứ hai, chúng tôi cũng nhận thức rằng, hoạt động công tố trong hoạt động điều tra là hoạt động quyết định chính xác, kịp thời các nhiệm vụ tố tụng liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội, hạn chế các quyền cơ bản của công dân (bắt, tạm giữ, khởi tố, tạm giam…), việc xử lý vụ án trong giai đoạn điều tra phải được thực hiện song hành với hoạt động điều tra. Theo đó, chúng ta cần khắc phục tình trạng thụ động, chờ việc từ Cơ quan điều tra; chủ động nắm vững thông tin tội phạm xảy ra trên địa bàn, trong lĩnh vực được phân công phụ trách để yêu cầu Cơ quan điều tra xác minh đầy đủ, phân loại, xử lý chính xác, kịp thời các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đã tiếp nhận được; kiên quyết yêu cầu khởi tố đối với những vụ việc đã rõ các dấu hiệu tội phạm; kiểm sát chặt chẽ các căn cứ khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự, hủy bỏ kịp thời các quyết định khởi tố, không khởi tố vụ án không có căn cứ và trái pháp luật. Trong năm 2013, thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về công tác tư pháp, chúng ta cần có giải pháp để ngăn ngừa tình trạng Cơ quan điều tra bỏ sót, không thụ lý đầy đủ các tố giác, tin báo về tội phạm, bảo đảm đạt được thực chất các chỉ tiêu Quốc hội giao là xử lý đạt trên 90% tố giác, tin báo về tội phạm; khám phá các loại án đạt trên 70%, đối với các vụ trọng án trên 90%. Theo đó, chúng tôi đề nghị tăng cường biên chế Kiểm sát viên cho công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra; ít nhất có 01 Kiểm sát viên chuyên theo dõi, quản lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, ở các địa bàn có tình hình tội phạm phức tạp thì phải là 02 người; bảo đảm 24/24 h trong ngày đều có Kiểm sát viên trực kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi; nghiên cứu xét phê chuẩn việc bắt khẩn cấp.
Theo chúng tôi, hàng tuần, các đơn vị thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra cần tổ chức, đánh giá tình hình tội phạm xảy ra trên địa bàn, trong lĩnh vực được phân công phụ trách và kết quả xử lý các tố giác, tin báo về tội phạm của Cơ quan điều tra cùng cấp và báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát cấp mình; kịp thời báo cáo Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp những vụ việc mới nghiêm trọng, phức tạp có khó khăn, vướng mắc về đường lối giải quyết để có chỉ đạo tháo gỡ kịp thời.
Thứ ba, chúng tôi cho rằng, để tăng cường tính chế ước của Viện kiểm sát đối với hoạt động điều tra, bảo đảm các trường hợp phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra đều có căn cứ, đúng pháp luật và trong thời hạn luật định, thì trước khi xét phê chuẩn việc bắt khẩn cấp, xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, xét phê chuẩn việc tạm giam, chúng ta nên lấy lời khai người bị bắt, lấy lời khai người bị khởi tố, hỏi cung bị can. Đối với các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra không đủ căn cứ, chúng ta không phê chuẩn và yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng cứ; những quyết định tố tụng rõ ràng không có căn cứ và trái pháp luật hoặc không cần thiết thì kiên quyết không phê chuẩn. Sau khi phê chuẩn, chúng ta cần theo dõi, kiểm tra việc áp dụng, nhất là đối với biện pháp tạm giữ, tạm giam để kịp thời hủy bỏ khi thấy không cần thiết hoặc có thể thay thế bằng một biện pháp ngăn chặn khác. Khi hủy bỏ quyết định khởi tố bị can, đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án thì đồng thời cũng yêu cầu Cơ quan điều tra hoặc tự mình ra ngay quyết định hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đã áp dụng đối với các bị can.
Suy cho cùng thì Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đều có chung một nhiệm vụ là giải quyết vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, do đó cùng với việc tăng cường tính chế ước, chúng ta chủ động phối hợp chặt chẽ hơn với Cơ quan điều tra ngay từ khi xử lý tố giác, tin báo về tội phạm, khởi tố và trong suốt quá trình điều tra; tích cực trao đổi thông tin, tranh luận làm rõ tính đúng, sai để bảo đảm các quyết định công tố được ban hành chính xác, đúng pháp luật, vừa góp phần cùng Cơ quan điều tra nhanh chóng khám phá, kết thúc điều tra vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ.
Thứ tư, chúng tôi nhận thấy, yêu cầu điều tra, quyết định công tố xử lý vụ án kịp thời là nội dung rất quan trọng của hoạt động công tố trong hoạt động điều tra. Theo đó, chúng ta cần chủ động đề ra yêu cầu điều tra chung đối với toàn bộ vụ án ngay từ sau khi khởi tố, yêu cầu điều tra riêng trong từng hoạt động điều tra một cách có căn cứ, khả thi và thuyết phục; nắm chắc tiến độ điều tra đối với từng vụ án để đôn đốc điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra cung cấp cho Viện kiểm sát những tài liệu, chứng cứ thu thập được. Tài liệu, chứng cứ về vụ án thu thập được đến đâu thì trách nhiệm công tố là xử lý ngay đến đó; khắc phục tình trạng vụ án được khởi tố nhưng không tích cực điều tra hoặc đã có đủ tài liệu chứng cứ để xử lý nhưng không quyết định để việc giải quyết vụ án bị kéo dài. Đối với những trường hợp, Cơ quan điều tra không thực hiện các yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát, thì chúng ta cần làm rõ nguyên nhân vì sao; nếu không có lý do chính đáng thì ghi biên bản, yêu cầu Cơ quan điều tra đưa vào hồ sơ vụ án.
Mỗi Kiểm sát viên được phân công thụ lý án, đều phải lập hồ sơ kiểm sát với đầy đủ nội dung đối với từng vụ án theo đúng quy định; đồng thời mở sổ nhật ký thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra, cập nhật kịp thời các thông tin, diễn biến quá trình và tiến độ điều tra vụ án; phản ánh đầy đủ ý kiến của các cơ quan, người có thẩm quyền về vụ án và những yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát, của Kiểm sát viên đối với Cơ quan điều tra. Đây là biện pháp vừa để Kiểm sát viên nắm chắc vụ án, vừa là để đánh giá trách nhiệm, năng lực của Kiểm sát viên.
Thứ năm, theo chúng tôi để bảo đảm chất lượng kết thúc điều tra, hạn chế tối đa việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, trong mọi trường hợp trước khi kết thúc điều tra vụ án, Kiểm sát viên phải cùng với Điều tra viên kiểm tra, rà soát toàn bộ các tài liệu và các thủ tục tố tụng đã áp dụng đối với vụ án, phúc cung các bị can để tổng hợp đầy đủ lời nhận tội và không nhận tội của bị can, bảo đảm tính đầy đủ, hợp pháp của các chứng cứ và củng cố vững chắc hồ sơ vụ án hình sự; đối với những trường hợp chưa đủ căn cứ kết thúc điều tra thì nêu rõ lý do, yêu cầu cụ thể những vấn đề tiếp tục điều tra, bổ sung chứng cứ; nêu rõ những thiếu sót, vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra, các thủ tục tố tụng để Cơ quan điều tra khắc phục trước khi chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát.
Thứ sáu, chúng ta phải kiểm sát chặt chẽ các căn cứ pháp luật và lý do của từng trường hợp tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra; đôn đốc Cơ quan điều tra tích cực truy bắt bị can bỏ trốn, nếu thấy không còn căn cứ tạm đình chỉ thì phải yêu cầu Cơ quan điều tra phục hồi điều tra, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can; kiên quyết hủy bỏ các quyết định đình chỉ điều tra không có căn cứ và trái pháp luật và ra quyết định truy tố. Chúng tôi cũng đề nghị, định kỳ và bất thường, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp kiểm tra việc đình chỉ vụ án của Viện kiểm sát cấp dưới để kịp thời hủy bỏ các quyết định đình chỉ không có căn cứ, trái pháp luật và yêu cầu ra quyết định truy tố, bảo đảm chống bỏ lọt tội phạm và người phạm tội.
Thứ bảy, từng Kiểm sát viên cần tích lũy vi phạm, mỗi cấp kiểm sát phải mở sổ theo dõi, tổng hợp vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra; tham mưu cho Viện trưởng Viện kiểm sát cấp mình có văn bản kiến nghị, yêu cầu Cơ quan điều tra có biện pháp chấn chỉnh, khắc phục. Những vi phạm tương tự tái diễn trong hoạt động điều tra các vụ án sau cần được làm rõ và yêu cầu Cơ quan điều tra xử lý trách nhiệm Điều tra viên vi phạm.
Để tạo cơ sở cho việc thực hiện tốt chủ trương “tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra”, cùng với nỗ lực chủ quan của các đơn vị thực hiện các giải pháp trên, chúng tôi sẽ tham mưu cho Đồng chí Viện trưởng VKSNDTC ban hành Chỉ thị về thực hiện chủ trương này, trong đó phân công cụ thể cho các đơn vị thuộc VKSNDTC nghiên cứu xây dựng các Đề án, ban hành mới và sửa đổi, bổ sung một số văn bản hướng dẫn sau:
- Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 7/9/2005 về “Quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự” để làm tốt trách nhiệm công tố ngay từ khi Cơ quan điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, trong quá trình điều tra đến khi kết thúc điều tra.
- Sửa đổi, bổ sung Quy chế “ Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự”, ban hành kèm theo Quyết định số 07/QĐ-VT ngày 02/01/2008 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo hướng cụ thể về quy trình, phương pháp tiến hành các hoạt động công tố và kiểm sát điều tra.
- Xây dựng Thông tư liên tịch hướng dẫn về “Công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm”; xây dựng “Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi”.
- Xây dựng Đề án “Tăng cường nguồn nhân lực cho lĩnh vực thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự” trên cơ sở đánh giá sự gia tăng và tính chất phức tạp của các vụ án hình sự hiện nay; cũng như cơ cấu, tỉ lệ giữa Điều tra viên và Kiểm sát viên trong thụ lý và giải quyết vụ án hình sự để trình Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định tăng biên chế Kiểm sát viên làm công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.
- Xây dựng, triển khai chương trình đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng và phương pháp thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra đối với từng nhóm tội được phân công (trật tự xã hội; kinh tế, chức vụ; tham nhũng, ma túy; an ninh); trang bị kiến thức chung về công tác điều tra tội phạm cho các cán bộ, Kiểm sát viên làm công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra; phấn đấu đến năm 2005 đạt 70% cán bộ, Kiểm sát viên làm công tác này được trang bị những kiến thức cơ bản về công tác điều tra và phương pháp điều tra tội phạm.
- Xây dựng Đề án về“ Kinh phí nghiệp vụ, trang bị phương tiện làm việc và chế độ đặc thù cho cán bộ, kiểm sát viên làm công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra” trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, phê duyệt.
- Xây dựng Đề án“ Hợp tác quốc tế với Viện kiểm sát/ Viện công tố một số nước để tăng cường năng lực hoạt động công tố của Kiểm sát viên Việt Nam trong hoạt động điều tra” để tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và trao đổi kinh nghiệm công tố với các nước.
- Nghiên cứu đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định cụ thể trong Bộ luật tố tụng hình sự, xác định thực quyền công tố trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, trong việc khởi tố, điều tra, trong áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; mọi quyết định và yêu cầu tố tụng của Viện kiểm sát buộc Cơ quan điều tra phải chấp hành và có chế tài xử lý cụ thể nếu Cơ quan điều tra viên không thực hiện.
4. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự thông qua tổ chức phiên tòa xét xử lưu động và phiên tòa rút kinh nghiệm
Thái Bình là tỉnh có diện tích tự nhiên không lớn, nhưng mật độ dân số đông, trong quá trình phát triển hiện nay, bên cạnh những kết quả đạt được về kinh tế - xã hội, thì các vụ việc tranh chấp, vi phạm trên các lĩnh vực cũng gia tăng, riêng án hình sự năm 2012 tăng 19%. Căn cứ đặc điểm tình hình trên, bên cạnh việc không ngừng đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, Viện kiểm sát Thái Bình tập trung chỉ đạo thực hiện các giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, nhất là các công tác mang tính đột phá như tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra; nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm sát hoạt động tư pháp. Chú trọng chỉ đạo thực hiện đồng bộ các biện pháp trong quá trình giải quyết án hình sự từ trước, trong và sau phiên tòa để nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử hình sự; đặc biệt là thông qua tổ chức phiên tòa xét xử lưu động và các phiên toà rút kinh nghiệm.
Trước hết, ngay từ khi khởi tố vụ án, Viện kiểm sát hai cấp chủ động đề xuất, phối hợp với liên ngành xác định các vụ án trọng điểm và thống nhất cần thiết phải xét xử lưu động. Các vụ án sau khi kiểm sát việc kết thúc điều tra, Kiểm sát viên tiếp tục nghiên cứu, bút lục, kiểm tra kỹ về thủ tục tố tụng và toàn bộ hồ sơ; nắm vững nội dung, các tình tiết của vụ án, phát hiện các chứng cứ còn thiếu hoặc còn mâu thuẫn cần phải làm rõ thêm để thực hiện việc phúc cung, phúc chứng, củng cố chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ thật vững chắc trước khi truy tố. Bảo đảm 100% các vụ án, Kiểm sát viên phải chuẩn bị trước đề cương xét hỏi, tranh luận, dự kiến các tình huống phát sinh tại phiên tòa, dự thảo luận tội để báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo đơn vị. Đó là cơ sở để tại phiên tòa, Kiểm sát viên tự tin, chủ động, tích cực tham gia xét hỏi làm rõ bản chất của vụ án; khi có tranh luận của người bào chữa, bị cáo và người tham gia tố tụng thì chủ động thực hiện đối đáp, tranh luận để bảo vệ cáo trạng và quan điểm của Viện kiểm sát.
Quy trình đề xuất và duyệt án truy tố, xét xử bảo đảm chặt chẽ, thận trọng theo Quy chế nghe báo cáo và duyệt án; đề cao trách nhiệm đề xuất của Kiểm sát viên và trách nhiệm nghe báo cáo, duyệt án, trực tiếp kiểm tra hồ sơ của lãnh đạo đơn vị; đồng thời thông qua việc duyệt án tập thể để bồi dưỡng kiến thức, kinh nghiệm, phát huy trí tuệ của các Kiểm sát viên, cán bộ khác trong đơn vị.
Xác định Kiểm sát viên là nhân tố có ý nghĩa quyết định để nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử, nên ngành Kiểm sát Thái Bình đặc biệt chú ý thực hiện các biện pháp để tiếp tục tăng cường trách nhiệm, rèn luyện kỹ năng thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử của Kiểm sát viên. Viện kiểm sát hai cấp đã tổ chức cho cán bộ, Kiểm sát viên học tập, rút kinh nghiệm tại 104 phiên toà; trong đó mỗi Kiểm sát viên phải thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử ít nhất từ 1 đến 2 phiên toà rút kinh nghiệm. Để việc tổ chức các phiên tòa rút kinh nghiệm có chất lượng, hiệu quả, tránh hình thức, Viện kiểm sát tỉnh đã ban hành và thực hiện thống nhất mẫu Phiếu nhận xét, xếp loại đối với Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên toà; đồng thời tổ chức kiểm tra và trực tiếp tham dự tại các phiên tòa. Các đơn vị có trách nhiệm gửi lịch các phiên toà xét xử hàng tuần và báo cáo kết quả việc tổ chức các phiên tòa rút kinh nghiệm về Phòng 3 để theo dõi, tổng hợp, tham mưu cho Lãnh đạo Viện chỉ đạo các phòng nghiệp vụ tham dự, kiểm tra theo kế hoạch hoặc đột xuất tại bất cứ phiên toà nào khi thấy cần thiết. Quá trình trực tiếp tham dự, kiểm tra của Lãnh đạo Viện tỉnh và các phòng nghiệp vụ, đã kịp thời chỉ đạo, chấn chỉnh nhiều vấn đề hạn chế, thiếu sót trong việc tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm như việc chọn phiên tòa, công tác phối hợp với Toà án... Việc tổ chức rút kinh nghiệm phải bảo đảm nghiêm túc, đúng thực chất và toàn diện về các mặt như: việc phát hiện, xử lý các thiếu sót, vi phạm của Hội đồng xét xử; việc đọc cáo trạng, tham gia xét hỏi, luận tội, tranh luận, đối đáp cũng như tư thế, tác phong của Kiểm sát viên tại phiên toà ... đều được phân tích, đánh giá, xác định rõ những ưu điểm, hạn chế tồn tại để rút kinh nghiệm và có biện pháp khắc phục. Với các biện pháp như vậy, đã phát huy tác dụng tích cực trong việc nâng cao hiệu quả rút kinh nghiệm; qua mỗi phiên tòa không chỉ các Kiểm sát viên trực tiếp thực hành quyền công tố mà tất cả các Kiểm sát viên, cán bộ tham dự đều đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm thực tiễn về kỹ năng thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử và xử lý các tình huống tại phiên tòa.
Cùng với việc tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm, Viện kiểm sát hai cấp còn tích cực, chủ động phối hợp với Toà án chọn các vụ án tổ chức xét xử lưu động để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền pháp luật, phục vụ công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Các vụ án được chọn để xét xử lưu động thường là những vụ án đặc biệt nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, án trọng điểm, án được dư luận xã hội quan tâm đòi hỏi Kiểm sát viên ngoài việc nắm chắc hồ sơ vụ án, căn cứ pháp luật, thì phải thể hiện được bản lĩnh tự tin, sự vững vàng về nghiệp vụ. Vì vậy, nhiều phiên tòa lưu động cũng đồng thời được tổ chức học tập rút kinh nghiệm. Việc kết hợp như vậy đã làm tăng hiệu quả rút kinh nghiệm tại các phiên tòa. Việc chọn địa bàn để xét xử lưu động được liên ngành tố tụng tỉnh Thái Bình đặc biệt quan tâm, trong đó chú ý các địa bàn trọng điểm, phức tạp về tình hình tội phạm và trật tự xã hội, những khu vực có ảnh hưởng rộng và cả những địa bàn vùng sâu, vùng xa nhằm phục vụ tốt nhiệm vụ tuyên truyền, đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Các phiên tòa lưu động đều được lãnh đạo các ngành tố tụng bàn bạc, phối hợp chặt chẽ với chính quyền cơ sở và chỉ đạo trực tiếp tại phiên tòa. Vì vậy, các phiên tòa đều được tổ chức thành công, thu hút sự quan tâm, ủng hộ của đông đảo quần chúng nhân dân. Qua các phiên tòa lưu động, bên cạnh việc tuyên truyền, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân, phòng ngừa tội phạm, thì việc thực hiện nhiệm vụ của Kiểm sát viên còn phát huy tác dụng tích cực trong việc tuyên truyền về vị trí, vai trò của ngành Kiểm sát nhân dân.
Thông qua việc tổ chức các phiên toà rút kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng kiểm sát xét xử, công tác phát hiện vi phạm để kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát hai cấp cũng được nâng cao rõ rệt về số lượng và chất lượng. Viện kiểm sát tỉnh chỉ đạo các đơn vị kiểm sát chặt chẽ, kịp thời phát hiện các vi phạm trong hoạt động xét xử và kiên quyết kháng nghị, kiến nghị. Kiểm sát viên báo cáo kịp thời kết quả xét xử sơ thẩm; theo dõi, đôn đốc Toà án gửi bản án, quyết định cho Viện kiểm sát đúng thời hạn; nghiên cứu lập phiếu kiểm sát 100% các bản án và sao gửi kèm theo phiếu kiểm sát về Viện kiểm sát cấp trên đầy đủ, đúng hạn. Phòng 3 thực hiện theo dõi, đôn đốc cấp huyện gửi kịp thời bản án, quyết định và phối hợp với các Phòng 1, 1A, phòng 2 để kiểm tra, nghiên cứu phát hiện vi phạm, báo cáo lãnh đạo Viện xem xét kháng nghị; hướng dẫn cấp huyện kháng nghị. Vì vậy, trong năm hai cấp đã kháng nghị tăng trên 80% so với cùng kỳ; trong đó số kháng nghị trên cấp vượt chỉ tiêu 14,5%, kháng nghị ngang cấp vượt chỉ tiêu 6,4%; về chất lượng 100% kháng nghị ngang cấp đều được Viện kiểm sát cấp phúc thẩm bảo vệ; tỷ lệ số bị cáo Toà án đã xét xử chấp nhận kháng nghị đạt gần 90%. Ngoài ra Viện kiểm sát còn ban hành 10 kiến nghị với Tòa án cùng cấp yêu cầu khắc phục các vi phạm trong hoạt động xét xử. Hiệu quả của công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử hình sự; vị trí, vai trò của ngành Kiểm sát Thái Bình luôn được cấp ủy, chính quyền địa phương, các cơ quan hữu quan và nhân dân đánh giá cao.
Qua thực tiễn công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử án hình sự tại các phiên tòa rút kinh nghiệm, phiên tòa lưu động, Viện kiểm sát Thái Bình rút ra một số kinh nghiệm để nâng cao hiệu quả công tác này đó là:
Thứ nhất: Phải nhận thức đúng đắn về ý nghĩa của việc tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm, xét xử lưu động là hình thức, biện pháp có hiệu quả nhất để đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện kỹ năng của Kiểm sát viên, cán bộ. Từ đó để đề ra các biện pháp tổ chức thực hiện bảo đảm thiết thực, có hiệu quả; tránh hình thức, chạy theo chỉ tiêu về số lượng.
Thứ hai: Đặc biệt chú ý trong việc chọn các phiên tòa phù hợp để tổ chức cho Kiểm sát viên, cán bộ dự rút kinh nghiệm hoặc phối hợp với Tòa án đưa xét xử lưu động. Phải chủ động lựa chọn từ khi khởi tố vụ án để tăng cường trách nhiệm của Kiểm sát viên; kiên quyết không chọn các phiên tòa có tính chất đơn giản để tổ chức rút kinh nghiệm; vụ án được chọn để xét xử lưu động phải là án trọng điểm, án được dư luận quan tâm.
Thứ ba: Để tránh hình thức trong việc rút kinh nghiệm thì Viện kiểm sát tỉnh phải chỉ đạo thống nhất về các nội dung, các vấn đề cần được nhận xét, rút kinh nghiệm của mỗi phiên tòa; đồng thời tăng cường việc dự, kiểm tra đột xuất tại các phiên tòa.
Thứ tư: Kết hợp giữa việc tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm với việc phối hợp xét xử lưu động để nâng cao chất lượng và hiệu quả.
Thứ năm: Viện kiểm sát hai cấp phải chủ động phối hợp chặt chẽ với cơ quan tiến hành tố tụng, nhất là với Tòa án cùng cấp trên cơ sở Quy chế phối hợp liên ngành để việc chọn phiên tòa, tổ chức tham dự, rút kinh nghiệm thuận lợi, có hiệu quả.
Từ hiệu quả của việc tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự, Viện kiểm sát Thái Bình đã chỉ đạo tổ chức 29 phiên tòa rút kinh nghiệm trong lĩnh vực dân sự, phát huy được tác dụng tốt trong việc rèn luyện kỹ năng của đội ngũ Kiểm sát viên trong các phiên tòa dân sự.
5. Nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra thông qua tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra ở Viện kiểm sát quân sự Quân sự 5
Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 đã xác định một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự (Điều 23) là “Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự”. Đồng thời, đã cụ thể hóa nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát để thực hiện chức năng trên trong tố tụng hình sự tại Đ112 và Đ113.
Xuất phát từ vai trò, tầm quan trọng của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra đã trở thành chủ trương nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta nhằm bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình sự có căn cứ và hợp pháp, đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra, xử lý kịp thời, nghiêm minh, tuân thủ đúng pháp luật. Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị đề ra yêu cầu: “Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng, nhằm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội...”; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” và Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI chỉ rõ: “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra”.
Thực hiện quan điểm chỉ đạo “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra” trong Chỉ thị số 01/CT- VKSTC ngày 01/01/2012 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cụ thể hóa chương trình hành động số 01/CTr-VKS ngày 02/01/2012 của Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương, trên cơ sở những kết quả đạt được trong những năm qua, Viện kiểm sát quân sự Quân khu 5 phát biểu tham luận: “Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra thông qua tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra” ở Viện kiểm sát quân sự Quân khu 5 trong thời gian qua như sau:
Viện kiểm sát quân sự Quân khu 5 đã quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng, Chỉ thị, chương trình hành động của Ngành kiểm sát về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra cho tất cả cán bộ, kiểm sát viên để nhận thức đúng và thực hiện nghiêm túc với trách nhiệm và chất lượng cao, theo đó, tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra chính là phải thực hiện kịp thời, đúng và đầy đủ các quyền năng pháp lý của Viện kiểm sát được quy định tại Điều 112 BLTTHS, nhằm đảm bảo cho hoạt động điều tra được nhanh chóng, khách quan, toàn diện, tránh oan sai cũng như không để lọt tội phạm.
Viện kiểm sát quân sự QK5 nhận thức sâu sắc rằng: muốn tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra thì trước hết phải bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn và nâng cao tinh thần trách nhiệm cho cán bộ, kiểm sát viên của ngành. Vì vậy, VKSQK5 luôn đặc biệt quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và trình độ chính trị cho cán bộ (hiện nay có 33% cán bộ có trình độ sau Đại học Luật, 66% số cán bộ có trình độ cao cấp lý luận chính trị). Ngoài công tác bồi dưỡng về năng lực chuyên môn ở trường, VKSQS QK5 cũng chú ý đến việc nghiên cứu rút kinh nghiệm công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra cho toàn ngành. Tất cả các hoạt động thực hành quyền công tố của ngành KSQS QK5, đều được Lãnh đạo Viện kiểm tra, nghiên cứu, thảo luận làm rõ ưu, khuyết điểm, đúng sai... để rút kinh nghiệm kịp thời đến từng KSV. Hàng quý, VKSQS QK5 đều có nhận xét ưu, khuyết điểm về công tác thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra và thông báo đến các VKS khu vực để rút kinh nghiệm chung.
Ngành kiểm sát QS QK5 luôn phối hợp chặt chẽ với các cơ quan điều tra, các cơ quan khác như: Tác chiến, Quân huấn, Thanh tra Quốc phòng, Ủy ban kiểm tra, Bảo vệ AN và các cơ quan, đơn vị trên địa bàn để nắm chắc, đầy đủ, kịp thời các tin báo, tố giác về tội phạm, qua đó đăng ký, phân loại xử lý và theo dõi, đôn đốc việc xác minh giải quyết của CQĐT. Hàng tuần, VKS đều rà soát, theo dõi về thời hạn giải quyết, bảo đảm việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm được thực hiện đúng quy định tại điều 103 BLTTHS. Những trường hợp vi phạm thời hạn, đều được làm rõ lý do để phối hợp giải quyết, không để tồn đọng kéo dài. Quá trình giải quyết tố giác, tin báo của CQĐT, VKS luôn phân công KSV theo dõi chặt chẽ, kịp thời báo cáo lãnh đạo để thống nhất đường lối xử lý. Những vụ việc có vướng mắc, CQĐT đều phải gửi hồ sơ cho VKS, để lãnh đạo Viện nghiên cứu, chỉ đạo trong hoạt động thu thập tài liệu, đánh giá chứng cứ và thống nhất quan điểm xử lý. Các vụ việc do cấp thứ ba giải quyết, nếu có vướng mắc thì phải gửi hồ sơ đến cấp thứ hai nghiên cứu để thống nhất chỉ đạo. Do vậy, hàng năm, các tố giác, tin báo về tội phạm cơ bản đều được giải quyết chính xác, đúng thời hạn luật định. Trong việc tổ chức nắm tình hình, VKS cũng đã phát hiện một số vụ việc vi phạm, tội phạm, chủ động yêu cầu CQĐT xác minh làm rõ, xử lý theo quy định pháp luật.
VKSQS QK5 kiên quyết và thận trọng trong việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Những vụ việc phải khởi tố vụ án hay không khởi tố vụ án; khởi tố về tội gì; theo điều, khoản nào của BLHS, lãnh đạo Viện và KSV đều trực tiếp nghiên cứu hồ sơ để thống nhất với CQĐT về quan điểm xử lý. Do vậy, trong những năm qua, các vụ án đều được khởi tố đúng quy định pháp luật, không có trường hợp nào VKS chưa đồng ý mà CQĐT ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Những vụ việc đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, VKSQK kiên quyết đề nghị CQĐT khởi tố vụ án, bị can để xử lý theo quy định pháp luật. Những trường hợp thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc bị can đều được nghiên cứu kỹ và phải được VKS thống nhất trước khi ra quyết định. Các vụ án do Công an khởi tố, điều tra và chuyển vào, VKS rất thận trọng và kiểm tra chặt chẽ, bảo đảm phải đầy đủ chứng cứ, đúng người, đúng tội. Qua nghiên cứu, thấy không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, VKS kiên quyết yêu cầu CQĐT đình chỉ. Mặt khác, VKS cũng rất quan tâm giải quyết những đơn khiếu nại đối với các quyết định không khởi tố của Cơ quan điều tra, qua đó phát hiện những sai sót của CQĐT để kiến nghị khắc phục kịp thời.
Ở ngành KSQS QK5 tất cả các vụ án đều phải có yêu cầu điều tra và ghi nhật ký điều tra theo quy định (mẫu nhật ký điều tra được thống nhất trong ngành). Ngay khi khởi tố vụ án hình sự, KSV phải kịp thời đề ra yêu cầu điều tra, đồng thời ghi nhật ký điều tra để theo dõi tiến độ và đôn đốc ĐTV trong suốt quá trình điều tra. KSV và ĐTV phải phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện đầy đủ các nội dung yêu cầu đã đề ra. Trong quá trình này, KSV phải thường xuyên báo cáo lãnh đạo viện về kết quả điều tra, nếu có vướng mắc thì kịp thời xin ý kiến để thống nhất chỉ đạo và bổ sung yêu cầu điều tra. Do vậy, đã hạn chế đến mức thấp nhất trường hợp phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Ngành KSQS QK5 luôn chú ý kiểm tra chặt chẽ tính có căn cứ, đảm bảo mọi trường hợp phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn do CQĐT đề nghị đều đúng quy định pháp luật. Những trường hợp xét thấy không cần thiết, VKS kiên quyết không phê chuẩn, nhất là đối với các trường hợp gia hạn. Qua đó, CQĐT phải tích cực hoạt động, đẩy nhanh tiến độ điều tra, xác minh giải quyết vụ việc. Hoặc, nếu thấy các trường hợp cần áp dụng biện pháp ngăn chặn (bắt tạm giam, tạm giam...) thì VKS chủ động trao đổi và yêu cầu CQĐT ra quyết định và đề nghị phê chuẩn để VKS phê chuẩn.
Trong quá trình điều tra, nếu có bị can trốn hoặc không biết bị can đang ở đâu, thì VKS luôn chủ động trao đổi để CQĐT ra quyết định truy nã kịp thời. Mặt khác, VKS cũng tích cực, chủ động phối hợp với CQĐT rà soát án tạm đình chỉ (chủ yếu là các án tồn đọng những năm tước) để giải quyết theo quy định pháp luật và truy nã các bị can đang bỏ trốn. Việc rà soát được thực hiện đồng bộ và phối hợp chặt chẽ từ trên xuống dưới, được theo dõi giải quyết thường xuyên. Các trường hợp bắt theo lệnh truy nã hoặc đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can, VKS đều thận trọng kiểm tra trực tiếp từng bị can, từng hồ sơ. Do vậy, đã kịp thời phát hiện, kiên quyết không phê chuẩn gia hạn tạm giữ, lệnh tạm giam và yêu cầu cơ quan điều tra đình chỉ vì hành vi đã được miễn trách nhiệm hình sự do thay đổi pháp luật.
Một số kinh nghiệm nhằm tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra:
1. Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và công tác tổ chức cán bộ, nhất là việc bồi dưỡng, rèn luyện và bố trí, sắp sắp KSV thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra;Lãnh đạo Viện và các KSV phải có bản lĩnh, công tâm, vô tư và khách quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
2. Nâng cao tinh thần trách nhiệm, bảo đảm thực hiện đầy đủ quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên quy định trong BLTTHS trên cơ sở thực hiện nghiêm túc các yêu cầu trong Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự;
3. Tăng cường quan hệ phối hợp với Cơ quan điều tra và các cơ quan hữu quan, nêu cao tinh thần đấu tranh phòng chống tội phạm, trên cơ sở đó thực hiện có hiệu quả trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra.
6. Nhiệm vụ trọng tâm và một số giải pháp thực hiện công tác Kiểm sát giải quyết các vụ, việc dân sự năm 2013
Năm 2012 là năm đầu thực hiện Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi năm 2011, Viện kiểm sát các cấp tập trung kiện toàn về tổ chức bộ máy, cán bộ và hoàn thành khối lượng công việc lớn, các mặt công tác đạt kết quả tích cực, quan trọng. Đáng chú ý, Viện kiểm sát các cấp đã thực hiện tốt các nội dung sau đây:
Viện kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao khẩn trương xây dựng và ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự; sửa đổi, bổ sung Quy chế về tổ chức và hoạt động của Vụ 5, Quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự; tổng hợp những vướng mắc trong công tác kiểm sát và ban hành các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ, góp phần nâng cao kỹ năng kiểm sát cho cán bộ, Kiểm sát viên.
Về tổ chức bộ máy, cán bộ thực hiện công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự của Viện kiểm sát các cấp cơ bản được kiện toàn; đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên thực thi nhiệm vụ đã nhận thức đầy đủ, nắm vững quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhất là những quy định mới liên quan đến quyền hạn, trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự.
Viện kiểm sát các cấp có sự phối hợp chặt chẽ trong việc kiểm sát bản án, quyết định giải quyết các vụ, việc dân sự của Tòa án; phát hiện hơn nhiều bản án, quyết định có vi phạm; ban hành 1.446 kháng nghị phúc thẩm, 184 kháng nghị giám đốc thẩm; ban hành 1.537 kiến nghị.
Nhìn chung, hầu hết Kiểm sát viên đều thể hiện được bản lĩnh, trách nhiệm, vai trò của Viện kiểm sát trong hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại các phiên tòa, phiên họp; đề xuất quan điểm giải quyết vụ, việc dân sự phù hợp với quy định của pháp luật; kịp thời phát hiện các vi phạm và kiến nghị với Hội đồng xét xử về việc chấp hành pháp luật. Nhiều Viện kiểm sát địa phương đã đạt và vượt chỉ tiêu về số lượng, chất lượng kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm.
