Vừa qua, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh ban hành thông báo rút kinh nghiệm số 105 ngày 26/11/2012 về việc rút kinh nghiệm một số vụ án bị Tòa án cấp phúc thẩm hủy, sửa án. Trang tin điện tử Viện kiểm sát nhân dân tối cao trích đăng để bạn đọc tham khảo:..
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh rút kinh nghiệm
một số vụ án bị Tòa án cấp phúc thẩm hủy, sửa án
Vừa qua, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh ban hành thông báo rút kinh nghiệm số 105 ngày 26/11/2012 về việc rút kinh nghiệm một số vụ án bị Tòa án cấp phúc thẩm hủy, sửa án. Trang tin điện tử Viện kiểm sát nhân dân tối cao trích đăng để bạn đọc tham khảo:
1. Vụ kiện "Yêu cầu thực hiện hành vi hành chính" giữa bên khởi kiện là ông Phan Văn M; bên bị kiện là Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành bị Tòa án nhân dân tỉnh hủy.
Nội dung vụ kiện: Phần đất có diện tích 13.435 m2 tại ấp Sa Nghe, xã An Cơ, huyện Châu Thành mà ông M khiếu nại có nguồn gốc là đất rừng Biểu Dương, tổng diện tích là 12ha thuộc dạng rừng di tích trong chiến tranh ở địa phương. Đến năm 1977 Ủy ban nhân dân xã cho quy hoạch một phần diện tích khoảng hơn 1ha để làm nghĩa địa. Đến năm 1991 ấp mở rộng diện tích quy hoạch lên 3 ha và ông M được xã cho mượn đất để sản xuất, ông M có trách nhiệm quản lý sắp xếp việc chôn cất. Năm 1999 Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành phê duyệt quy hoạch sử dụng diện tích đất nêu trên làm đất nghĩa địa của ấp Sa Nghe. Quá trình sử dụng ông M cho 4 người con sản xuất, năm 2000 các con ông M đi kê khai đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích này nhưng Ủy ban nhân dân huyện không cho đăng ký vì là đất công đã quy hoạch làm nghĩa địa. Ông M làm đơn khiếu naị.
Ngày 06/12/2007 Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành ban hành Quyết định số 2964 bác yêu cầu xin được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông M, ông M khiếu nại lên Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh. Ngày 03/6/2008 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quyết định số 1219 bác đơn khiếu nại của ông M. Ông M không đồng ý và khởi kiện hành chính ra Tòa yêu cầu hủy Quyết định số 2964 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành và yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 13.435 m2 nêu trên. Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành cho rằng việc không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông M là đúng quy định của pháp luật, không đồng ý yêu cầu của ông M, giữ nguyên quyết định 2964.
Quá trình giải quyết vụ kiện:
Tại bản án sơ thẩm số 02 ngày 31/5/2012 Tòa án nhân dân huyện Châu Thành nhận định đối tượng khởi kiện trong vụ án là Quyết định 2964 của Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành và tuyên xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông M, giữ nguyên quyết định 2964. Ông M kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đề nghị hủy bản án sơ thẩm. Tai bản án phúc thẩm ngày 10/9/2012 Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh tuyên hủy bản án số 02 ngày 31/5/2012 Tòa án nhân dân huyện Châu Thành; đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm giữa ông M với Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành.
Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:
Mặc dù nguyên đơn khởi kiện yêu cầu hủy quyết định 2964 nhưng xét nội dụng quyết định là quyết định giải quyết khiếu nại về hành vi không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đây là hành vi hành chính (không hành động) nhưng bản án sơ thẩm lại xác định vụ kiện yêu cầu hủy bỏ quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai là chưa chính xác. Đi sâu xem xét nội dung vụ kiện, cấp phúc thẩm làm rõ thêm: diện tích đất trên trước đây do ông M quản lý sử dụng, sau đó ông M cho 4 người con sản xuất, năm 2000 cũng 4 người con này đi kê khai đăng ký nhưng không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2011 bị Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành cưỡng chế thu hồi đất của 4 người này. Như vậy chủ thể người khởi kiện trong vụ án này cũng như trong quá trình giải quyết khiếu nại lẽ ra phải là 4 người con của ông M. Tuy nhiên khi không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông M là người đứng đơn khiếu nại và được các cấp giải quyết, ông M tiếp tục khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án là không đúng. Theo quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 109 Luật tố tụng hành chính thì trong trường hơp này ông M không có quyền khởi kiện mà người khiếu nại và khởi kiện là các con của ông M. Do vì sai lầm trong việc xác định đối tượng khởi kiện; xác định chủ thể người khởi kiện nên cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.
2. Vụ "Bồi thường thiệt hại do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động" giữa Nguyễn Văn H và Công ty TNHH MTV Cao Su 30/4 Tây Ninh (viết tắt là Công ty 30/4) bị hủy một phần.
