Ngày 06, 07/12/2012, Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức Hội nghị toàn quốc “Tổng kết thực tiễn thi hành Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát quân sự năm 2002, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và định hướng sửa đổi đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”. Trang tin điện tử Viện kiểm sát nhân dân tối cao giới thiệu tới bạn đọc Dự thảo Báo cáo “Tổng kết thực tiễn thi hành Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 (sửa đổi năm 2011), Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát quân sự năm 2002 và đề xuất sửa đổi, bổ sung” được trình bày tại Hội nghị...
Dự thảo Báo cáo “Tổng kết thực tiễn thi hành Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002,Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 (sửa đổi năm 2011),Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát quân sự năm 2002 và đề xuất sửa đổi, bổ sung”
Ngày 06, 07/12/2012, Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức Hội nghị toàn quốc “Tổng kết thực tiễn thi hành Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát quân sự năm 2002, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và định hướng sửa đổi đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”. Trang tin điện tử Viện kiểm sát nhân dân tối cao giới thiệu tới bạn đọc Dự thảo Báo cáo “Tổng kết thực tiễn thi hành Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 (sửa đổi năm 2011), Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát quân sự năm 2002 và đề xuất sửa đổi, bổ sung” được trình bày tại Hội nghị.
|
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TỐI CAO
BAN SOẠN THẢO
LUẬT TỔ CHỨC VKSND (SỬA ĐỔI)
|
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2012
|
BÁO CÁO
Tổng kết thực tiễn thi hành Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002,
Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2002(sửa đổi năm 2011),
Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát quân sự năm 2002 và đề xuất sửa đổi, bổ sung
Thực hiện Nghị quyết số 20/2011/QH13 ngày 26/11/2011 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII và Nghị quyết số 428/NQ-UBTVQH13 ngày 29/12/2011 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) về việc triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII, ngày 16/7/2012, VKSND tối cao đã ban hành Kế hoạch số 64/KH-VKSTC-V8 về việc tổng kết thi hành Luật tổ chức VKSND năm 2002, Pháp lệnh Kiểm sát viên VKSND năm 2002 (được sửa đổi năm 2011) nhằm phục vụ xây dựng Dự án Luật tổ chức VKSND (sửa đổi).
Căn cứ vào Kế hoạch số 64/KH-VKSTC-V8, VKSND tối cao đã chỉ đạo Viện kiểm sát các cấp triển khai thực hiện việctổng kết thực tiễn 10 nămthi hành Luật tổ chức VKSND và Pháp lệnh Kiểm sát viên VKSND (được sửa đổi, bổ sung năm 2011); đồng thời, phối hợp với Bộ Quốc phòng chỉ đạo VKSQS các cấp tiến hành tổng kết thực tiễn 10 năm thi hành Pháp lệnh tổ chức VKSQS. Cho đến nay, Viện kiểm sát ở cả 03 cấp và VKSQS trung ương đã hoàn thành việc tổng kết và gửi báo cáo về VKSND tối cao.
Sau đây là báo cáo tổng hợp kết quả tổng kết của63 VKSND tỉnh, thành phố, VKSQS các cấp và các đơn vị trực thuộc VKSND tối cao; ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học, nhà hoạt động thực tiễn ở trong và ngoài ngành Kiểm sát.
PHẦN THỨ NHẤT
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THI HÀNH LUẬT TỔ CHỨC VKSND NĂM 2002,
PHÁP LỆNH KIỂM SÁT VIÊN VKSND NĂM 2002 (SỬA ĐỔI NĂM 2011)
VÀ PHÁP LỆNH TỔ CHỨC VKSQS NĂM 2002
(sau đây viết tắt là Luật và 02 Pháp lệnh)
I. VỀ TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN LUẬT VÀ 02 PHÁP LỆNH
Thực hiện các chủ trương của Đảng về cải cách bộ máy nhà nước và các cơ quan tư pháp, nhất là Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, ngày 02/4/2002, Quốc hội đã thông qua Luật tổ chức VKSND năm 2002 (thay thế cho Luật tổ chức VKSND năm 1992); tiếp đó, ngày 04/10/2002, UBTVQH đã thông qua Pháp lệnh Kiểm sát viên VKSND (thay thế cho Pháp lệnh Kiểm sát viên VKSND năm 1993) và ngày 04/11/2002, UBTVQH đã thông qua Pháp lệnh tổ chức VKSQS (thay thế Pháp lệnh tổ chức VKSQS năm 1993).
1. Để triển khai thi hành Luật và 02 pháp lệnh, Quốc hội đã ban hành 01 nghị quyết, UBTVQH đã ban hành 06 nghị quyết hướng dẫn thi hành các quy định cụ thể của Luật và 02 pháp lệnh nêu trên.[1]
Sau hơn 08 năm thi hành Pháp lệnh Kiểm sát viên VKSND năm 2002, đã phát sinh một số vướng mắc, khó khăn về quy định phân loại Kiểm sát viên gắn với từng cấp kiểm sát và việc điều động Kiểm sát viên ngang cấp. Vì vậy, ngày 19/02/2011, UBTVQH khóa XII đã thông qua Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Kiểm sát viên VKSND năm 2002, trong đó, tập trung sửa 02 vấn đề vướng mắc nêu trên.
2. Ngay sau khi Luật, 02 pháp lệnh và các nghị quyết của Quốc hội, UBTVQH có hiệu lực thi hành, Ban Cán sự đảng, Lãnh đạo VKSND tối cao đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo Viện kiểm sát các cấp quán triệt đầy đủ nội dung các văn bản trên cho tất cả cán bộ, công chức, Kiểm sát viên, Điều tra viên; đồng thời, Viện trưởng VKSND tối cao đã ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật và 02 pháp lệnh trong toàn Ngành[2].
Việc kịp thời quán triệt các văn bản của Quốc hội, UBTVQH và việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành để cụ thể hóa Luật và 02 pháp lệnh đã tạo cơ sở pháp lý khá đầy đủ và toàn diện cho tổ chức và hoạt động của VKSND, VKSQS các cấp trong 10 năm qua.
II. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TỪ VIỆC THỰC HIỆN LUẬT VÀ 02 PHÁP LỆNH
1. Kết quả thực hiện các quy định về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát
Theo quy định của Luật tổ chức VKSND năm 2002 và Pháp lệnh tổ chức VKSQS năm 2002, VKSND có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; VKSQS thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong quân đội. Trong phạm vi chức năng của mình, Viện kiểm sát có nhiệm vụ góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân, bảo đảm để mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải bị xử lý theo pháp luật.
Quy định của Luật tổ chức VKSND năm 2002 và Pháp lệnh tổ chức VKSQS năm 2002 về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát đã thể chế hóa các chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp nói chung và VKSND nói riêng được thể hiện trong các nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”; đồng thời đã cụ thể hóa các quy định về VKSND của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001).
Sau 10 năm thi hành Luật tổ chức VKSND năm 2002 và Pháp lệnh tổ chức VKSQS năm 2002, VKS các cấp đã thực hiện nghiêm túc các chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Luật, Pháp lệnh; thể hiện trên các phương diện cụ thể sau đây:
1.1.Kết quả thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự
1.1.1. Kết quả kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
VKS các cấp đã chú trọng việc nắm bắt và quản lý đầy đủ hơn số liệu tố giác, tin báo về tội phạm, chủ động phối hợp với cơ quan Điều tra để nắm, đối chiếu, rà soát số liệu, kịp thời đề ra yêu cầu xác minh đối với cơ quan điều tra; kiểm sát chặt chẽ hoạt động tiếp nhận, phân loại, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, bảo đảm việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của cơ quan điều tra đúng pháp luật, đầy đủ và kịp thời[3]. Nhiều Viện kiểm sát địa phương đã chủ động tổ chức kiểm sát trực tiếp đối với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của cơ quan điều tra.
1.1.2. Kết quả thực hành quyền công tố
- Thực hiện chức năngthực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử vụ án hình sự, Viện kiểm sát các cấp đề ra nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố; luôn bám sát đường lối, chủ trương của Đảng về chính sách hình sự, phối hợp chặt chẽ với cơ quan điều tra và Tòa án trong việc phân hóa xử lý tội phạm, nghiêm trị những tội phạm nguy hiểm, khoan hồng đối với những người lần đầu phạm tội, phạm tội ít nghiêm trọng; đáp ứng yêu cầu xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội.
Chất lượng, hiệu quả công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra được nâng lên rõ rệt. Viện kiểm sát các cấp đã yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố hàng trăm vụ án, bị can[4]; đã hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án của cơ quan điều tra và ra quyết định khởi tố hàng trăm vụ án[5]. Viện kiểm sát các cấp đã bám sát quá trình điều tra để kịp thời đề ra yêu cầu điều tra, đẩy nhanh tiến độ điều tra vụ án, hạn chế tình trạng điều tra kéo dài[6]. Công tác xét phê chuẩn việc khởi tố bị can, bắt khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, tạm giam bảo đảm thực hiện đúng quy định của pháp luật. Số người bị bắt, tạm giữ chuyển khởi tố hình sự đạt tỷ lệ cao[7]. Đã khắc phục cơ bản việc lạm dụng bắt khẩn cấp, việc hình sự hoá các quan hệ kinh tế, dân sự; hạn chế đáng kể việc bắt oan, sai; hạn chế tình trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa Viện kiểm sát và cơ quan điều tra; đẩy nhanh tiến độ giải quyết án; giảm đáng kể các trường hợp khởi tố, điều tra sau phải đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án do bị can không phạm tội. Số vụ án Viện kiểm sát truy tố đạt tỷ lệ cao so với tổng số vụ án đã kết thúc điều tra[8].
- Hoạt động thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại các phiên tòa xét xử vụ án hình sự từng bước được nâng cao, thực hiện tốt chính sách hình sự, góp phần cùng Tòa án ra bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, nghiêm minh, kịp thời.
Quán triệt chủ trương cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị, căn cứ Luật tổ chức VKSND năm 2002, Pháp lệnh tổ chức VKSQS và Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003, VKS các cấp đã phối hợp với Tòa án tổ chức nhiều phiên tòa theo yêu cầu cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa; tăng cường trách nhiệm tranh tụng của Kiểm sát viên tại các phiên tòa xét xử vụ án hình sự; thực hiện việc thông khâu kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử sơ thẩm. Phần lớn các kiểm sát viên nắm chắc hồ sơ, chủ động trong việc xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, đã góp phần tạo ra những chuyển biến tích cực trong công tác xét xử của tòa án các cấp, phiên tòa được diễn ra dân chủ và bình đẳng hơn; phán quyết của Tòa án bảo đảm chính xác hơn; số bản án, quyết định có sai sót bị hủy hoặc sửa đã giảm đáng kể.