Tuy nhiên, bước đầu Viện kiểm sát các cấp còn gặp khó khăn, vướng mắc do các cơ quan có thẩm quyền chưa ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn thực hiện BLTTDS; một số cán bộ, Kiểm sát viên mới được điều động, tăng cường, chưa có kỹ năng và kinh nghiệm nên việc tham gia phiên tòa còn lúng túng; Kiểm sát viên phải tập trung tham gia các phiên tòa, phiên họp dẫn đến việc coi nhẹ kiểm sát các bản án, quyết định của Tòa án.
Nhằm tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự; phấn đấu đạt và vượt các chỉ tiêu nghiệp vụ đã đề ra, năm 2013, Viện kiểm sát các cấp cần xác định mục tiêu và thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm sau đây:
Nhiệm vụ trọng tâm:
Viện kiểm sát các cấp tiếp tục quán triệt để cán bộ, Kiểm sát viên nhận thức đầy đủ và nắm vững những quy định của BLTTDS, các văn bản hướng dẫn thực hiện pháp luật; Quy chế nghiệp vụ và hướng dẫn công tác của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Đề cao vai trò, trách nhiệm của Kiểm sát viên tại các phiên tòa xét xử các vụ án dân sự, phiên họp giải quyết việc dân sự; hạn chế đến mức thấp nhất các bản án, quyết định bị hủy do lỗi Kiểm sát viên không làm tốt chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật.
Tăng cường phối hợp giữa các cấp Kiểm sát, các đơn vị hữu quan trong việc kiểm sát các bản án, quyết định giải quyết các vụ, việc dân sự của Tòa án. Thực hiện đúng đắn trách nhiệm, thẩm quyền kháng nghị, kiến nghị theo quy định của pháp luật. Phấn đấu nâng cao về số lượng, chất lượng kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm; đẩy nhanh tiến độ, bảo đảm chất lượng giải quyết khiếu nại đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thẩm quyền.
Qua công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, Viện kiểm sát các cấp phải tổng hợp đầy đủ về nội dung, tính chất và mức độ vi phạm pháp luật của cơ quan, người tiến hành tố tụng; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng; kết quả Viện kiểm sát kiến nghị, kháng nghị xử lý để tổng hợp báo cáo cơ quan có thẩm quyền và Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Biện pháp thực hiện:
Tiếp tục củng cố về tổ chức, tăng cường cán bộ; đẩy mạnh công tác bồi dưỡng cho cán bộ, Kiểm sát viên về kỹ năng thực hiện công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, trọng tâm là kỹ năng nghiên cứu hồ sơ; kiểm sát việc tuân theo pháp luật và phát biểu tại phiên tòa, phiên họp; kiểm sát bản án, quyết định giải quyết các vụ, việc dân sự của Tòa án để phát hiện vi phạm pháp luật; kháng nghị, kiến nghị khắc phục vi phạm theo thẩm quyền.
Viện kiểm sát cấp dưới chủ động kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án cùng cấp; đồng thời, chuyển các bản án, quyết định cho Viện kiểm sát cấp trên để xem xét, kiểm tra và phối hợp xử lý đối với các bản án, quyết định phát hiện có vi phạm pháp luật. Qua kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, Viện kiểm sát cấp trên thường xuyên thông báo rút kinh nghiệm đối với những vụ án bị Tòa án cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm tuyên hủy, sửa cơ bản do lỗi chủ quan của cơ quan tiến hành tố tụng.
Viện kiểm sát các cấp đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo điều hành; trên cơ sở biên chế được giao, phân công hợp lý cán bộ, Kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ, kiểm sát bản án, quyết định; cử Kiểm sát viên tham gia đầy đủ các phiên tòa, phiên họp theo quy định; Viện kiểm sát cấp huyện phải có đủ Kiểm sát viên chuyên trách thực hiện công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự. Các bản án, quyết định do Viện kiểm sát cấp dưới chuyển đến, Viện kiểm sát cấp trên đều phải được vào sổ thụ lý, lập phiếu kiểm sát và đề xuất quan điểm xử lý đối với bản án, quyết định phát hiện có vi phạm pháp luật.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, phiên họp phải trực tiếp nghiên cứu hồ sơ; nhận thức và thực hiện đầy đủ quyền hạn, trách nhiệm theo quy định của pháp luật; thực hiện nghiêm túc việc báo cáo lãnh đạo Viện, lãnh đạo đơn vị về kết quả kiểm sát tại phiên tòa, phiên họp; đề xuất xử lý vi phạm đối với bản án, quyết định phát hiện có vi phạm để lãnh đạo Viện quyết định việc kháng nghị, kiến nghị Tòa án khắc phục vi phạm.
Phối hợp với Tòa án tổ chức các phiên tòa rút kinh nghiệm, bước đầu, mỗi đơn vị Viện kiểm sát cấp huyện có kế hoạch cụ thể để tổ chức được từ 2-3 phiên tòa sơ thẩm xét xử các vụ án; Viện kiểm sát cấp tỉnh tổ chức ít nhất 02 phiên tòa sơ thẩm, 02 phiên tòa phúc thẩm. Các vụ án tổ chức rút kinh nghiệm phải bảo đảm tính điển hình (tranh chấp liên quan đến nhiều quan hệ pháp luật, nhiều đương sự tham gia…), Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phải có kinh nghiệm, kỹ năng kiểm sát án dân sự.
Viện kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao đẩy nhanh tiến độ xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Bộ luật tố tụng dân sự, các Bộ luật và Luật có liên quan. Tổ chức tập huấn toàn Ngành nhằm quán triệt nội dung các Thông tư liên tịch; Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Bộ luật tố tụng dân sự được ban hành trong năm 2013; đồng thời, sơ kết việc thực hiện Bộ luật tố tụng dân sự, Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT ngày 01/8/2012.
Viện kiểm sát cấp trên thường xuyên kiểm tra nghiệp vụ đối với Viện kiểm sát cấp dưới nhằm phát hiện những vướng mắc, bất cập về nhận thức pháp luật, thực hiện quy chế nghiệp vụ, kỹ năng kiểm sát. Viện kiểm sát các địa phương chủ động báo cáo Viện kiểm sát nhân dân tối cao những vướng mắc, bất cập trong nhận thức, áp dụng pháp luật tố tụng và nội dung; Viện kiểm sát nhân dân tối cao chú trọng hơn nữa việc nghiên cứu trả lời kịp thời các báo cáo thỉnh thị, đề nghị của Viện kiểm sát các cấp.
7. Các biện pháp nâng cao chất lượng công tác Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự của Viện kiểm sát nhân dân thành phố hồ Chí Minh
Thực hiện Chỉ thị số 01/CT-VKSTC ngày 01/01/2011 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về công tác của ngành Kiểm sát nhân dân năm 2012; Hướng dẫn số 4163/HD-VKSTC-V5 ngày 28/12/2011 của Vụ 5, Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong năm 2012, Viện Kiểm sát nhân dân 02 cấp tại TP. Hồ Chí Minh đã tiếp tục quán triệt các nội dung quy định tại Nghị quyết số 60/2011/QH12 ngày 29/3/2011 của Quốc hội về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011; Chỉ thị số 06/2011/CT-VKSTC ngày 20/5/2011 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về việc triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự trong ngành Kiểm sát nhân dân nhằm thực hiện đúng và đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát được quy định trong tố tụng. Củng cố và hoàn thiện tổ chức bộ máy và nhân lực; Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo điều hành; làm tốt việc ghi chép thống kê, tổng hợp báo cáo; đồng thời thực hiện nghiêm túc sự chỉ đạo, hướng dẫn của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án Dân sự - Hôn nhân gia đình. Xác định trọng tâm công tác kiểm sát dân sự trong năm là tập trung kiểm sát chặt chẽ việc thụ lý, trong đó chú trọng đến công tác kiểm sát trả lại đơn khởi kiện của Tòa án. Phân công Kiểm sát viên tham gia 100% các phiên tòa, phiên họp theo luật định, kiểm sát đầy đủ các bản án, quyết định của Tòa án nhằm phát hiện vi phạm để kiến nghị và kháng nghị kịp thời góp phần cùng Tòa án ban hành các bản án chính xác, khách quan, toàn diện và đầy đủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, quyền tự do dân chủ của công dân, nâng cao việc chấp hành pháp luật, góp phần làm giảm tình trạng khiếu kiện kéo dài.
Kết quả công tác kiểm sát tại 02 cấp:
Qua công tác kiểm sát tại phiên tòa, phiên họp, kiểm sát bản án, quyết định và giải quyết đơn đã phát hiện vi phạm và ban hành 156 văn bản yêu cầu Tòa án 02 cấp chuyển hồ sơ đến VKS nghiên cứu theo luật định, ban hành 72 văn bản kiến nghị tổng hợp, ban hành 135 kháng nghị (KNPT: 123; KNGĐT: 12), giảm 18,67%.
Tòa án đã giải quyết chấp nhận kháng nghị phúc thẩm (đạt tỷ lệ 92,9%); chấp nhận kháng nghị giám đốc thẩm (đạt 72,7%).
Đã báo cáo đề nghị Viện KSND TC kháng nghị giám đốc thẩm 09 vụ và đã được Viện KSND TC chấp nhận kháng nghị: 01/01 vụ (đã xét xử). Để đạt được kết quả trên là do bám sát Chỉ thị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về khâu công tác Dân sự, Hôn nhân gia đình, ngay từ đầu năm, Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh đã xây dựng kế hoạch và triển khai đến các đơn vị nghiệp vụ Thành phố và các đơn vị quận huyện. Trong đó đặc biệt chú trọng đến công tác cán bộ, kịp thời tăng cường lực lượng bổ sung cho 02 phòng nghiệp vụ (Phòng 5 và Phòng 12) đồng thời chỉ đạo các đơn vị quận, huyện phải quan tâm hơn nữa đến khâu công tác này nhằm có đủ lực lượng thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo tình hình mới.
Viện kiểm sát nhân dân Thành phố tăng cường việc hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ đối với các đơn vị quận, huyện. Thường xuyên tiến hành kiểm tra, thông báo rút kinh nghiệm, nhất là những đơn vị có án sơ thẩm bị cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm hủy, sửa.
Quán triệt sự chỉ đạo, VKS 02 cấp đã tiến hành sắp xếp lại tổ chức, tăng cường cán bộ, KSV cho khâu công tác này, đồng thời tăng cường tính chủ động trong công tác nghiệp vụ bằng các biện pháp xây dựng quy chế liên ngành, phối hợp cùng với Tòa án hoàn thành các chỉ tiêu nghiệp vụ. Ngoài ra, sự phối hợp giữa các đơn vị của VKS 02 cấp cũng được tăng cường. Khi có vướng mắc về đánh giá chứng cứ, áp dụng pháp luật hoặc đường lối giải quyết trước khi xét xử hay ban hành kháng nghị đã chủ động thỉnh thị ý kiến về đường lối giải quyết. Đối với những trường hợp không còn thời hạn đã kịp thời báo cáo VKS cấp trên kháng nghị.
Những khó khăn, hạn chế:
Ngay từ khi Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2011 được công bố, quán triệt sự chỉ đạo của Viện trưởng VKSND tối cao. Viện KSND TP. Hồ Chí Minh đã khẩn trương trương tiến hành các thủ tục nhằm tăng cường lực lượng cho khâu công tác này. Tuy nhiên, do khó khăn trong công tác tuyển dụng đầu vào, cũng như phụ thuộc vào quy trình, thủ tục bổ nhiệm KSV theo quy định nên mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng lực lượng cán bộ, Kiểm sát viên tại khâu công tác này tại Viện KSND Thành phố và hầu hết các đơn vị quận, huyện vẫn còn thiếu, ít kinh nghiệm. Do đó, việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKS theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 gặp rất nhiều khó khăn, chất lượng công tác kiểm sát chưa được đảm bảo.