Theo đơn khởi kiện ngày 04/6/2012 anh H yêu cầu Công ty 30/4 phải trả lương cho anh số tiền là 3.029.400 đồng do nâng lương tối thiểu. Ngoài ra anh H còn trình bày vào năm 2004 anh có ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với Công ty đến ngày 10/4/2012 Công ty có mời H đến thỏa thuận lại hợp đồng, chuyển vị trí làm việc từ vị trí hiện tại đến địa điểm mới cách xa đi về trên 170 km. Anh H không chấp nhận theo sự điều động của Công ty. Đến ngày 14/5/2012 Công ty cho rằng anh H tự ý bỏ việc nên đã đơn phương chấm dứt hợp đồng và xóa tên anh H trong danh sách người lao động của Công ty. Kể từ ngày 24/4/2012 anh H không còn là người lao động của Công ty. Anh H khởi kiện yêu cầu Công ty bồi thường cho anh tổng số tiền là 57.197.160 đồng do công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ kiện:
Tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 04 ngày 16/8/2012 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu nhận định: căn cứ vào khoản 2 Điều 166 Bộ luật lao động thì vụ kiện trên đối với yêu cầu đòi tiền lương bắt buộc phải hòa giải cơ sở theo Điều 165 Bộ luật lao động nhưng vụ kiện trên chưa thông qua thủ tục này nên căn cứ vào Điểm đ khoản 1 Điều 168; khoản 2 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án (với cả hai yêu cầu trên). Nguyên đơn kháng cáo.
Tại phiên họp phúc thẩm xét quyết định đình chỉ, Viện kiểm sát tỉnh đề nghị hủy một phần quyết định đình chỉ nêu trên.
Tại quyết định phúc thẩm số 04 ngày 28/9/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh quyết định hủy một phần quyết định đình chỉ trên, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Tân Châu tiếp tục giải quyết vụ án đối với yêu cầu "Tranh chấp bồi thường thiệt hại do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động".
Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:
Trong vụ kiện này anh H yêu cầu hai vấn đề: yêu cầu thanh toán tiền lương và yêu cầu bồi thường thiệt hại do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Do đó chỉ đối với ranh chấp về tiền lương mới bắt buộc phải qua hòa giải cơ sở. Tòa án cấp sơ thẩm đã đình chỉ đối với cả hai yêu cầu trên là không đúng với quy định của pháp luật. Do vi phạm trong việc áp dụng pháp luật nên cấp phúc thẩm đã hủy một phần quyết định trên.
3. Vụ "Bồi thường thiệt hại do sa thải trái pháp luật" giữa anh Nguyễn Văn S và Công ty TNHH dệt may Hoa Sen (viết tắt là Công ty Hoa Sen).
Anh S làm việc tại Công ty Hoa Sen vào tháng 8/2004. Đến ngày 01/01/2007 ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn nhiệm vụ là công nhân với tổng mức lương và phụ cấp là 2.603.000 đồng/tháng. Ngày 25/4/2011 Công ty ra quyết định sa thải anh. Anh S cho rằng việc sa thải anh là trái pháp luật nên khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Công ty Hoa S cho rằng việc sa thải anh S là đúng quy định của pháp luật với lý do: không hoàn thành công tác được giao, thiếu trách nhiệm trong công việc để thất thoát nguyên liệu kho, gây thiệt hại tài sản, lợi ích và làm giảm uy tín của công ty.
Quá trình giải quyết vụ án:
Tại bản án sơ thẩm số 17 ngày 15/6/2012 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng tuyên xử không chấp nhận yêu cầu tranh chấp hợp đồng lao động về "Đòi bồi thường thiệt hại do kỷ luật lao động hình thức sa thải" của anh S đối với Công ty Hoa Sen. Anh S kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đề nghị chấp nhận kháng cáo, sửa án sơ thẩm. Tại bản án phúc thẩm số 19 ngày 18/9/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh tuyên chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm trên, chấp nhận một phần yêu cầu của anh S buộc Công ty Hoa Sen phải bồi thường cho anh S tổng số tiền 40 triệu đồng…
Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:
Bản án sơ thẩm nhận định: anh S là người được công ty giao nhiệm vụ phân loại vải vụn để bán nhưng do thiếu trách nhiệm nên khi Hải quan kiểm tra phát hiện trong bao vải vụn thanh lý có thêm vải cây (vải còn mới) nên Công ty sa thải anh với lý do trên.
Tuy nhiên khi xem xét các tài liệu chứng cứ thấy: công việc được giao của anh S là phân loại vải vụn nhưng công ty không chứng minh được lỗi do anh S trong việc để thất thoát trên 01 tấn vải nguyên liệu (bị hải quan phát hiện khi xuất bán vải vụn; cơ quan điều tra Công an huyện trả lời không điều tra được nguyên nhân gây thất thoát vải theo yêu cầu của công ty). Hơn nữa số vải thất thoát chưa được cơ quan có thẩm quyền xác định thiệt hại từ 05 triệu đồng trở lên, không có chứng cứ nào chứng minh anh S thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động và bị lập biên bản hoặc nhắc nhở bằng văn bản ít nhất hai lần trong một tháng mà sau đó vẫn không khắc phục. Cấp sơ thẩm chỉ dựa vào trình bày trên của Công ty để kết luận cho rằng anh S không hoàn thành công tác được giao, thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Công ty là không có cơ sở, trái với quy định tại Khoản 1 Điều 12 Nghị định số 44 ngày 09/5/2003 và Điểm a khoản 3 Điều 6 Nghị định số 33 ngày 02/04/2003 của Chính phủ.
Về thủ tục xét kỷ luật anh S, Hội đồng kỷ luật của Công ty họp xét kỷ luật nhưng không có mặt anh S là vi phạm Khoản 3 Điều 87 Bộ luật lao động.
Do việc đánh giá chứng cứ chưa toàn diện, thiếu khách quan, chỉ dựa vào lời trình bày và các tài liệu chưa đủ cơ sở pháp lý của Công ty Hoa Sen, không dựa vào quy định của pháp luật trong việc xem xét căn cứ quyết định sa thải đối với người lao động nên Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tuyên sửa án sơ thẩm, buộc Công ty Hoa Sen phải bồi thường cho anh S theo quy định tại Điều 41 Bộ luật lao động.