1.1.3. Kết quả kiểm sát việc giải quyết vụ án hình sự
- Trong hoạt động kiểm sát điều tra, căn cứ vào quy định tại Điều 14 Luật tổ chức VKSND năm 2002 và các quy định của BLTTHS năm 2003, ngay từ khi khởi tố vụ án, Viện kiểm sát đã phân công Kiểm sát viên bám sát quá trình điều tra vụ án; kiểm sát chặt chẽ việc thu thập chứng cứ, lập hồ sơ vụ án của cơ quan điều tra, chấn chỉnh kịp thời các vi phạm trong quá trình điều tra, bảo đảm tỷ lệ khởi tố hình sự cao, việc khởi tố, việc bắt, giam, giữ người phạm tội có căn cứ, đúng pháp luật; kiên quyết trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhằm khắc phục thiếu sót, vi phạm trong quá trình điều tra.
- Trong hoạt động kiểm sát xét xử hình sự, căn cứ vào quy định tại Điều 18 Luật tổ chức VKSND năm 2002 và các quy định của BLTTHS năm 2003, VKS các cấp đã kiểm sát xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm một số lượng lớn các vụ án hình sự[9]. Kiểm sát viên đã kiểm sát chặt chẽ việc xét xử tại phiên tòa; tăng cường công tác kiểm sát phát hiện các bản án, quyết định của Toà án có vi phạm để kháng nghị, kiến nghị, đồng thời, đề ra biện pháp nâng cao chất lượng kháng nghị[10]. Kháng nghị của VKS các cấp được Tòa án chấp nhận đạt tỷ lệ cao: kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát được Tòa án chấp nhận đạt tỷ lệ 62 - 70 %; kháng nghị giám đốc thẩm của Viện kiểm sát được Tòa án chấp nhận đạt tỷ lệ 83%. Kháng nghị của Viện kiểm sát tập trung yêu cầu Toà án khắc phục các bản án, quyết định áp dụng khung hình phạt không đúng, không đủ căn cứ. Trong đó, quyết định kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với một số vụ án được dư luận quan tâm.
- Trong hoạt động kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự, Viện kiểm sát các cấp đã tập trung kiểm sát chặt chẽ việc áp dụng căn cứ tạm giữ, tạm giam, phân loại giam, giữ, quản lý, giáo dục, kiểm sát định kỳ và đột xuất các nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, bảo đảm việc thực hiện các chế độ đối với người bị giam, giữ theo đúng quy định của pháp luật. Qua hoạt động kiểm sát, VKS các cấp đã thực hiện quyết định trả tự do ngay cho người bị tạm giữ, tạm giam khi xác định việc tạm giữ, tạm giam không có căn cứ và trái pháp luật[11]; đồng thời, đề nghị đưa ra khỏi danh sách hàng trăm trường hợp chưa đủ điều kiện xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù; ban hành nhiều văn bản kiến nghị, kháng nghị yêu cầu khắc phục vi phạm trong việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự[12]. Qua đó, góp phần bảo đảm việc giam, giữ, thi hành án theo đúng quy định của pháp luật; chế độ giam, giữ được chấp hành nghiêm chỉnh; tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị giam, giữ và các quyền khác của họ được tôn trọng. Ngành Kiểm sát đã tăng cường quan hệ phối hợp với các ngành có liên quan để thực hiện tốt công tác giải quyết đặc xá theo quyết định của Chủ tịch nước. VKSND tối cao phối hợp với các cơ quan hữu quan thực hiện tốt chủ trương xét đặc xá cho phạm nhân và chỉ đạo Viện kiểm sát địa phương làm tốt công tác này, góp phần cho Hội đồng Tư vấn đặc xá trung ương hoạt động có hiệu quả.[13]
Viện kiểm sát các cấp cũng chú trọng công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc quản lý, giáo dục người chấp hành án treo, cải tạo không giam giữ. Từ năm 2006 đến năm 2010, đã tiến hành kiểm sát 7.858 lượt Ủy ban nhân dân xã, phường về công tác thi hành án tại địa phương. Qua đó, đã kiến nghị các cấp chính quyền tăng cường công tác quản lý, giáo dục người bị thi hành án treo, cải tạo không giam giữ ở địa phương. Nhiều Viện kiểm sát địa phương đã phối hợp với Uỷ ban nhân dân tổ chức các hội nghị pháp chế nhằm nâng cao chất lượng công tác thi hành án đối với loại bị án này.
1.2. Kết quả thực hiện thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát
Từ năm 2002 đến nay, theo khoản 2 Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2002, Điều 110 BLTTHS năm 2003 và Điều 18 Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004, cơ quan điều tra của VKSND chỉ được tổ chức ở VKSND tối cao và VKSQS trung ương và chỉ có thẩm quyền điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp.VKSND tối cao đã kịp thời ổn định tổ chức bộ máy của cơ quan điều tra, tăng cường phối hợp với Viện kiểm sát địa phương để đấu tranh phòng, chống các loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp và đã đạt được những kết quả nhất định. Những năm gần đây, thực hiện chủ trương đẩy mạnh thực hiện cải cách tư pháp, hoạt động của cơ quan điều tra VKSND tối cao và VKSQS trung ương đã có những chuyển biến tích cực[14]. Các vụ án do cơ quan điều tra VKSND tối cao và VKSQS trung ương khởi tố, điều tra đều được tiến hành kiểm sát chặt chẽ theo đúng các quy định của pháp luật. Qua điều tra, giải quyết các vụ án, cơ quan điều tra VKS đã ban hành kiến nghị yêu cầu các cơ quan tư pháp, cơ quan quản lý thực hiện các biện pháp phòng ngừa tội phạm, vi phạm pháp luật. Tuy số lượng án do cơ quan điều tra của VKS khởi tố, điều tra không nhiều, nhưng qua việc thực hiện thẩm quyền điều tra, VKSND đã góp phần bảo đảm sự tuân thủ Hiến pháp và pháp luật trong hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp.
1.3. Kết quả thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong lĩnh vực dân sự, hành chính
a) Từ năm 2002 đến nay, do tác động của sự phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, tình hình tranh chấp dân sự, hành chính ngày càng gia tăng, diễn biến phức tạp, nhất là tranh chấp về đất đai, nhà ở, đền bù giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, cấp, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; xuất hiện ngày càng nhiều các tranh chấp có yếu tố nước ngoài.Trước tình hình đó, Viện kiểm sát các cấp đã tập trung kiểm sát chặt chẽ việc giải quyết các tranh chấp dân sự về đất đai, nhà ở, về quyền sở hữu tài sản, về hôn nhân và gia đình, về kinh doanh, thương mại, lao động…
- Từ 2002 đến 31/12/2004, thực hiện Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (Pháp lệnh TTGQCVADS) năm 1989 và Luật tổ chức VKSND năm 2002, Viện kiểm sát các cấp đã khởi tố 104 vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình; yêu cầu Toà án xác minh bổ sung chứng cứ hoặc tự mình xác minh bổ sung chứng cứ hàng nghìn vụ án; tham gia 100% các phiên toà xét xử vụ án về dân sự, hôn nhân và gia đình của Toà án. Qua hoạt động kiểm sát đã phát hiện nhiều vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ việc của Toà án. Viện kiểm sát đã kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm 1165 vụ; kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 484 vụ. Qua đó, đã góp phần bảo đảm việc giải quyết các vụ việc đúng pháp luật.
- Từ 01/01/2005, khi Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004 có hiệu lực, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự có sự thay đổi cơ bản so với Pháp lệnh TTGQCVADS năm 1989 và Luật tổ chức VKSND năm 2002. Theo đó, Viện kiểm sát không thực hiện thẩm quyền khởi tố các vụ án dân sự, không tham gia 100% các phiên toà xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án dân sự, không xác minh, thu thập chứng cứ...Thực hiện các quy định này, VKSND tối cao đã chỉ đạo toàn Ngành chuyển trọng tâm công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, tập trung vào kiểm sát các bản án, quyết định của Toà án.
Sau 6 năm thực hiện BLTTDS năm 2004, đã phát sinh một số vấn đề vướng mắc, khó khăn, không phù hợp với thực tiễn và chưa đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Để khắc phục những vướng mắc, bất cập của đạo luật này, ngày 29/3/2011, Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật số 65/2011/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2012). Một trong những nội dung sửa đổi lớn nhất của BLTTDS lần này là mở rộng phạm vi tham gia các phiên tòa xét xử vụ án dân sự của Viện kiểm sát và mở rộng phạm vi kiểm sát đối với cả việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện của đương sự.
- Cùng với việc sửa đổi BLTTDS, Quốc hội cũng đã ban hành Luật tố tụng hành chính (Luật TTHC), thay thế Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 (được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2006). Với việc quy định mở rộng thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính, trách nhiệm của VKSND trong kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính cũng tăng lên nhiều so với trước.
b) Căn cứ vào các quy định của Luật tổ chức VKSND năm 2002 và bám sát các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, Viện kiểm sát các cấp đã chủ động trong việc thực hiện thẩm quyền, trách nhiệm. Chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành chính được bảo đảm.
Trong việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị, số lượng, chất lượng hiệu quả công tác kháng nghị của Viện kiểm sát các cấp ngày càng được nâng cao[15]. Tỷ lệ kháng nghị được Toà án chấp nhận tăng hơn nhiều so với trước: kháng nghị phúc thẩm dân sự được Tòa án chấp nhận đạt từ 80 - 82% (trước đó chỉ đạt 50-55%); kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đạt tỷ lệ 90 - 96%. Có một số vụ Viện kiểm sát kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm mà Toà án không chấp nhận, VKSND tối cao tiếp tục kháng nghị ra Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao và đã được chấp nhận.
Bên cạnh việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị, qua thực hiện kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành chính, Viện kiểm sát các cấp đã tổng hợp tình hình vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án, vụ việc và đã ban hành hàng nghìn văn bản kiến nghị[16]với Tòa án các cấp nhằm khắc phục những vi phạm về việc gửi thông báo thụ lý, bản án, quyết định cho Viện kiểm sát không bảo đảm thời hạn luật định; kéo dài việc giải quyết vụ án; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ án không đúng pháp luật; chậm chuyển các quyết định, bản án, hồ sơ vụ việc làm ảnh hưởng đến thời gian xem xét việc kháng nghị của Viện kiểm sát đối với những bản án, quyết định của Toà án có vi phạm...; đồng thời, Viện kiểm sát còn phát hiện, tổng hợp những vi phạm trong quản lý hành chính nhà nước và kiến nghị các cơ quan chính quyền có biện pháp giải quyết các điểm nóng, khiếu kiện bức xúc, kéo dài, góp phần thực hiện tốt hơn quản lý nhà nước trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội.