Theo quy định mới, về công tác kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự, HNGĐ tại cấp sơ thẩm hiện nay chủ yếu là việc kiểm sát về việc tuân theo pháp luật về tố tụng, dẫn đến KSV tham gia phiên tòa, kể cả khi thực hiện công tác kiểm sát bản án, quyết định thường chỉ chú ý đến thủ tục tố tụng, ít quan tâm đến nội dung, quan hệ pháp luật đang tranh chấp dẫn đến khó phát hiện vi phạm của Tòa án.
Việc xây dựng quan hệ phối hợp với Tòa án trong công tác ở một số đơn vị quận, huyện chưa được thực hiện tốt do còn nể nang, khi phát hiện vi phạm nhưng không kịp thời áp dụng các biện pháp nghiệp vụ (yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị) theo luật định mà mới chỉ dừng lại ở việc trao đổi, góp ý. Tại một số đơn vị chưa chú trọng việc tiếp thu hướng dẫn, rút kinh nghiệm của VKS cấp trên nên chất lượng công tác chưa cao. Chất lượng kháng nghị, báo cáo đề nghị kháng nghị ở những đơn vị này còn nhiều hạn chế.
Từ khi chuyển từ phương thức kiểm sát gián tiếp sang phương thức kiểm sát trực tiếp theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011, một số đơn vị quận, huyện chủ quan cho rằng đã thực hiện việc kiểm sát xét xử tại phiên tòa sơ thẩm nên chưa thực hiện tốt công tác phối hợp, nhất là trong việc chuyển giao bản án, quyết định đến VKS cấp trên. Đây là một trong những nguyên nhân không phát hiện kịp thời những vi phạm hoặc khi phát hiện có vi phạm thì đã hết thời hạn kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự của Tòa án có nhiều chuyển biến so với các năm trước, tuy nhiên hiện nay việc gửi bản án, quyết định đến VKS của Tòa án 02 cấp tại TP. Hồ Chí Minh vẫn còn tồn tại tình trạng gửi không đúng thời hạn và gửi không đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2011. Ngoài ra, Tòa án còn vi phạm về thời hạn chuyển hồ sơ cho VKS theo quy định. Việc gửi không đầy đủ, gửi không đúng thời hạn bản án, quyết định; không chuyển hồ sơ cho VKS trong thời hạn luật định đã làm hạn chế và mất quyền kháng nghị của VKS. Về vấn đề này, Viện KSND TP. Hồ Chí Minh đã ban hành nhiều văn bản kiến nghị đối với Tòa án về những vi phạm nêu trên, nhưng đến nay vẫn chưa được Tòa án khắc phục triệt để.
Với những khó khăn nêu trên, do đó trong năm 2012 mặc dù đã tăng cường công tác kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phiên họp; kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án 02 cấp nhằm phát hiện vi phạm thực hiện quyền kiến nghị, kháng nghị tuy nhiên số kháng nghị của VKS so với số vụ án bị cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm hủy, sửa do Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết có vi phạm chiếm tỷ lệ chưa cao;
Một số biện pháp nâng cao chất lượng công tác Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011:
Để đảm bảo cho ngành Kiểm sát thực hiện được đầy đủ chức năng, nhiệm vụ và có chất lượng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 như hiện nay thì trước hết phải tiếp tục củng cố và hoàn thiện tổ chức bộ máy và nhân lực, kịp thời bổ sung biên chế, tăng cường lực lượng, đặc biệt là cán bộ có chức danh pháp lý cho khâu công tác này nhằm đáp ứng được nhu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Công tác kiểm sát các hoạt động tư pháp trong lĩnh vực dân sự rất đa dạng, phức tạp, phạm vi điều chỉnh của luật nội dung rất rộng, liên quan đến nhiều quy phạm pháp luật điều chỉnh khác như: Bộ luật dân sự, Bộ luật lao động, Luật hôn nhân gia đình, Luật Thương mại, Luật đất đai, Luật Thi hành án dân sự, Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án và các Thông tư, các Nghị quyết hướng dẫn có liên quan . . . cho nên đòi hỏi cán bộ, KSV ngoài việc có năng lực chuyên môn, kiến thức nhất định thì cần phải có kinh nghiệm và thật sự yêu ngành, yêu nghề mới có thể đảm bảo công tác kiểm sát có chất lượng và đi vào chiều sâu. Do đó, trong công tác bố trí, luân chuyển cán bộ, cần có sự ổn định, lâu dài đối với những cán bộ, KSV làm khâu công tác này.
Phải thực hiện tốt công tác kiểm sát việc thụ lý và giải quyết của Tòa án. Kiểm sát chặt chẽ việc giải quyết các vụ, việc dân sự bắt đầu từ khi Tòa án có văn bản trả lại đơn khởi kiện hoặc Tòa án thông báo thụ lý vụ, việc dân sự. Tham gia các phiên tòa, phiên họp sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của pháp luật.
Khi thực hiện công tác kiểm sát phải bám sát các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2011 và Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/8/2012 của Viện KSND tối cao và TAND tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS sửa đổi, bổ sung về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự.
Để phát hiện được các vi phạm của Tòa án trong việc giải quyết các vụ, việc dân sự, cán bộ, Kiểm sát viên phải nâng cao trình độ pháp luật, nắm vững những quy định của BLTTDS sửa đổi, bổ sung và Thông tư liên tịch số 04 của Viện KSND tối cao và TAND tối cao. Rút kinh nghiệm trong công tác Kiểm sát tại phiên tòa, phiên họp cũng như kiểm sát các bản án, quyết định; nâng cao kỹ năng phát hiện vi phạm, nhận dạng các vi phạm về tố tụng, về nội dung giải quyết; phân loại đánh giá các vi phạm để quyết định việc kháng nghị, hoặc kiến nghị đối với vi phạm đã được phát hiện. Khi đã phát hiện vi phạm nghiêm trọng về tố tụng và nội dung giải quyết của Tòa án không đúng pháp luật thì phải kiên quyết kháng nghị để đảm bảo bản án, quyết định của Tòa án có căn cứ, đúng pháp luật.
Tăng cường sự phối hợp giữa VKS với Tòa án, giữa VKS Thành phố với Viện kiểm sát quận, huyện và các ngành liên quan để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ.
VKS Thành phố phải thường xuyên sơ kết, tổng kết, thông báo rút kinh nghiệm đối với các đơn vị quận, huyện trong công tác kiểm sát giải quyết các vụ, việc dân sự về hoạt động kháng nghị, kiến nghị; thông báo kịp thời các bản án, quyết định bị cấp phúc thẩm hủy, sửa để Viện kiểm sát quận huyện rút kinh nghiệm.
Tăng cường kiểm tra nghiệp vụ, hướng dẫn chỉ đạo nghiệp vụ đối với các đơn vị quận, huyện. Phổ biến kịp thời các văn bản pháp luật cho cán bộ, KSV làm công tác kiểm sát dân sự.
Một số đề xuất, kiến nghị:
Viện Kiểm sát nhân dân tối cao cần phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định chế tài đi kèm với các kiến nghị của VKS, đặc biệt là các kiến nghị về việc không gửi, gửi không đúng thời hạn các bản án, quyết định, kiến nghị về việc không chuyển hồ sơ cho VKS theo yêu cầu nhằm nâng cao hơn nữa tính pháp lý các văn bản kiến nghị của VKS trong tố tụng dân sự.
Viện Kiểm sát nhân dân tối cao cần thường xuyên mở các lớp tập huấn, bồidưỡng chuyên đề liên quan đến công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc DS - HNGĐ để nâng cao nghiệp vụ. Kịp thời có những văn bản hướng dẫn những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện công tác nghiệp vụ nhằm giúp các Viện Kiểm sát nhân dân địa phương thực hiện được thống nhất.
8. Tăng cường công tác lãnh đạo kiểm sát trực tiếp thi hành án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên
Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của tố tụng hình sự, Kiểm sát thi hành án hình sự là một nhiệm vụ trọng tâm của ngành kiểm sát, nhằm bảo đảm, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, góp phần quan trọng trong việc thực thi pháp luật, thể hiện tính nghiêm minh và thống nhất của pháp chế.
Từ nhận thức trên, ngay đầu năm 2012 thực hiện Chỉ thị số 01/2012/CT-VKSTC ngày 01/01/2012 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và hướng dẫn số 05/HD-VKSTC-V4 ngày 16/01/2012 của Viện kiểm sát Tối cao về công tác Kiểm sát Việc tạm giữ, tạm giam và Thi hành án hình sự. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng yên đã triển khai kịp thời, xây dựng kế hoạch có trọng tâm, trọng điểm và chỉ đạo tổ chức tập huấn, hướng dẫn công tác nghiệp vụ Thi hành án hình sự cho cả hai cấp, chọn lọc và tăng cường biên chế cho phòng 02 kiểm sát viên trung cấp, 01 Kiểm tra viên, 01 Chuyên viên.
Với sự Lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ có hiệu quả về công tác Thi hành án hình sự, trong năm qua cả hai cấp Kiểm sát tỉnh Hưng Yên đã tiến hành thực hiện 182 cuộc Kiểm sát Thi hành hình sự; trong đó Kiểm sát trực tiếp 174 cuộc gồm: kiểm sát 162 UBND xã phường về việc quản lý giáo dục người chấp hành án phạt tù nhưng cho hưởng án treo và hình phạt cải tạo không giam giữ giao cho chính quyền địa phương quản lý giáo dục; Kiểm sát 7 cuộc tại cơ quan Công an huyện và Tòa án huyện về công tác Thi hành án phạt tù, Kiểm sát 5 cuộc tại Cơ quan thi hành án Công an tỉnh và trại tạm giam và Công an tỉnh về công tác thi hành án hình sự. Yêu cầu Tòa án cung cấp hồ sơ tài liệu xác định vi phạm là 8 cuộc.
Qua kết quả Kiểm sát trực tiếp về Thi hành án hình sự đã xác định các dạng vi phạm chủ yếu của các cơ quan và đơn vị có chức năng thi hành án hình sự như:
- Vi phạm của UBND xã, phường, thị trấn trong việc không vào sổ theo dõi bị án, không ra quyết định giao trách nhiệm cho ai quản lý, giáo dục bị án, không thông báo cho Chánh án Tòa án đã ra quyết định Thi hành án về việc bản án hoặc quyết định đã được thi hành, Viện kiểm sát đã ban hành 164 kết luận, 04 kháng nghị và 09 kiến nghị yêu cầu khắc phục vi phạm.
- Vi phạm của cơ quan thi hành án công an huyện trong việc không đôn đốc UBND xã, phường, thị trấn báo cáo các đối tượng được hoãn thi hành án phạt tù theo quy định, không gọi người được hưởng án treo để ấn định thời gian về UBND xã cam kết việc chấp hành án, chậm chuyển giao hồ sơ thi hành án treo cho UBND xã, chậm hoặc có trường hợp không cấp giấy chứng nhận chấp hành xong thời gian thử thách cho bị án, không gửi giấy chứng nhận chấp hành xong thời gian thử thách cho Tòa án và Sở Tư pháp; không lập biên bản giao nhận hồ sơ khi tiếp nhận hồ sơ thi hành án xong do UBND xã, phường ,thị trấn chuyển đến ...VKS đã phát hành 01 kháng nghị, 02 kiến nghị và 07 kết luận yêu cầu khắc phục, sửa chữa vi phạm.
- Qua công tác Kiểm sát đã phát hiện vi phạm của trại tạm giam trong việc chậm làm thủ tục đề nghị chuyển trại cải tạo đối với bị án đang bị tạm giam đã có quyết định thi hành án phạt tù; còn để một số trường hợp bị án hết án trong khu tạm giam; chưa thực hiện đầy đủ chế độ ngày nghỉ đối với phạm nhân.... Viện kiểm sát đã kết luận, kháng nghị , kiến nghị, yêu cầu khắc phục đồng thời phát hiện cơ quan thi hành án công tỉnh chưa thực hiện đầy đủ chức năng theo dõi quản lý lập hồ sơ chuyển trại cải tạo đối với các bị án đã có quyết định thi hành án, VKS phát hành 5 kết luận yêu cầu khắc phục .