1.4. Kết quả thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong lĩnh vực thi hành án dân sự; giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp
a) Trong công tác kiểm sát thi hành án dân sự, Viện kiểm sát các cấp đã tăng cường kiểm sát việc tổ chức thi hành án, phối hợp với cơ quan thi hành án phân loại án có điều kiện, không có điều kiện để yêu cầu cơ quan thi hành án kịp thời tổ chức thi hành các bản án, quyết định có điều kiện thi hành; phối hợp kiểm sát tốt việc xét miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí. Kiến nghị với Bộ Tư pháp rà soát để sửa đổi, bổ sung những văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành án dân sự không còn phù hợp nhằm tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ thi hành án dân sự, góp phần tăng tỷ lệ thi hành đối với số vụ việc án có hiệu lực pháp luật có điều kiện thi hành[17]. Qua hoạt động kiểm sát, đã kiến nghị, kháng nghị với cơ quan thi hành án yêu cầu khắc phục các vi phạm. Những kết luận, kiến nghị kháng nghị của Viện kiểm sát đều được cơ quan thi hành án và cơ quan hữu quan chấp nhận, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự[18].
b) Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp cũng được chú trọng thực hiện và đã đạt được kết quả tích cực. Việc tiếp nhận, giải quyết đơn thư và kiểm sát việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp về cơ bản bảo đảm chặt chẽ, đúng thẩm quyền, thủ tục, thời hạn [19]. VKS các cấp đã tăng cường nắm, kiểm sát việc giải quyết đơn, kiểm sát trực tiếp công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp tại các cơ quan tư pháp. Qua kiểm sát đã phát hiện và ban hành nhiều kiến nghị, kháng nghị yêu cầu các cơ quan tư pháp khắc phục vi phạm, góp phần hạn chế tình trạng đơn thư khiếu nại, tố cáo tồn đọng, kéo dài, giải quyết những bức xúc về khiếu nại trong hoạt động tư pháp.
2. Kết quả thực hiện các quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát
2.1. Về thực hiện nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong Ngành
VKS các cấp luôn quán triệt và thực hiện nghiêm túc nguyên tắc “tập trung, thống nhất lãnh đạo trong Ngành” theo quy định tại Điều 8 Luật tổ chức VKSND năm 2002. Trong từng cấp kiểm sát, VKSND do Viện trưởng lãnh đạo. Các Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên, cán bộ, công chức của Viện kiểm sát thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Viện trưởng và chịu trách nhiệm trước Viện trưởng. Trong hệ thống VKSND, Viện trưởng VKSND cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng VKSND cấp trên; Viện trưởng VKSND các địa phương, Viện trưởng VKSQS các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng VKSND tối cao. VKSND cấp trên có trách nhiệm kiểm tra, phát hiện, khắc phục kịp thời và xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật của VKSND cấp dưới. Viện trưởng VKSND cấp trên có quyền rút, đình chỉ hoặc huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của VKSND cấp dưới.
Thực tế cho thấy, việc thực hiện nguyên tắc “tập trung, thống nhất lãnh đạo trong Ngành” đã bảo đảm cho cả hệ thống Viện kiểm sát hoạt động thống nhất, vận hành trôi chảy, sử dụng đúng và đủ các quyền năng pháp lý do luật định, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác.
2.2. Về thực hiện nguyên tắc độc lập của Viện kiểm sát với các cơ quan nhà nước khác
Kể từ khi được thành lập (năm 1960) đến nay, Viện kiểm sát luôn được tổ chức thành một hệ thống cơ quan nhà nước độc lập. Mỗi Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong hoạt động của mình đều độc lập và khi thực hiện quyền hạn do Luật định chỉ tuân theo pháp luật và theo sự lãnh đạo, chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát, không phụ thuộc bất kỳ cơ quan nhà nước nào ở trung ương cũng như ở địa phương, ngoại trừ cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội. Thực hiện nguyên tắc này nhằm bảo đảm tính khách quan và tính chủ động của Viện kiểm sát trong thực thi chức năng, nhiệm vụ. Tuy nhiên, trong thực tiễn hoạt động của Viện kiểm sát, luôn có sự phối hợp với các cơ quan nhà nước ở địa phương nhằm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan.
2.3. Về thực hiện nguyên tắc kết hợp giữa vai trò lãnh đạo của Viện trưởng và chế độ làm việc tập thể của Ủy ban kiểm sát
Thực hiện nguyên tắc kết hợp giữa vai trò lãnh đạo của Viện trưởng và chế độ làm việc tập thể của Ủy ban kiểm sát, Viện trưởng Viện kiểm sát có quyền lãnh đạo cao nhất và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của Viện kiểm sát cấp mình; Viện trưởng VKSND tối cao có quyền lãnh đạo cao nhất và chịu trách nhiệm về hoạt động của toàn ngành Kiểm sát; còn Ủy ban kiểm sát làm việc theo chế độ tập thể, thảo luận và quyết định theo đa số những vấn đề quan trọng[20]. Khi Viện trưởng không nhất trí với ý kiến của đa số thành viên Ủy ban kiểm sát thì vẫn thực hiện theo quyết định của đa số, nhưng có quyền báo cáo lên cấp trên (Viện trưởng VKSND tối cao báo cáo với UBTVQH; Viện trưởng VKSND cấp tỉnh, Viện trưởng VKSQS trung ương báo cáo với Viện trưởng VKSND tối cao…). Quy định này vừa đảm bảo mở rộng dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể, vừa đề cao trách nhiệm của Viện trưởng Viện kiểm sát.
Thực tiễn cho thấy, các nguyên tắc đặc thù trong tổ chức và hoạt động của VKSND đến nay vẫn còn phù hợp, cần tiếp tục được kế thừa và ghi nhận trong Luật tổ chức VKSND (sửa đổi).
3. Kết quả thực hiện các quy định về tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát
Theo quy định tại các chương VII, VIII của Luật tổ chức VKSND năm 2002 và Chương III của Pháp lệnh tổ chức VKSQS năm 2002, hệ thống VKSND được tổ chức theo đơn vị hành chính, lãnh thổ; hệ thống VKSQS được tổ chức vừa theo lãnh thổ (quân khu), vừa theo đơn vị hành chính quân sự (quân chủng, quân đoàn, bộ đội biên phòng). Toàn bộ hệ thống Viện kiểm sát gồm có: (1) VKSND tối cao; (2) Các VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các VKSND huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh; (3) Các VKSQS, gồm: VKSQS trung ương, VKSQS quân khu và tương đương, VKSQS khu vực.
Thực hiện Luật, Pháp lệnh, VKSND tối cao đã kiện toàn bộ máy làm việc; đã chỉ đạo sắp xếp lại tổ chức và bố trí lực lượng ở các đơn vị tại VKSND tối cao và các Viện kiểm sát địa phương, như: quyết định giải thể Vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trực thuộc VKSND tối cao, Phòng kiểm sát việc tuân theo pháp luật thuộc VKSND cấp tỉnh và VKSQS trung ương; giải thể Phòng Điều tra thuộc VKSND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Ban Điều tra thuộc VKSQS cấp quân khu để tăng cường cán bộ cho các khâu công tác khác; sáp nhập các đơn vị thuộc khối thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra; thành lập Cục thống kê tội phạm ở VKSND tối cao (nay là Cục thống kê tội phạm và Công nghệ thông tin) và Phòng Thống kê tội phạm ở VKSND cấp tỉnh...
Năm 2007, VKSND tối cao đã thành lập mới một số đơn vị, gồm: Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án tham nhũng (Vụ 1B), Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án an ninh (Vụ 2), Vụ Hợp tác quốc tế (nay là Vụ Hợp tác quốc tế và Tương trợ tư pháp); củng cố Cơ quan điều tra ở VKSND tối cao; sáp nhập và đổi tên hai trường Cao đẳng kiểm sát tại Hà Nội và tại thành phố Hồ Chí Minh thành Trường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát. Năm 2012, VKSND tối cao đã đổi mới, kiện toàn một số đơn vị như : Cục Thống kê tội phạm thành Cục Thống kê tội phạm và Công nghệ thông tin; Vụ Hợp tác quốc tế thành Vụ Hợpk tác quốc tế và Tương trợ tư pháp; Ban Thanh tra thành Thanh tra VKSND tối cao.
Tổ chức bộ máy ở VKSND tối cao hiện có 26 đơn vị trực thuộc, được chia thành 03 khối công tác cơ bản là: (1) Khối các đơn vị thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; (2) Khối các đơn vị làm công tác quản lý và tham mưu tổng hợp; và (3) Khối các đơn vị làm công tác sự nghiệp.
Tổ chức bộ máy ở VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gồm 63 đơn vị) được tổ chức theo 05 mô hình, phù hợp với đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội, địa lý và dân cư; cụ thể là: 01 VKSND cấp tỉnh có tổ chức bộ máy gồm 14 phòng; 01 VKSND cấp tỉnh có tổ chức bộ máy gồm 13 phòng; 14 VKSND cấp tỉnh có tổ chức bộ máy gồm 12 phòng; 13 VKSND cấp tỉnh có tổ chức bộ máy gồm 11 phòng; 34 VKSND cấp tỉnh có tổ chức bộ máy gồm từ 8 -10 phòng.
Tổ chức bộ máy ở VKSND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gồm 696 đơn vị) được chia làm 03 bộ phận công tác: (1) Bộ phận thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử hình sự và kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam; (2) Bộ phận kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật; (3) Bộ phận Văn phòng tổng hợp, thống kê tội phạm, xét khiếu tố.
Tổ chức bộ máy của VKSQS có 48 đơn vị đầu mối, gồm:VKSQS trung ương, 15 VKSQS quân khu và tương đương, 32VKSQS khu vực.
Như vậy, hệ thống VKSND được tổ chức theo địa giới hành chính, tương ứng với tổ chức hệ thống TAND và tổ chức hệ thống Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân; hệ thống VKSQS vừa được tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ, vừa được tổ chức theo đơn vị hành chính - quân sự. Thực tiễn thực hiện quy định của Luật, Pháp lệnh cho thấy, tổ chức bộ máy của VKSND, VKSQS các cấp về cơ bản là phù hợp, bảo đảm sự phối hợp giữa các cơ quan tư pháp trong quá trình thực thi chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan.
4. Kết quả thực hiện các quy định về chức danh pháp lý của Viện kiểm sát
Theo quy định của Luật tổ chức VKSND năm 2002, Pháp lệnh tổ chức VKSQS năm 2002 và Pháp lệnh Kiểm sát viên VKSND năm 2002, các chức danh pháp lý của Viện kiểm sát gồm có: Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên và Điều tra viên. Sau 10 năm thực hiện quy định của Luật và 02 Pháp lệnh, đội ngũ cán bộ của ngành Kiểm sát nói chung và lực lượng Kiểm sát viên, Điều tra viên nói riêng đã tăng đáng kể về số lượng và chất lượng.
4.1. Về Kiểm sát viên VKSND
Từ 2002 - 2011, Kiểm sát viên VKSND được quy định gắn với từng cấp kiểm sát, gồm ba loại là: Kiểm sát viên VKSND cấp huyện, Kiểm sát viên VKSND cấp tỉnh và Kiểm sát viên VKSND tối cao.
Từ 01/7/2011, theo Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Kiểm sát viên VKSND, đã có sự đổi mới cơ bản về ngạch Kiểm sát viên và cơ cấu Kiểm sát viên ở mỗi cấp Viện kiểm sát. Theo đó, Kiểm sát viên VKSND gồm có Kiểm sát viên VKSND tối cao, Kiểm sát viên trung cấp và Kiểm sát viên sơ cấp. Mỗi cấp Viện kiểm sát được bố trí nhiều loại Kiểm sát viên; địa vị pháp lý, nhiệm vụ, quyền hạn, tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm đối với Kiểm sát viên VKSND được thực hiện theo quy định của Pháp lệnh Kiểm sát viên VKSND.
Thực hiện quy định của Luật và các pháp lệnh, ngành Kiểm sát đã chú trọng công tác xây dựng, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nhất là Kiểm sát viên. Đội ngũ Kiểm sát viên ngày càng được củng cố tăng cường; chất lượng của đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên ngày càng được nâng cao; đặc biệt là trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, Kiểm sát viên có những chuyển biến vượt bậc [21].
4.2. Về Điều tra viên của Viện kiểm sát
Điều tra viên VKSND và Điều tra viên VKSQS gồm ba loại là: Điều tra viên cao cấp, Điều tra viên trung cấp và Điều tra viên sơ cấp. Địa vị pháp lý, nhiệm vụ, quyền hạn, tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm đối với Điều tra viên của Viện kiểm sát được thực hiện theo quy định của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự.
Sau khi tổ chức lại bộ máy cơ quan điều tra, ngành Kiểm sát đã quan tâm đến việc củng cố, tăng cường đội ngũ Điều tra viên. Nhất là từ năm 2010 đến nay, số lượng và chất lượng cán bộ, Điều tra viên của cơ quan điều tra ngày càng được nâng cao: năm 2010, cơ quan điều tra chỉ có 52 biên chế, trong đó có 33 Điều tra viên các cấp (15 ĐTV cao cấp, 16 ĐTV trung cấp và 02 ĐTV sơ cấp); Đến năm 2012, biên chế của cơ quan điều tra được tăng lên thành 82 người. Vừa qua,UBTVQH đã ra Nghị quyết, cho phép tăng số lượng biên chế của Cơ quan điều tra VKSND tối cao lên thành 187 người, trong đó, số lượng Điều tra viên cao cấp được tăng lên thành 35 người. Về cơ bản, đội ngũ cán bộ, Điều tra viên đều được đào tạo nghiệp vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và điều tra tội phạm.
5. Kết quả thực hiện các quy định về bảo đảm hoạt động của Viện kiểm sát
Luật Tổ chức VKSND năm 2002 dành một chương (Chương X) quy định về bảo đảm hoạt động của VKSND; Pháp lệnh tổ chức VKSQS cũng dành một chương (Chương V) về bảo đảm hoạt động của VKSQS, trong đó quy định những vấn đề có tính nguyên tắc về biên chế, số lượng Kiểm sát viên, Điều tra viên của Viện kiểm sát; chế độ tiền lương, phụ cấp, giấy chứng minh, trang phục đối cán bộ ngành Kiểm sát và chế độ ưu tiên đối với Kiểm sát viên, Điều tra viên khi thực hiện nhiệm vụ; vấn đề bảo đảm kinh phí và chính sách đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện, điều kiện bảo đảm hoạt động của Viện kiểm sát.
Thực hiện quy định của pháp luật, VKSND tối cao đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành hữu quan (Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Văn phòng Chính phủ ) quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc đầu tư xây dựng trụ sở, trang thiết bị, phương tiện làm việc và bố trí kinh phí hoạt động cho Viện kiểm sát các cấp. Đã thực hiện phân bổ và triển khai kế hoạch sử dụng vốn đầu tư phát triển cho ngành Kiểm sát đảm bảo đúng quy định về quản lý đầu tư và xây dựng. Các công trình dự án xây dựng mới, cải tạo mở rộng đưa vào sử dụng khang trang, hiện đại hơn, nhất là đối với Viện kiểm sát cấp huyện. Từ năm 2005 - 2012, dự toán kinh phí hoạt động thường xuyên đối với ngành Kiểm sát nhân dân đều được bố trí năm sau cao hơn năm trước khoảng trên 10%.
Hàng năm, trên cơ sở kinh phí được Nhà nước giao, căn cứ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước và khả năng ngân sách nhà nước của từng năm, VKSND tối cao đã ban hành các quy định về nguyên tắc và định mức phân bổ cho phù hợp với từng năm ngân sách, áp dụng thống nhất trong toàn ngành Kiểm sát. Trong đó ưu tiên thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, tăng cường kinh phí hoạt động cho các đơn vị thuộc khu vực miền núi, hải đảo. VKSND tối cao phối hợp với các cơ quan tư pháp Trung ương đề nghị và được cấp có thẩm quyền quyết định phân bổ tách khoản chi thường xuyên và chi lương để tăng kinh phí chi thường xuyên cho các cơ quan tư pháp. Trên cơ sở kinh phí được cấp và định mức chi của ngân sách, VKSND tối cao đã xây dựng định mức chi bảo đảm nguyên tắc công khai, dân chủ và phù hợp hoạt động của các đơn vị dự toán trong toàn ngành, bảo đảm kinh phí phục vụ công tác và thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm về cải cách tư pháp. Việc quản lý và sử dụng kinh phí bảo đảm chặt chẽ, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức, tiết kiệm, hiệu quả.
VKSND tối cao đã chỉ đạo các đơn vị chức năng tiến hành rà soát, kiến nghị bổ sung mức kinh phí đối với ngành Kiểm sát theo những nhiệm vụ cải cách tư pháp; thực hiện Đề án về tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho ngành Kiểm sát (giai đoạn 2006-2010); mua sắm trang thiết bị, phương tiện phục vụ công tác nghiệp vụ; tăng cường thực hiện đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện, trụ sở làm việc cho các Viện kiểm sát cấp huyện, chú trọng những đơn vị được thành lập mới, đáp ứng yêu cầu thực hiện tăng thẩm quyền. Đến nay, cơ bản đã trang bị đủ cho Viện kiểm sát cấp huyện xe máy, máy photocopy, máy vi tính…để phục vụ công tác.
Việc xây dựng mới, chống xuống cấp trụ sở làm việc của Viện kiểm sát các cấp cũng được đẩy mạnh. Đến nay, đã có 262 dự án xây dựng đã hoàn thành và đưa vào sử dụng. Hoàn thành 225 dự án xây dựng trụ sở cho Viện kiểm sát cấp huyện theo Quyết định số 716/QĐ-TTg ngày 27/8/2002 của Thủ tướng Chính phủ về đầu tư xây dựng trụ sở VKSND giai đoạn 2002-2005; thực hiện 197/218 dự án của Đề án về chống xuống cấp trụ sở làm việc của Viện kiểm sát các cấp được duyệt theo Quyết định số 620/QĐ-TTg ngày 17/4/2006 của Thủ tướng Chính phủ (21 dự án còn lại được chuyển sang đầu tư xây dựng cơ bản tập trung).
Thực hiện Đề án tin học hoá quản lý nhà nước trong ngành Kiểm sát, Viện kiểm sát các cấp đã chú trọng đầu tư trang thiết bị, đào tạo cán bộ và ứng dụng công nghệ thông tin vào các lĩnh vực công tác của ngành; đang triển khai xây dựng phần mềm quản lý án hình sự và quản lý nghiệp vụ kiểm sát thống nhất trong toàn Ngành. VKSND tối cao đã mở Trang thông tin điện tử nhằm đẩy mạnh tuyên truyền hoạt động của ngành Kiểm sát, tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm nhằm hạn chế bỏ lọt tội phạm.
6. Kết quả thực hiện quy định về giám sát của cơ quan dân cử đối với Viện kiểm sát
Quy định về giám sát của các cơ quan dân cử đối với Viện kiểm sát được ghi nhận tại Điều 9 Luật tổ chức VKSND năm 2002 và Điều 9 Pháp lệnh tổ chức VKSQS năm 2002, theo đó đã quy định rõ vai trò giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân đối với VKSND; giám sát của Hội nghị Đại biểu quân nhân đối với VKSQS.
Thực hiện quy định của Luật, Pháp lệnh, VKSND đã thực hiện nghiêm túc Chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội về thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật. Quốc hội đã giám sát một số công tác của Viện kiểm sát các cấp như: việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của VKSND tối cao; việc các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp huyện thực hiện thẩm quyền mới theo quy định của BLTTHS, BLTTDS, việc chấp hành pháp luật trong công tác điều tra, truy tố, xét xử; thi hành án hình sự, dân sự; giám sát việc giải quyết một số vụ án hình sự, dân sự phức tạp, dư luận quan tâm; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cao của các cơ quan tư pháp…Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội đã tăng cường giám sát hoạt động của VKSND. Qua giám sát, Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội đã chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm và chỉ đạo các biện pháp khắc phục.
VKSND cấp tỉnh, cấp huyện đã thực hiện nghiêm túc trách nhiệm định kỳ báo cáo về tình hình chấp hành pháp luật và kết quả đấu tranh phòng, chống tội phạm tại các kỳ họp của Hội đồng nhân dân (HĐND) cùng cấp. HĐND quan tâm giám sát hoạt động của Viện kiểm sát các cấp. Từ năm 2008 đến nay, việc phối hợp phục vụ hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh đối với hoạt động của VKSND hai cấp ở những nơi thí điểm không tổ chức HĐND cấp huyện được quan tâm thực hiện.
VKSQS đã thực hiện nghiêm túc trách nhiệm mỗi năm một lần báo cáo tình hình tội phạm trong quân đội và công tác của VKSQS trước Hội nghị Đại biểu quân nhân; đồng thời thực hiện trách nhiệm trả lời chất vấn của đại biểu HĐND về hoạt động của VKSQS liên quan đến địa phương theo quy định tại Điều 9 Pháp lệnh tổ chức VKSQS năm 2002.
PHẦN THỨ HAI
NHỮNG VƯỚNG MẮC, BẤT CẬP TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN
CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT VÀ 02 PHÁP LỆNH
I. NHỮNG VƯỚNG MẮC, BẤT CẬP TRONG QUY ĐỊNH CỦA LUẬT VÀ 02 PHÁP LỆNH
1. Những vướng mắc, bất cập trong quy định về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát
- Quy định của Luật tổ chức VKSND năm 2002 và Pháp lệnh tổ chức VKSQS năm 2002 chưa bao quát đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ mà Viện kiểm sát có trách nhiệm phải thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành. Bên cạnh việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, theo quy định của BLTTHS năm 2003, Luật tương trợ tư pháp, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và một số đạo luật khác, VKSND còn được giao thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn khác như: làm đầu mối tương trợ tư pháp về hình sự, bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự…nhưng những nhiệm vụ, quyền hạn này chưa được quy định trong Luật và 02 Pháp lệnh.
- Luật tổ chức VKSND năm 2002 và Pháp lệnh tổ chức VKSQS năm 2002 một mặt, quy định có tính liệt kê các khâu công tác thực hiện chức năng của Viện kiểm sát; mặt khác, lại quy định các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Viện kiểm sát trong từng khâu công tác thực hiện chức năng, do đó còn có sự trùng lặp, chưa thống nhất với quy định của các luật, bộ luật về tố tụng tư pháp (BLTTHS, BLTTDS, Luật TTHC…).