Các đơn vị trực tiếp kiểm sát có kết luận kháng nghị, kiến nghị vi phạm đều có văn bản tiếp thu khắc phục.
Kiểm sát trực tiếp hồ sơ giảm án, hồ sơ hoãn thi hành án đã phát hiện một số hồ sơ trong quá trình thiết lập còn chưa đầy đủ về trình tự thủ tục nên đã yêu cầu khắc phục.
Thực tiễn công tác kiểm sát trực tiếp Thi hành án hình sự tại địa phương trong năm 2012 cho thấy công tác Kiểm sát trực tiếp việc tuân theo pháp luật đã góp phần đảm bảo việc tổ chức thi hành bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật thực hiện đúng qui định pháp luật về Thi hành án hình sự .
Song cũng từ công tác kiểm sát trực tiếp thi hành án hình sự chúng Tôi còn thấy một số những khó khăn trong công tác thi hành án như sau :
- Đối với bị án đang tạm hoãn, tạm đình chỉ thi hành án phạt tù theo qui định của Luật thi hành án hình sự trước khi hết thời hạn tạm hoãn, tạm đình chỉ 7 ngày thì Chánh án ra quyết định tạm hoãn, tạm đình chỉ ra thông báo cho bị án và các cơ quan theo qui định... nhưng không có quyết định khác nên khi dẫn giải bị án vào trại giam cải tạo ban giám thị không nhận và yêu cầu phải có quyết định.
- Trong thực hiện giám sát giáo dục bị án phạt tù nhưng cho hưởng án treo, phạt cải tạo giáo dục tại địa phương (UBND xã phường, thị trấn...) sau khi bản án tuyên các bị án bị áp dụng hình phạt trên có nhiều bị án không về địa phương trình báo, đi làm ăn xa, địa phương không quản lý được đã gây khó khăn cho địa phương trong việc phân công người trực tiếp giám sát giáo dục cũng như việc cấp giấy chứng nhận thi hành xong thời gian thử thách .
- Việc thi hành hình phạt tử hình ở Hưng Yên hiện nay có 2 bị án chưa thực hiện được vì chưa có hướng dẫn triển khai của các cơ quan cấp trên.
- Về thẩm quyền lập hồ sơ miễn thi hành hình phạt tù đối với bị án qui định tại Điều 34 Luật Thi hành án hình sự, thẩm quyền lập hồ sơ là Viện kiểm sát có thẩm quyền nơi người chấp hành án cư trú. Trong thực tiễn hiện nay Tòa án nhận đơn và thiết lập hồ sơ, chuyển đến Viện kiểm sát để nghiên cứu theo thẩm quyền thì có đảm bảo hay không. Đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao có văn bản hướng dẫn cụ thể để quá trình vận dụng thực hiện được thuận lợi.
Để tăng cường sự lãnh đạo trong công tác kiểm sát trực tiếp về thi hành án hình sự rút ra những bài học nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả công tác Kiểm sát trực tiếp thi hành án hình sự chúng tôi có một số ý kiến như sau:
1. Trước hết phải nâng cao chất lượng công tác chỉ đạo, điều hành. Thực tiễn cho thấy ở đơn vị nào Lãnh đạo quan tâm chỉ đạo thường xuyên, sát sao thì đơn vị đó hoạt động hiệu quả cao hơn. Do vậy công tác quản lý chỉ đạo điều hành phải chặt chẽ, kiên quyết, giữa lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân cấp trên với Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới, giữa Lãnh đạo viện với Kiểm sát viên trong đơn vị. Phải có sự phân công, phân nhiệm cụ thể đúng năng khiếu sở trường của từng Kiểm sát viên và tạo điều kiện thuận lợi nhất để Kiểm sát viên thực thi nhiệm vụ. Phải thường xuyên kiểm tra Kiểm sát viên trong việc thực hiện qui chế nghiệp vụ đề kịp thời chỉ đạo giải quyết những khó khăn vướng mắc của kiểm sát viên và chấn chỉnh sai xót nghiệp vụ.
2. Nâng cao nhận thức cho cán bộ làm công tác kiểm sát kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự về vị trí vai trò và nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hiện công tác kiểm sát Thi hành án hình sự. Đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên, phải thực sự yêu ngành, yêu nghề có năng lực kinh nghiệm thực sự về nghiệp vụ, chủ động, tích cực, đề cao trách nhiệm và tính kiên quyết trong thực hiện nhiệm vụ chức trách được giao, phải nắm vững các qui định của pháp luật có liên quan đến công tác Thi hành án hình sự, nhất là qui chế nghiệp vụ, qui chế kỷ luật nghiệp vụ, vận dụng linh hoạt phương thức kiểm sát, đảm bảo trình tự, thủ tục, nội dung và các bước tiến hành một cuộc kiểm sát trực tiếp tùy thuộc vào quy mô, những sai phạm để ấn định thời gian kiểm sát cho phù hợp.
3. Tăng cường công tác phối hợp, giữa các phòng nghiệp vụ Viện kiểm sát nhân dân tỉnh với các cơ quan cùng cấp như Tòa án, Cơ quan Thi hành án hình sự Công an... để nắm bắt kịp thời đấy đủ thông tin liên quan đến việc thi hành án hình sự, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch, nội dung trực tiếp kiểm sát. Sau mỗi cuộc kiểm sát trực tiếp hàng năm đều tiến hành kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị, kháng nghị đã ban hành.
4. Tăng cường công tác Kiểm tra hướng dẫn nghiệp vụ đối với cấp dưới và Thường xuyên rút kinh nghiệm biểu dương những đơn vị, cá nhân làm tốt, nhằm động viên khích lệ và nâng cao nhận thức, kinh nghiệm thực tiễn và kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ Kiểm sát viên làm công tác này.
9. Công tác phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội với các cơ quan tư pháp để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát
Trong năm công tác 2012, VKSND thành phố Hà Nội đã đạt được những thành tích tốt, được HĐTĐ - KT ngành đánh giá cao và được tặng Cơ thi đua của Chính phủ. Bên cạnh sự cố gắng của tập thể cán bộ công chức VKSND hai cấp của thành phố, những kết quả công tác có được của VKSND thành phố Hà Nội còn là do có sự phối hợp tốt giữa VKS hai cấp của thành phố với các cơ quan tư pháp. Viện KSND thành phố HN nhận thức rõ tầm quan trọng của quan hệ phối hợp giữa VKS hai cấp với các cơ quan tư pháp khác bởi các lý lẽ sau đây:
Thứ nhất, tổ chức và hoạt động của VKSND nói riêng cũng như các cơ quan tư pháp nói chung là do Đảng lãnh đạo, mặc dù mỗi cơ quan có chức năng, nhiệm vụ, vị trí, vai trò khác nhau trong hệ thống bộ máy các cơ quan nhà nước. Suy cho cùng, công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của ngành KSND tuy là công tác chuyên môn nhưng mang bản chất chính trị sâu sắc, phục vụ đắc lực cho các nhiệm vụ chính trị của Đảng trong các lĩnh vực phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; bảo đảm và phát huy quyền dân chủ của công dân. Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, các cơ quan tư pháp vừa có trách nhiệm tuân thủ các qui định của pháp luật, đồng thời có sự phối hợp tốt với nhau chính là đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất của các cấp ủy Đảng.
Thứ hai, theo qui định của pháp luật, hệ thống bộ máy nhà nước ta được tổ chức trên cơ sở nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Viện kiểm sát và các cơ quan tư pháp khác có chức năng, nhiệm vụ khác nhau, có những quyền hạn độc lập với nhau, ràng buộc với nhau. Bên cạnh việc phải thực hiện nghiêm túc các qui định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của mình; các cơ quan tư pháp phối hợp chặt chẽ với nhau có ý nghĩa phát huy sức mạnh tổng hợp của các cơ quan này, hạn chế tình trạng thực thi chức năng nhiệm vụ một cách “pháp lý đơn thuần” hoặc tình trạng “quyền anh, quyền tôi” giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.
Thứ ba, quan hệ phối hợp giữa VKS với các cơ quan tư pháp là một đòi hỏi khách quan từ thực tiễn, bởi lẽ tuy Nhà nước ta đã có hệ thống pháp luật khá đầy đủ nhưng trong bản thân mỗi đạo luật, trong các chế định hay ngay trong các qui định của pháp luật vẫn còn có những vướng mắc, những nhận thức khác nhau, dẫn đến việc áp dụng pháp luật còn khác nhau trong thực tiễn. Bên cạnh đó, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực của đội ngũ các Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán cũng khác nhau, do vậy việc phối hợp giữa các cơ quan tư pháp với nhau có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, góp phần giải quyết những khó khăn, vướng mắc, góp phần đảm bảo tính thống nhất trong nhận thức và áp dụng pháp luật.
Xuất phát từ nhận thức như trên, Viện KSND thành phố Hà Nội luôn quan tâm đến việc xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng mối quan hệ phối hợp giữa VKS hai cấp của thành phố với các cơ quan tư pháp để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ; coi quan hệ phối hợp vừa là mục tiêu công tác cần đạt được, đồng thời là biện pháp để nâng cao chất lượng công tác thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành. Viện kiểm sát Hà Nội quán triệt quan hệ phối hợp phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau đây: Phải tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh qui định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan (mỗi bên); khắc phục các biểu hiện cực đoan trong phối hợp như: hoặc nhấn mạnh quan hệ phối hợp mà coi thường (thậm chí xa rời) tính độc lập trong chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan hoặc ngược lại, chỉ thấy tính độc lập mỗi cơ quan mà không quan tâm đến quan hệ phối hợp; quan hệ phối hợp phải được xây dựng trên cơ sở các qui định, qui chế liên ngành hoặc đa ngành; quan hệ phối hợp phải góp phần nâng cao chất lượng công tác thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan trên cơ sở thống nhất phương hướng, nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng.