- Một số quy định của Luật tổ chức VKSND năm 2002 không còn phù hợp với quy định của các luật khác có liên quan (được ban hành sau khi có Luật Tổ chức VKSND), cần phải được sửa đổi để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, ví dụ như: (1) Điều 5 Luật tổ chức VKSND năm 2002 chưa quy định về nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát trong kiểm sát việc giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, như vậy là chưa phù hợp với quy định tại Điều 103 BLTTHS năm 2003; (2) Điều 21 Luật tổ chức VKSND năm 2002 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động có nhiều nội dung không phù hợp với BLTTDS năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011) và Luật TTHC năm 2010 như: quyền khởi tố vụ án quy định tại khoản 2 Điều 21 và khoản 5 Điều 24 Luật tổ chức VKSND năm 2002, quyền tự mình xác minh những vấn đề cần làm sáng tỏ nhằm giải quyết đúng đắn vụ án quy định tại khoản 1 Điều 21 Luật tổ chức VKSND năm 2002; quyền yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại khoản 7 Điều 21 Luật tổ chức VKSND năm 2002…
- Một số quy định về quyền hạn, trách nhiệm của Viện kiểm sát đã được ghi nhận trong Luật tổ chức VKSND năm 2002 và Pháp lệnh tổ chức VKSQS năm 2002, nhưng lại chưa quy định các cơ chế để bảo đảm cho Viện kiểm sát thực hiện được đầy đủ quyền hạn, trách nhiệm đó. Ví dụ: tại khoản 2 Điều 13 Luật tổ chức VKSND năm 2002 quy định: khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, VKSND có nhiệm vụ, quyền hạn “đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra”, nhưng lại không quy định cơ chế để bảo đảm Cơ quan điều tra phải thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát, do đó, có không ít trường hợp trên thực tế, cơ quan điều tra không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ yêu cầu của Viện kiểm sát, nhưng không có cơ sở pháp lý để xử lý trách nhiệm. Tại một số điều (các điều 6, 14, 19, 22…) quy định: khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị, quyền yêu cầu đối với các chủ thể thuộc đối tượng kiểm sát, nhưng lại không quy định trách nhiệm của các chủ thể đó trong việc thực hiện kiến nghị hoặc yêu cầu của Viện kiểm sát; đồng thời, không quy định chế tài đối với các chủ thể trong trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các yêu cầu, kiến nghị của Viện kiểm sát.
2. Những vướng mắc, bất cập trong quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát
- Quy định nguyên tắc “tập trung, thống nhất lãnh đạo trong Ngành” đã phát huy vai trò tích cực, nhất là khi Viện kiểm sát còn thực hiện chức năng kiểm sát chung. Tuy nhiên, đến nay cần phải xem xét điều chỉnh lại phạm vi nội dung của nguyên tắc này để bảo đảm thực hiện yêu cầu cải cách tư pháp là tăng quyền và trách nhiệm cho Kiểm sát viên, Điều tra viên để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình. Do đó, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một cách đồng bộ các quy định của pháp luật liên quan đến nguyên tắc này để đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
- Quy định của Luật tổ chức VKSND năm 2002 chưa thể hiện rõ tính độc lập trong tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát với các cơ quan nhà nước khác; chưa quy định rõ cơ chế để bảo đảm cho Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ chỉ tuân theo pháp luật, không chịu sự can thiệp của bất kỳ cơ quan, tổ chức cá nhân nào.
- Việc quy định Ủy ban kiểm sát có quyền thảo luận và quyết định (kể cả trong trường hợp ý kiến của đa số thành viên Ủy ban kiểm sát khác với ý kiến của Viện trưởng Viện kiểm sát) đối với những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động quan trọng (điểm d khoản 2 Điều 32 Luật tổ chức VKSND năm 2002) là không phù hợp với quy định của các luật về tố tụng tư pháp, theo đó, quyền quyết định về việc giải quyết các vụ án, vụ việc thuộc trách nhiệm của Viện trưởng Viện kiểm sát.
3. Những vướng mắc, bất cập trong quy định về tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát
- Quy định về tổ chức bộ máy của VKSND tối cao và Viện kiểm sát các cấp chưa làm rõ các tiêu chí để xác định tổ chức bộ máy của mỗi cấp Viện kiểm sát. Do đó, còn có sự thiếu đồng bộ trong cơ cấu tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát các địa phương.
- Quy định về mô hình tổ chức của các đơn vị thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra ở VKSND tối cao và VKS cấp tỉnh hiện nay còn bất cập so với tổ chức bộ máy của cơ quan điều tra, dẫn đến các vướng mắc sau đây: (1) các Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng, Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng của Viện kiểm sát không phải là chức danh tố tụng, không được BLTTHS quy định về thẩm quyền tố tụng. Một số thẩm quyền do những người này thực hiện là do Viện trưởng VKSND tối cao hoặc Viện trưởng VKSND cấp tỉnh ủy quyền; (2) Trong quan hệ phối hợp trong hoạt động tố tụng giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra thì Tổng Cục trưởng, Phó Tổng cục trưởng; Cục trưởng, Phó Cục trưởng của Cơ quan điều tra lại có thẩm quyền tố tụng (ngang với Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát). Do đó, khi làm việc với Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra thì phải có sự tham gia của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, điều này đã làm giảm đi tính chủ động và tự chịu trách nhiệm của lãnh đạo cấp Vụ, cấp Phòng của Viện kiểm sát, đồng thời làm tăng áp lực công việc cho lãnh đạo VKSND tối cao và lãnh đạo VKSND cấp tỉnh, gây khó khăn cho Viện kiểm sát trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ.
- Quy định hệ thống VKSQS vừa được tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ, vừa được tổ chức theo đơn vị hành chính - quân sự dẫn đến việc xử lý các thông tin tội phạm chưa kịp thời, đi lại vất vả, tốn kém; việc điều tra, truy tố, xét xử theo lãnh thổ còn chồng chéo về thẩm quyền, hiệu quả chưa cao. Mặt khác, chưa bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với tổ chức hệ thống Tòa án và Cơ quan điều tra trong quân đội (cơ quan điều tra được tổ chức theo đơn vị hành chính quân sự, Tòa án quân sự thực hiện thẩm quyền xét xử theo nơi xảy ra tội phạm)[22].
- Quy định chỉ thành lập cơ quan điều tra của Viện kiểm sát tại VKSND tối cao, không tổ chức mạng lưới cấp cơ sở ở các khu vực một số tỉnh, thành phố dẫn đến hiệu quả công tác điều tra của Viện kiểm sát còn hạn chế do không có mạng lưới ở cơ sở, nên chưa nắm bắt được đầy đủ và xử lý và kịp thời các thông tin về tội phạm thuộc thẩm quyền.
4. Những vướng mắc, bất cập trong quy định về các chức danh pháp lý của Viện kiểm sát
- Quy định của Luật và 02 pháp lệnh chưa bao quát đầy đủ các chức danh pháp lý của Viện kiểm sát, còn thiếu các đối tượng là Kiểm tra viên, chuyên viên và các chức danh khác của VKSND, mặc dù trong thực tiễn, các đối tượng này chiếm một tỷ lệ khá lớn trong lực lượng cán bộ của ngành Kiểm sát.
- Quy định của Luật và 02 pháp lệnh chưa phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính tư pháp và thẩm quyền tố tụng tư pháp của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, dẫn đến chưa rõ ràng trong việc phân công quản lý, điều hành và tiến hành tố tụng giữa Viện trưởng và Phó Viện trưởng Viện kiểm sát (có nơi Viện trưởng ủy quyền cho Phó Viện trưởng theo từng vụ, việc; có nơi lại ủy quyền thường xuyên).
- Một số quy định về các quyền năng pháp lý của Viện kiểm sát do Kiểm sát viên thực hiện, nhưng lại chưa chỉ rõ chủ thể thực hiện là Kiểm sát viên, nên chưa đề cao được vai trò, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Ví dụ: Điều 17 Luật tổ chức VKSND năm 2002 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, thực chất, đó là những hoạt động của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
- Pháp luật quy định mỗi cấp Viện kiểm sát có nhiều ngạch Kiểm sát viên, nhưng lại chưa quy định về cơ cấu, tỷ lệ mỗi loại Kiểm sát viên ở mỗi cấp Viện kiểm sát; chưa phân định nhiệm vụ, quyền hạn giữa các loại Kiểm sát viên.
- Quy định Kiểm sát viên được bổ nhiệm theo nhiệm kỳ 05 năm là không phù hợp, bởi vì, Kiểm sát viên là chức danh tố tụng, gắn với hoạt động nghề nghiệp (không phải là chức vụ quản lý); do đó, người đã đủ điều kiện để được bổ nhiệm làm Kiểm sát viên để thực hiện hoạt động nghề nghiệp thì họ phải được công nhận chức danh nghề nghiệp đó cho đến khi họ thôi không còn thực hiện nghề nghiệp đó nữa, trừ trường hợp họ vi phạm các quy định về hoạt động nghề nghiệp thì sẽ bị miễn nhiệm.
- Quy định về Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên chỉ phù hợp với Pháp lệnh Kiểm sát viên VKSND năm 2002. Đến năm 2011, Pháp lệnh này đã được sửa đổi, bổ sung, theo đó quy định ở mỗi cấp Viện kiểm sát được bố trí nhiều ngạch Kiểm sát viên. Tuy nhiên, theo quy định của Pháp lệnh này thì Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên VKSNDTC vẫn chỉ tuyển chọn Kiểm sát viên VKSND tối cao, không tuyển chọn Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp. Do đó, việc triển khai thực hiện quy định của Pháp lệnh Kiểm sát viên VKSND (sửa đổi năm 2011) gặp khó khăn, chưa thể bố trí được nhiều ngạch Kiểm sát viên tại VKSND tối cao do không có Hội đồng để tuyển chọn Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp.
- Có ý kiến cho rằng, quy định Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh làm Chủ tịch Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp là chưa phù hợp, bởi vì chỉ có Viện trưởng Viện kiểm sát mới là người nắm rõ nhất về năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức của những người được tuyển chọn làm Kiểm sát viên và chính Viện trưởng là người phải chịu trách nhiệm về chất lượng Kiểm sát viên thuộc trách nhiệm quản lý của mình.
5. Những vướng mắc, bất cập trong quy định về bảo đảm hoạt động của Viện kiểm sát
- Quy định việc khống chế số lượng Kiểm sát viên ở từng cấp kiểm sát, đã gây khó khăn cho việc bổ nhiệm, điều động, luân chuyển Kiểm sát viên giữa các cấp kiểm sát.
- Việc quy định chế độ tiền lương của Kiểm sát viên được áp dụng giống như cán bộ, công chức nhà nước làm nhiệm vụ quản lý hành chính là không phù hợp với tính chất đặc thù của công tác của Viện kiểm sát. Các chế độ ưu tiên đối với Kiểm sát viên, Điều tra viên ngành Kiểm sát cũng chưa được quy định cụ thể và chưa có cơ chế bảo đảm thực hiện. Do đó, chưa đảm bảo khuyến khích, tạo điều kiện để đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên yên tâm công tác, cố gắng phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ.
6. Những vướng mắc, bất cập trong quy định về sự giám sát của các cơ quan dân cử đối với Viện kiểm sát
Luật tổ chức VKSND chưa quy định rõ quyền và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chủ thể chịu sự giám sát của Quốc hội, HĐND. Hiện nay, nội dung này đang được quy định lẫn vào thẩm quyền của chủ thể giám sát theo hướng quyền của chủ thể giám sát đồng thời được hiểu là nghĩa vụ của chủ thể chịu sự giám sát.
Quy định của pháp luật về quyền giám sát của HĐND đối với Viện kiểm sát còn chưa đầy đủ, chưa cụ thể; thẩm quyền giám sát còn hẹp.
7. Những vướng mắc về kỹ thuật lập pháp
Quy định về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát và các chức danh pháp lý của Viện kiểm sát được ghi nhận ở cả Luật tổ chức VKSND năm 2002, Pháp lệnh Tổ chức VKSQS và Pháp lệnh Kiểm sát viên VKSND năm 2002 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011) nên còn tản mạn, cần được pháp điển hóa, tập trung quy định trong cùng một văn bản để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng.
II. NHỮNG TỒN TẠI, HẠN CHẾ TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN LUẬT VÀ 02 PHÁP LỆNH
1. Về công tác thực hiện chức năng, nhiệm vụ
- Một số Viện kiểm sát chưa làm tốt việc kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm; chưa có biện pháp để nắm đầy đủ số tin báo về tội phạm mà Cơ quan điều tra đã tiếp nhận, thụ lý giải quyết; phương thức kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm còn hình thức, chủ yếu nắm trên sổ sách, chưa trực tiếp nghiên cứu hồ sơ; Kiểm sát viên được giao nhiệm vụ còn thụ động, ngại va chạm. Chất lượng kiểm sát trực tiếp việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm còn hạn chế, không ít vụ việc có dấu hiệu tội phạm chưa được phát hiện kịp thời để khởi tố, điều tra theo quy định của pháp luật.
- Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát mặc dù đã có nhiều đổi mới song vẫn chưa thực sự phát huy được tính chủ động, vẫn còn hiện tượng thụ động, chờ việc, để đến khi cơ quan điều tra kết thúc điều tra, đề nghị xử lý thì Kiểm sát viên mới thực sự “vào cuộc”, dẫn đến có trường hợp chất lượng hồ sơ điều tra chưa đảm bảo, việc thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, chặt chẽ, vi phạm tố tụng chậm được phát hiện, do đó phải trả hồ sơ điều tra bổ sung nhiều lần. Việc thực hiện kiểm sát các hoạt động điều tra chưa chặt chẽ nên còn bỏ lọt tội phạm. Trong các hoạt động điều tra, vẫn còn xảy ra một số trường hợp khởi tố, bắt, tạm giữ, tạm giam oan, sai hoặc phải đình chỉ điều tra do bị can không phạm tội. Thời hạn điều tra, xử lý một số vụ án, nhất là án tham nhũng, án trọng điểm còn có trường hợp bị kéo dài, trong đó có trách nhiệm của Viện kiểm sát…
- Chất lượng tranh tụng tại phiên tòa của một số Kiểm sát viên còn chưa cao, chưa ngang tầm với yêu cầu cải cách tư pháp, có Kiểm sát viên còn thụ động, lúng túng khi xét hỏi bị cáo, chưa tích cực tranh luận để bác bỏ những luận điểm không đúng của người bào chữa và những người tham gia tố tụng…
- Chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, vụ án hành chính còn có mặt hạn chế. Không ít vi phạm pháp luật chưa được Viện kiểm sát phát hiện để kháng nghị mà do đương sự kháng cáo mới phát hiện được. Không ít trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị chưa có đủ căn cứ nên bị Tòa án bác kháng nghị. Công tác nghiên cứu, giải quyết đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án,quyết định về dân sự, hành chính nhiều vụ còn chậm. Một số vụ việc khiếu kiện phức tạp, kéo dài, chưa được giải quyết dứt điểm, gây bức xúc trong xã hội, trong đó có một phần trách nhiệm của Viện kiểm sát.
- Công tác kiểm sát thi hành án hình sự, thi hành án dân sự kết quả chưa cao. Số lượng người bị kết án phạt tù trốn thi hành án còn nhiều và chưa có biện pháp giải quyết dứt điểm. Việc thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án tỷ lệ còn thấp, số lượng bản án, quyết định dân sự có hiệu lực pháp luật nhưng chưa được thi hành còn nhiều, nhưng chưa có được những giải pháp mang tính đột phá để giải quyết tình trạng án tồn đọng, không được thi hành.
- Nhiều vướng mắc, khó khăn trong nhận thức và vận dụng pháp luật giữa các cơ quan tiến hành tố tụng nhưng chậm được tổng kết, hướng dẫn, chỉ đạo tháo gỡ.
2. Về thực hiện nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát
- Còn có biểu hiện lệ thuộc vào quyết định của Viện trưởng, chưa phát huy tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của Kiểm sát viên trong thực hiện các thẩm quyền tố tụng. Mặc dù pháp luật tố tụng quy định Kiểm sát viên có quyền tự mình đưa ra một số quyết định tố tụng và chịu trách nhiệm về các quyết định đó mà không cần có ý kiến của Viện trưởng Viện kiểm sát (ví dụ: quyền đề ra yêu cầu điều tra đối với Cơ quan điều tra, quyền rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố tại phiên tòa…), nhưng trên thực tế, Kiểm sát viên rất ít khi thực hiện các thẩm quyền này.
- Một số nơi, hoạt động của Viện kiểm sát còn bị chi phối bởi sự tác động của các cấp chính quyền, chưa tuân thủ tuyệt đối nguyên tắc độc lập, không phụ thuộc vào bất kỳ cơ quan nhà nước nào ở địa phương.
- Ủy ban kiểm sát ở một số Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh chưa thực sự phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của mình trong việc quyết định những vấn đề quan trọng, còn có biểu hiện “lệ thuộc” vào ý kiến của Viện trưởng Viện kiểm sát.
3. Về tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát
Trong quá trình thực hiện Luật và 02 pháp lệnh, công tác đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát các cấp có lúc còn nóng vội. Có thời gian (từ 2004 - 2006), tổ chức bộ máy các đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra ở VKSND tối cao và VKSND cấp tỉnh chưa được cân nhắc kỹ lưỡng, nên đã thực hiện việc sáp nhập các đơn vị, sau đó qua hoạt động thực tiễn, thấy rằng không phù hợp, nhất là trong mối tương quan với tổ chức của Cơ quan điều tra của Bộ Công an, nên lại phải tách ra cho phù hợp. Ngược lại, có lúc lại chưa đổi mới kịp thời, ví dụ như: chậm đổi mới kiện toàn các đơn vị làm công tác kiểm sát giải quyết vụ, việc dân sự, vụ án hành chính, kiểm sát thi hành án…
Cơ cấu tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát địa phương được tổ chức theo 5 mô hình, có nơi tổ chức 14 phòng trực thuộc, nhưng có nơi chỉ có 08 phòng, điều này phụ thuộc vào điều kiện thực tế của từng địa phương, tuy nhiên, lại tạo nên sự thiếu đồng bộ, thống nhất, khó khăn cho công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành và công tác thực hiện chức năng, nhiệm vụ.
4. Về các chức danh pháp lý của Viện kiểm sát
Mặc dù Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Kiểm sát viên VKSND đã quy định mỗi cấp Viện kiểm sát được bố trí nhiều ngạch Kiểm sát viên để tạo thuận lợi cho Viện kiểm sát trong việc bố trí, sử dụng cán bộ. Tuy nhiên, cho đến nay, Viện kiểm sát các cấp vẫn chưa thực hiện được quy định này do vướng về cơ chế tuyển chọn Kiểm sát viên; đồng thời bị giới hạn bởi số lượng Kiểm sát viên các cấp do UBTVQH quyết định.
5. Về bảo đảm điều kiện hoạt động của Viện kiểm sát
- Kinh phí bảo đảm hoạt động của ngành Kiểm sát còn thấp so với yêu cầu thực tế; đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc của Viện kiểm sát các cấp tuy đã được quan tâm hơn, nhưng vẫn còn chưa đáp ứng được yêu cầu, nhất là ở cấp huyện; trụ sở làm việc của nhiều Viện kiểm sát địa phương đã lạc hậu, xuống cấp nghiêm trọng, không có nhà để xe, nhà công vụ; vẫn còn có Viện kiểm sát phải đi thuê trụ sở làm việc.
- Chính sách, chế độ tiền lương và chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, Kiểm sát viên chậm được điều chỉnh, bổ sung tương xứng với quyền hạn, trách nhiệm được giao.
6. Về sự giám sát của các cơ quan dân cử đối với Viện kiểm sát
- Trong thực tiễn, một số ít trường hợp cơ quan, đại biểu dân cử do chưa thấu hiểu nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nên còn có ý kiến mang tính chất “can thiệp” vào công tác chuyên môn, nghiệp vụ của Viện kiểm sát.
- Trong hoạt động giám sát đối với VKSQS, việc tham mưu tổ chức Hội nghị Đại biểu quân nhân để báo cáo tình hình tội phạm thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát, trả lời chất vấncác đại biểu HĐND về hoạt động của VKSQS liên quan đến địa phương chưa được thường xuyên, hiệu quả chưa cao.
PHẦN THỨ BA
KIẾN NGHỊ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT TỔ CHỨC
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN (SỬA ĐỔI)
I. BỐI CẢNH, TÌNH HÌNH MỚI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG LUẬT TỔ CHỨC VKSND (SỬA ĐỔI)
1. Bối cảnh, tình hình mới
Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và VKSND nói riêng. Các chủ trương về cải cách tư pháp được thể hiện trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng qua các kỳ đại hội, đặc biệt là Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị “Kết luận về đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân và cơ quan điều tra theo Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”; Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng…đã xác định nhiệm vụ trọng tâm của cải cách tư pháp là: đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người; đồng thời đề ra những yêu cầu cụ thể về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp; đổi mới các thủ tục tố tụng tư pháp. Đối với VKSND, Đảng ta xác định rõ: Viện kiểm sát được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức Tòa án, bảo đảm tốt hơn các điều kiện để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra[23].
Bên cạnh đó, hiện nay Việt Nam đã tham gia và hội nhập sâu rộng vào quá trình liên kết và hợp tác khu vực và quốc tế. Trước những yêu cầu phát sinh từ quá trình hội nhập quốc tế cũng như từ quá trình toàn cầu hoá đời sống kinh tế - xã hội, đòi hỏi phải đổi mới, hoàn thiện thủ tục tố tụng tư pháp và đổi mới tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp ở nước ta nói chung, của VKSND nói riêng.