Ngay từ nhiều năm trước, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã phối hợp với cơ quan Công an và Tòa án thành phố xây dựng các Qui chế phối hợp liên ngành trong các lĩnh vực giải quyết và kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm; trong giải quyết các vụ án, trong chỉ đạo, điều hành cấp huyện. Trong năm 2012 vừa qua, chúng tôi tiếp tục chỉ đạo Viện kiểm sát hai cấp hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung các qui định trong các Qui chế đã có. Có thể nói, hầu hết các lĩnh vực công tác đều đã có các qui định về quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân hai cấp với cơ quan Công an, Tòa án. Các qui định nói trên đã phát huy tác dụng, hỗ trợ cho Viện kiểm sát hai cấp trong việc thực hiện tốt các chỉ tiêu công tác, khắc phục các hạn chế, tồn tại, nâng cao chất lượng các công tác thực hiện chức năng, cụ thể như sau:
- Đối với Cơ quan điều tra: Viện kiểm sát Hà Nội có Qui chế phối hợp trong giải quyết và kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm của Cơ quan điều tra, do vậy theo Qui chế này, định kỳ hàng tháng, Cơ quan điều tra thông báo cho Viện kiểm sát kết quả giải quyết, những tin báo, tố giác còn quá hạn, lý do quá hạn. Việc tiến hành kiểm sát trực tiếp Cơ quan điều tra về lĩnh vực này được thực hiện ở hai cấp kiểm sát và được Cơ quan điều tra ủng hộ. Nhiều Viện kiểm sát cấp huyện còn có qui định phối hợp chặt chẽ hơn với Cơ quan điều tra trong việc kiểm sát khởi tố, trong quá trình điều tra và trước khi kết thúc điều tra. Trong thực tế có nhiều trường hợp, khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm, Cơ quan điều tra Công an cấp huyện ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và tiến hành điều tra, xác minh làm rõ người phạm tội để khởi tố bị can và đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn. Có nhiều trường hợp Viện kiểm sát không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can nên vụ án phải bị đình chỉ. Bản chất của trường hợp này là đình chỉ điều tra vụ án vì bị can không được Viện kiểm sát phê chuẩn, không có lỗi của Viện kiểm sát. Tuy nhiên, để phối hợp tốt hơn, nhiều Viện kiểm sát cấp huyện qui định trước khi khởi tố, Điều tra viên hoặc lãnh đạo Cơ quan điều tra trao đổi, thống nhất với Viện kiểm sát trước khi khởi tố vụ án; trao đổi về kế hoạch điều tra để cùng thống nhất đưa ra các yêu cầu, nội dung, các vấn đề cần điều tra làm rõ. Trước khi kết thúc hồ sơ chuyển sang Viện kiểm sát, Điều tra viên trao đổi kết quả điều tra với Viện kiểm sát để có thể thống nhất việc có cần phải điều tra bổ sung thêm vấn đề gì hoặc đã đủ căn cứ và thủ tục tố tụng để kết thúc điều tra hay chưa. Do có quan hệ phối hợp chặt chẽ nên Viện kiểm sát hạn chế phải kiến nghị bằng văn bản với Cơ quan điều tra, hạn chế việc trả hồ sơ điều tra bổ sung. Trong năm 2012, VKS hai cấp của Hà Nội không có bị can nào phải đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án bởi lý do không phạm tội; không có bị cáo nào VKS truy tố nhưng Tòa án tuyên không phạm tội. Có nhiều Viện kiểm sát cấp huyện không có vụ án nào phải trả hồ sơ điều tra bổ sung cho Cơ quan điều tra.
Trong quan hệ với Tòa án, VKS Hà Nội có nhiều qui định về quan hệ phối hợp trong lĩnh vực giải quyết án hình sự, dân sự; cụ thể như qui định về bổ sung thêm tài liệu, thủ tục trước khi cần phải trả hồ sơ điều tra bổ sung; về thông báo lịch xét xử, về thực hiện các phiên tòa xét xử lưu động và nhất là thực hiện chủ trương của ngành về các phiên tòa rút kinh nghiệm. Từ khi Viện kiểm sát nhân dân tối cao có chủ trương chỉ đạo Viện kiểm sát các cấp thực hiện các phiên tòa rút kinh nghiệm với chỉ tiêu tính theo từng Kiểm sát viên (thay cho cách gọi việc thực hiện các phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp), có Tòa án cho rằng đây là công việc nội bộ của ngành Kiểm sát nên không phối hợp chặt chẽ với Viện kiểm sát. Viện kiểm sát Hà Nội đã đưa vào Qui chế phối hợp liên ngành Viện kiểm sát – Tòa án qui định về quan hệ phối hợp giữa hai ngành trong việc thực hiện chủ trương này. Trong qui chế phối hợp liên ngành còn qui định hàng năm, Viện kiểm sát hai cấp phối hợp với Tòa án, Cơ quan điều tra tổ chức các hội nghị rút kinh nghiệm về quan hệ phối hợp và các vấn đề chuyên môn, nghiệp vụ phát sinh trong công tác của mỗi cơ quan. Trong năm 2012, nhiều Viện kiểm sát cấp huyện của Hà Nội đã tổ chức được các hội nghị này dưới sự chỉ đạo của Thường vụ huyện (quận) ủy; sự hỗ trợ về kinh phí của Ủy ban nhân dân và đã có những thành công tốt đẹp.
Trong lĩnh vực giải quyết các vụ án dân sự, hành chính, giữa hai ngành Kiểm sát và Tòa án Hà Nội có qui định nếu qua hoạt động kiểm sát mà phát hiện ra vi phạm của Tòa án trong việc áp dụng các thủ tục tố tung cũng như trong thu thập, đánh giá chứng cứ thì Kiểm sát viên trao đổi với Thẩm phán thụ lý vụ án để xem xét, khắc phục trước khi tham gia phiên tòa. Nếu Tòa án không khắc phục các vi phạm hoặc tồn tại đó thì mới sử dụng đến các quyền hạn theo pháp luật qui định như phát biểu quan điểm tại phiên tòa hay báo cáo, đề xuất với lãnh đạo Viện xem xét kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm. Do có quan hệ phối hợp từ đầu nên nhiều Viện kiểm sát cấp huyện của Hà Nội không có kháng nghị phúc thẩm trong lĩnh vực kiểm sát xét xử án dân sự hoặc nếu có thì chỉ với tỷ lệ thấp và lý do kháng nghị chủ yếu liên quan đến quan điểm, đường lối giải quyết vụ án chứ không phải vì vi phạm thủ tục tố tụng.
Trong lĩnh vực kiểm sát thi hành án, Viện kiểm sát hai cấp của Hà Nội cũng có quan hệ phối hợp chặt chẽ với Cơ quan thi hành án dân sự và hình sự; cụ thể như đã tạo ra quan hệ phối hợp, trao đổi, thông báo thường xuyên giữa Ban giám thị của 5 Trại tạm giam, Trại giam trên địa bàn thành phố về các trường hợp sắp hết hạn tạm giam hoặc hạn phạt tù; do vậy đã cơ bản khắc phục được vi phạm trong việc để người bị tạm giam quá hạn. Trong năm 2012 vừa qua, Viện kiểm sát hai cấp của Hà Nội còn để một số trường hợp quá hạn tạm giam nhưng bản chất của các trường hợp này đều là các trường hợp chậm chuyển lệnh tạm giam đến Trại tạm giam từ 1 đến 2 ngày do lỗi của Kiểm sát viên trong việc chuyển các lệnh, quyết định tố tụng.Tất cả các trường hợp này đều đã được Phòng 4 nhắc nhở, rút kinh nghiệm chung. Các đơn vị và cá nhân các Kiểm sát viên vi phạm đều được nhắc nhở trực tiếp tại Hội nghị giao ban Viện kiểm sát hai cấp hàng tháng. Đối với Cơ quan Thi hành án dân sự cũng thường xuyên thông báo cho Viện kiểm sát kết quả phân loại các vụ việc có điều kiện hoặc không có điều kiện thi hành án, các trường hợp cần cưỡng chế thi hành án. Qua đó tạo điều kiện để Viện kiểm sát chủ động phối hợp với Cơ quan thi hành án dân sự trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan.
Bên cạnh những qui định thành văn về quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát với các cơ quan tư pháp, trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, Lãnh đạo Viện kiểm sát thành phố có quan hệ phối hợp chặt chẽ với Lãnh đạo các Cơ quan điều tra, Tòa án. Đã thành nề nếp vào thứ Năm hàng tuần, Lãnh đạo 3 ngành Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án thành phố họp với nhau để bàn bạc việc giải quyết những vụ việc, những vấn đề của cấp thành phố và các vướng mắc của 3 ngành cấp dưới. Không chỉ có quan hệ phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội còn có quan hệ phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn của UBND thành phố; kịp thời thông báo, trao đổi với nhau về nhận thức, đánh giá cũng như quan điểm giải quyết đối với các vụ việc phức tạp, nhạy cảm, các vấn đề và điểm nóng (như giải quyết các vụ việc khiếu kiện đông người, vụ việc tranh chấp về đất đai, vụ việc có liên quan đến chính sách tôn giáo...). Qua đó kịp thời chỉ đạo các cơ quan tiến hành tố tụng ở hai cấp áp dụng các biện pháp tố tụng, kết hợp với các biện pháp hành chính của cơ quan quản lý Nhà nước, góp phần giải quyết đúng đắn các vụ việc phức tạp.
Có thể khẳng định, việc xây dựng, củng cố quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân hai cấp với các cơ quan tư pháp cũng như các cơ quan quản lý hành chính của thành phố Hà Nội đã góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả các công tác thực hiện chức năng của ngành Kiểm sát thành phố cũng như công tác của các cơ quan tư pháp khác; góp phần tích cực nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm, thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị của địa phương dưới sự Lãnh đạo của các cấp ủy Đảng.
10. Một số giải pháp đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
Năm 2012, ngành Kiểm sát nhân dân có nhiều đổi mới, tạo ra sự chuyển biến tích cực trên nhiều mặt, đã triển khai thực hiện tốt một số nhiệm vụ chiến lược về công tác xây dựng ngành và đào tạo nguồn lực; chức năng, nhiệm vụ của ngành tiếp tục được khẳng định và tăng cường, chất lượng, hiệu quả công tác chuyên môn nghiệp vụ ngày càng được nâng cao. Đặc biệt, Chỉ thị công tác kiểm sát năm 2012 của Viện trưởng Viện KSND tối cao với chủ trương “Đổi mới, chất lượng, kỷ cương, hướng về cơ sở” đã tạo sự chuyển biến tích cực, mạnh mẽ, toàn diện trong toàn ngành, tạo ra thế và lực mới cho ngành Kiểm sát nhân dân, đáp ứng với yêu cầu cải cách tư pháp.
Để góp phần cụ thể hóa chủ trương trên, năm 2012, VKSND tỉnh Lâm Đồng đã thực hiện nghiêm túc Chỉ thị của Viện trưởng VKSND tối cao, tập thể lãnh đạo Viện KSND tỉnh đã thống nhất đề ra và thực hiện đồng bộ 6 giải pháp đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định, đó là:
Một là, đổimới tổ chức Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2012 theo 2 cụm với thành phần hội nghị triệu tập từ Kiểm sát viên sơ cấp trở lên. Trong đó, đã xây dựng báo cáo sơ kết, kèm phụ lục gồm 64 chỉ tiêu nghiệp vụ ở các khâu công tác kiểm sát của từng đơn vị; yêu cầu 100% đơn vị chuẩn bị tham luận bằng văn bản nêu rõ: Kết quả đạt được, chưa đạt được, xác định nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm, đề ra giải pháp thực hiện trong 6 tháng cuối năm 2012. Do vậy, công tác kiểm sát ở Viện kiểm sát 2 cấp đã có những chuyển biến tích cực.
Hai là, đổi mới công tác quản lý nghiệp vụ, xây dựng báo cáo và công tác giao ban hàng tuần, giao ban liên ngành. Trong đó đã xây dựng hệ thống 13 mẫu báo cáo tuần cho từng Phòng nghiệp vụ và Viện KSND cấp huyện để phục vụ giao ban tuần, nội dung phản ánh toàn bộ các chỉ tiêu công tác (tổng số, đã giải quyết trong tuần, còn lại, trong đó vụ việc quá hạn). Thông qua đó, Lãnh đạo Viện KSND tỉnh nắm được toàn bộ kết quả công tác của từng đơn vị để chỉ đạo, điều hành giải quyết sâu sát, kịp thời và có hiệu quả, đặc biệt là các vụ, việc phức tạp, bức xúc, kéo dài hoặc quá hạn, những khó khăn, vướng mắc... đều được chỉ đạo sát và giải quyết triệt để. Với vai trò là cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo cải cách tư pháp tỉnh, Viện KSND tỉnh đã chủ trì họp liên ngành hàng tháng, đã yêu cầu 11 ban, ngành ở địa phương gửi báo cáo để Viện KSND tỉnh tổng hợp, phục vụ giao ban định kỳ. Thông qua công tác này, Viện KSND tỉnh đã nắm được toàn bộ tình hình vi phạm, tội phạm ở địa phương và kết quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm ở các ngành, các cấp để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát và đôn đốc việc thực hiện cải cách tư pháp ở địa phương.