Trên tinh thần quán triệt các mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ cải cách tư pháp được xác định trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng; trên cơ sở đánh giá những kết quả đạt được và những hạn chế, bất cập trong quá trình thực hiện Luật tổ chức VKSND năm 2002, Pháp lệnh tổ chức VKSQS năm 2002 và Pháp lệnh Kiểm sát viên VKSND năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2011); tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát/Viện công tố của một số nước trên thế giới; cần nghiên cứu, xây dựng Luật tổ chức VKSND (sửa đổi) theo tinh thần mới để Viện kiểm sát các cấp làm tốt chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.
2. Quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật tổ chức VKSND (sửa đổi)
Việc xây dựng Luật tổ chức VKSND (sửa đổi) cần quán triệt các quan điểm chỉ đạo sau đây:
Một là, thể chế hóa các quan điểm, chủ trương cải cách tư pháp, trong đó có tổ chức và hoạt động của VKSND, thể hiện trong các nghị quyết, văn kiện của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 08-NQ/TW, Nghị quyết số 48-NQ/TW, Nghị quyết số 49-NQ/TW, Kết luận số 79-KL/TW của Bộ Chính trị và Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng.
Hai là, xây dựng Luật tổ chức VKSND (sửa đổi) phải trên cơ sở tổng kết những vấn đề lý luận và thực tiễn tổ chức và hoạt động của VKSND theo quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND và các văn bản pháp luật khác có liên quan từ trước đến nay; bảo đảm kế thừa truyền thống, kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của cơ quan công tố/kiểm sát của Nhà nước ta trong hơn 60 năm qua; khắc phục những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn thi hành Luật.
Balà, xây dựng Luật tổ chức VKSND (sửa đổi)phải xuất phát từ đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa của nước ta, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan dân cử và nhân dân;
Bốn là, xây dựng Luật tổ chức VKSND (sửa đổi) phải bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, trên cơ sở phù hợp với Hiến pháp, với các luật, pháp lệnh của Quốc hội, UBTVQH; phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập liên quan đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát.
Năm là, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của cơ quan công tố/kiểm sát của các nước trên thế giới và trong khu vực, phù hợp với truyền thống văn hóa, điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội cụ thể của nước ta.
II. KIẾN NGHỊ VỀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT TỔ CHỨC VKSND (SỬA ĐỔI)
1. Về phạm vi điều chỉnh, tên gọi của Luật tổ chức VKSND (sửa đổi)
1.1. Về phạm vi điều chỉnh
Trên cơ sở pháp điển hóa Luật tổ chức VKSND năm 2002, Pháp lệnh tổ chức VKSQS năm 2002, Pháp lệnh Kiểm sát viên VKSND năm 2002 (sửa đổi năm 2011), Luật tổ chức VKSND (sửa đổi) cần điều chỉnh toàn bộ các vấn đề về tổ chức và hoạt động của VKSND, bao gồm: chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc tổ chức và hoạt động, tổ chức, các chức danh pháp lý và các điều kiện bảo đảm hoạt động của VKSND.
1.2. Về tên gọi của Luật
Với phạm vi điều chỉnh trên, Luật tổ chức VKSND (sửa đổi) được dự kiến giữ nguyên tên Luật là “Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân” nhằm bảo đảm thống nhất với cách thể hiện trong Hiến pháp. Tên gọi này của Luật đã được sử dụng từ năm 1960 đến nay, đồng thời, cũng đồng bộ với tên gọi của các luật về tổ chức của các cơ quan nhà nước khác như Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.
Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng tên Luật nên được sửa đổi thành “Luật về Viện kiểm sát” để bao hàm được toàn bộ các vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật.
2. Về chức năng, nhiệm vụ của VKSND
2.1.Tiếp tục quy định Viện kiểm sát thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp theo văn kiện Đại hội XI của Đảng; Phân định phạm vi thực hiện chức năng của VKSND tối cao và các VKSND cấp dưới; Tiếp tục khẳng định các lĩnh vực công tác thực hiện chức năng, nhiệm vụ hiện nay của VKSND; Quy định rõ các nhiệm vụ Viện kiểm sát đang thực hiện mà chưa được Luật tổ chức VKSNDđiều chỉnh; Đồng thời, bổ sung quy định Viện kiểm sát có thể thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
2.2. Tiếp tục khẳng định Viện kiểm sát chỉ thực hành quyền công tố đối với vụ án hình sự; Xác định rõ các nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng này đáp ứng yêu cầu gắn công tố với điều tra, tăng cường tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự, cụ thể là:
- Tiếp nhận và xử lý tin báo, tố giác về tội phạm; trực tiếp giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm theo quy định của pháp luật;
- Khởi tố hình sự, yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố theo quy định của pháp luật;
- Trực tiếp điều tra, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành điều tra theo quy định của pháp luật;
- Yêu cầu thay đổi Điều tra viên, giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra theo quy định của pháp luật;
- Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp điều tra, biện pháp ngăn chặn, phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của cơ quan có thẩm quyền điều tra theo quy định của pháp luật;
- Hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của cơ quan có thẩm quyền điều tra theo quy định của pháp luật;
- Quyết định việc truy tố bị can; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án, quyết định phục hồi vụ án theo quy định của pháp luật;
- Thực hiện việc buộc tội bị cáo tại phiên tòa; phát biểu quan điểm của VKSND về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa hình sự theo quy định của pháp luật.
2.3. Đối với chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, Luật quy định rõ một số vấn đề sau:
- Thứ nhất, về các công tác thực hiện chức năng, gồm có:
+ Kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm;
+ Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, điều tra, xét xử các vụ án hình sự;
+ Kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành chính và những việc khác theo quy định của pháp luật;
+ Kiểm sát việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án;
+ Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về các hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp.
- Thứ hai, về biện pháp kiểm sát: gồm có kiểm sát tài liệu và kiểm sát tại chỗ.
- Thứ ba, quy định rõ nhiệm vụ, đối tượng kiểm sát của từng công tác kiểm sát.
2.4. Quy định rõ khi thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, VKSND có quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị khắc phục vi phạm, có quyền xử lý vi phạm trong những trường hợp pháp luật quy định; Xác định rõ trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, đơn vị có liên quan nhằm bảo đảm các yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát được tôn trọng và thực hiện nghiêm túc.
3. Về các nguyên tắc đặc thù trong tổ chức và hoạt động của VKSND
3.1. Nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành
Luật tiếp tục ghi nhận nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo là nguyên tắc cơ bản, chủ đạo trong tổ chức và hoạt động của VKSND. Tuy nhiên, đổi mới nội dung nguyên tắc cho phù hợp với điều kiện tổ chức hệ thống VKSND thành 04 cấp và có sự thay đổi thẩm quyền của từng cấp, bảo đảm thực hiện chủ trương nâng cao tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của kiểm sát viên trong thực hiện nhiệm vụ, cụ thể như sau:
- VKSND do Viện trưởng lãnh đạo. Viện trưởng VKSND cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng VKSND cấp trên; Viện trưởng VKSND, Viện trưởng VKS quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng VKSND tối cao.
- VKSND cấp trên có trách nhiệm kiểm tra, phát hiện, khắc phục kịp thời và xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật của VKSND cấp dưới. Viện trưởng VKSND cấp trên có quyền rút, đình chỉ hoặc huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của VKSND cấp dưới.
Với việc thành lập VKSND cấp cao là một cấp kiểm sát mới, có đặc thù là được tổ chức theo địa hạt tư pháp theo thẩm quyền xét xử của TAND cấp cao, chỉ thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động xét xử tại các phiên tòa của TAND cấp cao nên việc thực hiện nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo giữa các cấp Viện kiểm sát có những nội dung mới như sau:
+ Trong mối quan hệ với VKSND tối cao, VKSND cấp cao là một cấp kiểm sát độc lập, là cấp dưới trực tiếp của VKSND tối cao. Các VKSND cấp cao có trách nhiệm báo cáo đầy đủ mọi hoạt động với Viện trưởng VKSND tối cao, chịu sự lãnh đạo, kiểm tra thống nhất, toàn diện của Viện trưởng VKSND tối cao thông qua các đơn vị có liên quan trực tiếp đến các lĩnh vực công tác của VKSND cấp cao;
+ Trong mối quan hệ với VKSND cấp tỉnh, VKSND khu vực, VKSND cấp cao là cấp trên về công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động xét xử. VKSND cấp cao có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ trong lĩnh vực công tác này đối với các VKSND cấp dưới trong phạm vi quản hạt;
+ Việc thực hiện các công tác khác của VKSND cấp tỉnh, VKSND khu vực chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra của VKSND tối cao như hiện nay.
- Viện trưởng VKSND tối cao do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm.
- Viện trưởng VKSND tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức viện trưởng, phó viện trưởng VKSND cấp dưới, phó viện trưởng VKSQS trung ương, viện trưởng, phó viện trưởng VKSQS cấp quân khu và khu vực, kiểm sát viên cao cấp, trung cấp, sơ cấp.
- Phó Viện trưởng giúp Viện trưởng làm nhiệm vụ theo sự phân công của Viện trưởng và chịu trách nhiệm trước Viện trưởng về nhiệm vụ được giao.
- Kiểm sát viên phải phục tùng sự lãnh đạo của Viện trưởng, có trách nhiệm báo cáo và chịu sự kiểm tra của Viện trưởng về việc thực hiện nhiệm vụ được phân công. Tuy nhiên, khi thực hiện nhiệm vụ, Kiểm sát viên chủ động trong việc ra các quyết định thuộc thẩm quyền và chịu trách nhiệm cá nhân trước Viện trưởng về các quyết định đó. Nếu có xung đột quan điểm giữa Kiểm sát viên và Viện trưởng Viện kiểm sát thì Kiểm sát viên có quyền kiến nghị lên Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp trong những trường hợp pháp luật quy định.
3.2. Nguyên tắc độc lập
Luật quy định về nguyên tắc độc lập với nội dung cụ thể là:
- VKSND các cấp làm nhiệm vụ của mình một cách độc lập, các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác không được can thiệp; Nghiêm cấm mọi hành vi gây cản trở Kiểm sát viên, Điều tra viên thực hiện nhiệm vụ.
- VKSND các cấp chỉ chịu sự lãnh đạo của VKSND cấp trên và sự lãnh đạo thống nhất của VKSND tối cao.