Ba là, đổi mới việc phân công nhiệm vụ và phương pháp kiểm tra nghiệp vụ.Lãnh đạo Viện KSND tỉnh chỉ đạo các Viện KSND huyện, thành phố và các Phòng nghiệp vụ phải phân công nhiệm vụ bằng văn bản đối với từng đồng chí Lãnh đạo, Kiểm sát viên, cán bộ, chuyên viên. Ngay trong tháng 8/2012 có 100% các đơn vị (Viện KSND tỉnh và 23 đơn vị cấp phòng, cấp huyện) có văn bản phân công nhiệm vụ đối với từng đồng chí trong đơn vị bảo đảm khoa học, hợp lý, phát huy năng lực và trách nhiệm của từng cá nhân. Đồng thời, tăng cường và đổi mới công tác kiểm tra, hướng dẫn, chỉ đạo đối với cấp huyện theo hướng chuyên sâu, thực chất, tiết kiệm. Theo đó, đã xây dựng mẫu phiếu kiểm tra hồ sơ và lưu trong hồ sơ kiểm sát để nâng cao trách nhiệm của người kiểm tra và người được kiểm tra, thông báo kết luận kiểm tra đến Viện kiểm sát 2 cấp để rút kinh nghiệm chung. Đồng thời, thực hiện việc rút hồ sơ của VKS cấp huyện để phân công KSV tỉnh nghiên cứu, có phiếu kiểm tra hồ sơ, kết luận kiểm tra và trả hồ sơ cho cấp huyện để vừa tiết kiệm thời gian, kinh phí cho Phòng nghiệp vụ và đơn vị được kiểm tra, vừa bảo đảm tính chuyên sâu và nâng cao trách nhiệm trong việc kiểm tra nghiệp vụ.
Bốn là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đưa vào sử dụng mạng nội bộ với hộp thư điện tử (eoffice) để soạn thảo, trình ký văn bản theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại; yêu cầu 100% cán bộ, Kiểm sát viên, Lãnh đạo phải sử dụng máy vi tính trong soạn thảo, duyệt văn bản; sử dụng máy chiếutại 2 Hội trường vừa phục vụ hội nghị tập huấn cho cấp huyện, hội nghị giao ban và phục vụ hội nghị trực tuyến nhằm bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm.
Năm là, xây dựng quy trình nghiệp vụ ở các khâu công tác kiểm sát nhằm phát huy và phổ biến kinh nghiệm của các đồng chí có kinh nghiệm, kỹ năng trong các khâu công tác nghiệp vụ kiểm sát cho đội ngũ cán bộ trẻ và Kiểm sát viên ở cấp huyện. Đến nay, đã có 9/9 Phòng nghiệp vụ ở VKSND tỉnh đã hoàn thành Quy trình công tác nghiệp vụ và triển khai thực hiện ở Viện kiểm sát 2 cấp. Đồng thời, thực hiện việc tập huấn chuyên sâu theo từng chuyên đề do Lãnh đạo Viện, Lãnh đạo Phòng phổ biến kinh nghiệm, kỹ năng công tác cho cán bộ, Kiểm sát viên và Lãnh đạo VKS cấp huyện, nhất là những vấn đề đang có nhiều thiếu sót, vi phạm hoặc phức tạp ở địa phương, như: Kiểm sát việc khám nghiệm, đề ra yêu cầu điều tra, định tội danh, đánh giá chứng cứ, kỹ năng xây dựng cáo trạng, luận tội...
Sáu là, đổi mới công tác thi đua, khen thưởng bảo đảm thực chất, nhằm tôn vinh tập thể, cá nhân thực sự có thành tích, tạo ra phong trào thi đua sâu rộng. VKSND tỉnh đã ban hành 3 Bảng chấm điểm thi đua của tập thể và cá nhân (Khối cấp huyện, khối cấp tỉnh và cá nhân), trong đó lồng ghép 64 chỉ tiêu nghiệp vụ của VKSTC yêu cầu và quy định cụ thể: Những tập thể đạt từ 510 đến 550 điểm mới được xét danh hiệu “Tập thể lao động xuất sắc” và chủ yếu tạo ra phong trào thi đua sâu rộng trong đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên.
Với những đổi mới trên, năm 2012 Viện kiểm sát 2 cấp ở tỉnh Lâm Đồng đã có sự chuyển biến tích cực về chất lượng, hiệu quả trên nhiều mặt công tác, như: Không có trường hợp đình chỉ hoặc bị Tòa án tuyên không phạm tội, tỷ lệ giải quyết tố giác đạt cao (85,5%, tăng 6,7%), tỷ lệ bắt giữ, khởi tố hình sự (95,6%), tỷ lệ giải quyết án cao (CQĐT giải quyết đạt 83,6%; VKS giải quyết đạt 99,5%; Tòa án giải quyết đạt 99,6%), án trả hồ sơ để điều tra bổ sung giảm nhiều so với trước (VKS trả hồ sơ chiếm 2,3%, giảm 1,2%; Tòa án trả hồ sơ chiếm 2,5%). Nhiều chỉ tiêu về kiểm sát hoạt động tư pháp, cũng như số lượng, chất lượng công tác kiến nghị, kháng nghị đều cao hơn so với năm trước, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của ngành và địa phương. Cùng với sự chuyển biến tích cực về công tác chuyên môn nghiệp vụ, đơn vị đã tạo được không khí đổi mới, làm việc tích cực, nội bộ đoàn kết, phát huy sức mạnh tổng hợp giữa chính quyền, cấp ủy đảng, công đoàn, đoàn thanh niên đều có nhiều đổi mới, sáng tạo khởi sắc. Tuy nhiên, kết quả trên mới chỉ là bước đầu, bên cạnh đó còn những tồn tại, thiếu sót, khó khăn, bất cập nhất định. Do vậy, Viện KSND tỉnh Lâm Đồng tiếp tục nỗ lực, phấn đấu trong thời gian tới, để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ trong thời gian tới, VKSND tỉnh Lâm Đồng xin có 3 kiến nghị sau:
1. Dự thảo Chỉ thị công tác năm 2013 đã có những đổi mới về chất so với những năm trước, trong đó đã phân định chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp ở các lĩnh vực. Tuy nhiên, trên thực tiễn nhận thức về 2 chức năng này của nhiều cán bộ trong và ngoài ngành Kiểm sát chưa có sự thống nhất, nên việc tổ chức thực hiện còn chưa hiệu quả. Thực tiễn VKS các cấp thường tổng hợp, báo cáo chung kết quả của việc thực hiện 2 chức năng này nên chưa thể hiện rõ được chức năng, vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân. Vì vậy, để bảo đảm sự thống nhất và việc thực hiện có hiệu quả 2 chức năng quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân cần đổi mới hệ thống báo cáo, thống kê của ngành Kiểm sát theo hướng :
- Làm rõ kết quả việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố bằng việc xác định đã truy cứu trách nhiệm hình sự bao nhiêu tội phạm và người phạm tội ?
- Làm rõ kết quả việc thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp bằng việc đánh giá có bao nhiêu kiến nghị, kháng nghị ở các lĩnh vực công tác kiểm sát và được chấp nhận bao nhiêu? đã khắc phục được những vi phạm, thiếu sót của các cơ quan tư pháp như thế nào ?
Có như vậy, Viện kiểm sát các cấp mới xác định được mục tiêu, phương hướng phấn đấu và kết quả công tác của ngành Kiểm sát nhân dân để Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận, đánh giá.
2. Hiện nay, bảng lương của Kiểm sát cấp huyện rất thấp (hệ số lương cao nhất là 4,98), nhiều Kiểm sát viên sơ cấp hệ số lương đã ở mức tối đa, nên không được lên lương mà chỉ được hưởng thâm niên vượt khung (có đồng chí hưởng vượt khung hơn 10 năm và mỗi năm chỉ được hưởng 0,1%). Trong khi thực hiện chủ trương tăng thẩm quyền, công việc ngày càng dồn nhiều cho cấp huyện nhưng mức lương thấp, điều kiện, chất lượng cuộc sống ở cấp huyện khó khăn, thiếu thốn, nên nhiều cán bộ không yên tâm công tác, có xu hướng chỉ có cán bộ trẻ mới vào ngành thì ở cấp huyện, khi được bổ nhiệm lại xin chuyển cấp tỉnh hoặc ngành khác. Vì vậy, để bảo đảm ổn định và nâng cao đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên ở cấp huyện, đề nghị kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xem xét, nâng mức lương của Kiểm sát viên cấp huyện bằng cấp tỉnh hiện nay; đồng thời, nâng phụ cấp đối với cán bộ công tác ở cấp huyện, khu vực cao hơn hiện nay để thu hút, động viên cán bộ ở cấp huyện.
Mặt khác, việc thành lập Tòa án, Viện kiểm sát khu vực là chủ trương đúng đắn, ưu việt, là mục tiêu chúng ta hướng đến trong tương lai. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay các cơ quan tư pháp, nhất là đặc thù công tác của Viện kiểm sát cấp huyện còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, điều kiện đi lại khó khăn không chỉ đối với nhân dân mà còn đối với cả cán bộ tư pháp. Vì vậy, đề nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét, có lộ trình phù hợp. Riêng đối với VKS cấp huyện ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, đi lại khó khăn trước mắt đề nghị giữ nguyên như hiện nay, nhưng có sự đầu tư cơ sở vật chất, điều kiện, phương tiện làm việc, đổi mới cơ chế lãnh đạo của Đảng, giám sát theo ngành dọc bảo đảm phù hợp với mô hình của Viện kiểm sát khu vực.
3. Hiện nay, đội ngũ cán bộ trẻ được tuyển dụng vào ngành Kiểm sát từ nhiều nguồn khác nhau, chất lượng đào tạo và trình độ còn hạn chế, chưa đồng đều, đặc biệt chưa tuyển dụng được những sinh viên giỏi, tâm huyết với ngành, nghề và hiện tượng "chảy máu chất xám". Đây là một trong những thách thức trong việc phát triển nguồn lực của ngành Kiểm sát nhân dân trong thời gian tới. Trong khi đó, việc đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng nghiệp vụ Kiểm sát tuy đã có nhiều chuyển biến nhưng còn hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được với yêu cầu của thực tiễn. Để thực hiện được mục tiêu này, cần có giải pháp đồng bộ, trong đó:
- Đề nghị Đảng, Nhà nước có chính sách đặc biệt, nhất là chính sách về chế độ tiền lương, phụ cấp, nhà công vụ... đối với cán bộ các cơ quan tư pháp nói chung, ngành Kiểm sát nói riêng để thu hút lực lượng sinh viên tốt nghiệp cử nhân luật có trình độ cao, tâm huyết với ngành, nghề vào ngành Kiểm sát nhân dân.
- Đề nghị Lãnh đạo Viện KSND tối cao sớm quan tâm thành lập Trường Đại học Kiểm sát theo hướng là trung tâm đào tạo, nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn của ngành Kiểm sát nhân dân, trong đó:
+ Đào tạo trình độ cử nhân luật (chuyên ngành Kiểm sát, văn bằng 2) và đào tạo sau đại học (thạc sỹ, tiến sỹ) để xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ bậc cao, chiến lược của ngành, bảo đảm không khép kín trong ngành Kiểm sát như trước đây mà sau khi tốt nghiệp cử nhân ở Đại học Kiểm sát có thể làm ở ngành nghề khác và học sau đại học ở trung tâm khác mà không phải học qua văn bằng khác.
+ Cần đa dạng các loại hình đào tạo, nhưng tập trung chủ yếu bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát chuyên sâu, gắn lý luận với thực tiễn. Đội ngũ giảng dạy và giáo trình cần phát huy tối đa kỹ năng, kinh nghiệm của các chuyên gia ở các lĩnh vực kiểm sát, các Kiểm sát viên, Điều tra viên có trình độ, năng lực để đáp ứng nhu cầu bồi dưỡng nghiệp vụ trong ngành Kiểm sát hiện nay./