3.3. Nguyên tắc bảo đảm sự giám sát của cơ quan dân cử đối với VKSND
Thực hiện chủ trương tổ chức hệ thống VKSND gồm 04 cấp và đổi mới cơ chế giám sát của cơ quan dân cửđối với Viện kiểm sát theo Kết luận số 79-KL/TW, Luật tổ chức VKSND (sửa đổi) xác định rõ phạm vi, nội dung sự giám sát của cơ quan dân cửđối với Viện kiểm sát, cụ thể là:
- Viện trưởng VKSND tối cao chịu sự giám sát của Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước UBTVQH và Chủ tịch nước; trả lời chất vấn, kiến nghị, yêu cầu của đại biểu Quốc hội về công tác của Viện kiểm sát các cấp;
- Tại kỳ họp của HĐND cấp tỉnh, Viện trưởng VKSND cấp tỉnh trình bày báo cáo chung, đồng thời, trả lời chất vấn, kiến nghị, yêu cầu của đại biểu HĐND cùng cấp về công tác của cả VKSND cấp mình và VKSND khu vực. Đối với các vụ, việc cụ thể, HĐND có thể giám sát trực tiếp tới từng VKSND khu vực khi cần thiết.
4. Về tổ chức của VKSND
4.1. Về hệ thống VKSND
Luật quy định rõ hệ thống VKSND gồm có:
- VKSND tối cao;
- Các VKSND cấp cao;
- Các VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Các VKSND khu vực;
- Các VKSQS.
4.2. Về cơ cấu tổ chức, cơ cấu cán bộ của VKSND tối cao
Cơ cấu tổ chức của VKSND tối cao gồm: Ủy ban kiểm sát, các cục, vụ, viện, trung tâm, văn phòng, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học và cơ quan báo chí của ngành.
Cán bộ của VKSND tối cao gồm: Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, các Kiểm sát viên, Thủ trưởng, các Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, các Điều tra viên, các Kiểm tra viên, các chuyên viên, cán sự hành chính - tư pháp và các nhân viên phục vụ khác.
4.3. Về cơ cấu tổ chức, cơ cấu cán bộ của VKSND cấp cao
Cơ cấu tổ chức của VKSND cấp cao gồm: Ủy ban kiểm sát, các phòng (hoặc các vụ) và văn phòng.
Cán bộ của VKSND cấp cao gồm: Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, các Kiểm sát viên, các Kiểm tra viên, các chuyên viên, cán sự hành chính - tư pháp và các nhân viên phục vụ khác.
4.4. Về cơ cấu tổ chức, cơ cấu cán bộ của VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Cơ cấu tổ chức của VKSND cấp tỉnh gồm: Ủy ban kiểm sát, các phòng và văn phòng.
Cán bộ của VKSND cấp tỉnh gồm: Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, các Kiểm sát viên, các Kiểm tra viên, các chuyên viên, cán sự hành chính - tư pháp và các nhân viên phục vụ khác.
4.5. Về cơ cấu tổ chức, cơ cấu cán bộ của VKSND khu vực
Cơ cấu tổ chức của VKSND khu vực được chia thành 2 loại:
- Đối với các VKSND khu vực ở miền núi, hải đảo, khối lượng công việc ít, được thành lập từ 01 đơn vị VKSND cấp huyện hiện nay thì cơ cấu tổ chức gồm các bộ phận công tác và bộ máy giúp việc do Viện trưởng, các Phó Viện trưởng phụ trách;
- Đối với các VKSND khu vực có khối lượng công việc lớn hoặc được thành lập từ 02 đơn vị VKSND cấp huyện hiện nay trở lên thì cơ cấu tổ chức gồm các phòng và văn phòng.
Cán bộ của VKSND khu vực gồm: Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, các Kiểm sát viên, các Kiểm tra viên, các chuyên viên, cán sự hành chính - tư pháp và các nhân viên phục vụ khác.
4.6. Về hệ thống VKSQS
Luật quy định rõ hệ thống VKSQS gồm có:
- VKSQS trung ương: thuộc cơ cấu VKSND tối cao, cơ cấu tổ chức gồm Ủy ban kiểm sát, các phòng, văn phòng và cơ quan điều tra.
Cán bộ của VKSQS trung ương gồm: Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, các Kiểm sát viên, Thủ trưởng, các Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra, các Điều tra viên, các Kiểm tra viên, các chuyên viên, cán sự hành chính - tư pháp và các nhân viên phục vụ khác.
- VKSQS cấp quân khu: cơ cấu tổ chức gồm Uỷ ban kiểm sát, các ban và bộ máy giúp việc.
Cán bộ của VKSQS cấp quân khu gồm: Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, các Kiểm sát viên, các Kiểm tra viên, các chuyên viên, cán sự hành chính - tư pháp và các nhân viên phục vụ khác.
- VKSQS khu vực: cơ cấu tổ chức gồm các bộ phận công tác và bộ máy giúp việc do Viện trưởng, các Phó Viện trưởng phụ trách.
Cán bộ của VKSQS khu vực gồm: Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, các Kiểm sát viên, các Kiểm tra viên, các chuyên viên, cán sự hành chính - tư pháp và các nhân viên phục vụ khác.
4.7. Về Ủy ban kiểm sát
Luật quy định rõ các vấn đề sau đây:
- Ủy ban kiểm sát được thành lập ở những cấp Viện kiểm sát nào;
- Thành phần Uỷ ban kiểm sát;
- Những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của Ủy ban kiểm sát:
Luật không tiếp tục quy định Ủy ban kiểm sát có quyền quyết định về đường lối giải quyết những vụ án hình sự, dân sự, hành chính quan trọng vì Ủy ban kiểm sát không phải là chủ thể tố tụng, việc thực hiện quyền không gắn liền với trách nhiệm. Trong trường hợp này, Ủy ban kiểm sát chỉ nên có vai trò tham mưu, tư vấn cho Viện trưởng. Viện trưởng là người quyết định cuối cùng.
- Lề lối làm việc của Ủy ban kiểm sát.
4.8. Về Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát
Luật bổ sung quy định về tổ chức Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát với các nội dung cụ thể sau:
- Cục Điều tra trực thuộc VKSNDTC, Phòng Điều tra thuộc VKSQS trung ương, có trụ sở chính tại Hà Nội;
- Cơ cấu tổ chức của Cục Điều tra gồm các phòng nghiệp vụ (gồm cả các đơn vị đại diện đặt tại các vùng, khu vực) và văn phòng;
Cơ cấu cán bộ của Cục Điều tra gồm: Cục trưởng đồng thời là Thủ trưởng CQĐT, một số Phó Cục trưởng đồng thời là Phó Thủ trưởng CQĐT, các Điều tra viên, các chuyên viên, cán sự hành chính - tư pháp và các nhân viên phục vụ khác.
- Cơ cấu tổ chức của Phòng Điều tra thuộc VKSQS trung ương gồm có các bộ phận điều tra và bộ máy giúp việc;
Cơ cấu cán bộ của Phòng Điều tra thuộc VKSQS trung ương gồm: Trưởng phòng đồng thời là Thủ trưởng CQĐT, một số Phó Trưởng phòng đồng thời là Phó Thủ trưởng CQĐT, các Điều tra viên, các chuyên viên, cán sự hành chính - tư pháp và các nhân viên phục vụ khác.
5. Về cán bộ của VKSND
5.1. Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát
Luật quy định các vấn đề sau đây:
- Thẩm quyền, thủ tục bổ nhiệm Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND, VKSQS các cấp;
- Để thực hiện chủ trương phân định thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp theo hướng tăng quyền và trách nhiệm cho Kiểm sát viên, Luật có thể xác định nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát như sau:
+ Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp chủ yếu làm nhiệm vụ phân công, điều hành, chỉ đạo hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; kiểm tra, rút, huỷ bỏ các quyết định tố tụng không có căn cứ và trái pháp luật của Kiểm sát viên. Về quyền hạn tư pháp, các chức danh này chỉ quyết định những vấn đề quan trọng làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt một giai đoạn tố tụng hoặc liên quan đến xử lý vụ việc tư pháp thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát như áp dụng tạm giam, quyết định truy tố, kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án, kiến nghị các cơ quan khắc phục vi phạm và phòng ngừa tội phạm.
+ Viện trưởng VKSND tối cao quản lý, điều hành tổ chức và hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát các cấp; ra phương hướng, đường lối công tác chung cho toàn ngành Kiểm sát. Về quyền hạn tư pháp thuộc thẩm quyền của VKSND tối cao, chức danh này chỉ thực hiện quyền kháng nghị hoặc quyết định không kháng nghị bản án tử hình; tham gia các phiên họp của Hội đồng Thẩm phán TANDTC theo quy định của pháp luật.
5.2. Kiểm sát viên
5.2.1. Quy định Kiểm sát viên là người được bổ nhiệm để làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp và thực hiện các nhiệm vụ khác do luật định theo sự phân công của Viện trưởng Viện kiểm sát.
5.2.2. Đổi mới ngạch Kiểm sát viên theo hướng chia thành 04 ngạch Kiểm sát viên, gồm có: Kiểm sát viên sơ cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên VKSNDTC bảo đảm tương thích với tổ chức hệ thống VKSND gồm 04 cấp, bảo đảm hiệu quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát ở mỗi cấp[24]
5.2.3. Về đổi mới quy định về nhiệm kỳ của Kiểm sát viên, có 02 phương án như sau:
+ Đối với Kiểm sát viên VKSND tối cao, bổ nhiệm không có kỳ hạn, kết hợp với việc giám sát, kiểm tra, kỷ luật chặt chẽ;
+ Đối vớiKiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp: có nhiệm kỳ cao nhất là 10 năm để bảo đảm việc nâng cao ý thức rèn luyện và trách nhiệm trong công việc, có cơ chế đánh giá cán bộ thận trọng, hiệu quả.
- Phương án 2: không quy định nhiệm kỳ đối với tất cả các ngạch Kiểm sát viên.
5.2.4. Trên cơ sở đổi mới việc phân loại ngạch Kiểm sát viên, Luật đổi mới tiêu chuẩn bổ nhiệm từng ngạch Kiểm sát viên theo hướng:
- Tiêu chuẩn của Kiểm sát viên sơ cấp, Kiểm sát viên trung cấp tiếp tục giữ như quy định hiện hành;
- Tiêu chuẩn của Kiểm sát viên cao cấp được quy định tương ứng với tiêu chuẩn của Kiểm sát viên VKSND tối cao hiện hành.
- Tiêu chuẩn của Kiểm sát viên VKSND tối cao đòi hỏi phải cao hơn quy định hiện hành nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Kiểm sát viên VKSND tối cao phải được lựa chọn trong số những người tiêu biểu đã là Kiểm sát viên cao cấp ít nhất là ba năm, có năng lực thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết đối với các vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền VKSND tối cao, có năng lực tổng kết, chỉ đạo đường lối thực hành quyền công tố và công tác kiểm sát, tham gia xem xét những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền Uỷ ban kiểm sát VKSND tối cao, có khả năng hướng dẫn nghiệp vụ kiểm sát đối với Kiểm sát viên cấp dưới.
5.2.5. Về cơ chế tuyển chọn Kiểm sát viên, hiện nay có 03 phương án, cụ thể như sau:
- Phương án 1: Ủy ban kiểm sát xem xét, tuyển chọn, đề nghị bổ nhiệm Kiểm sát viên.
- Phương án 2: Tổ chức các Hội đồng tuyển chọn như sau:
+ Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên VKSND tối cao;
+ Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên sơ cấp, trung cấp ở VKSND cấp cao, VKSND tối cao, VKSQS trung ương.
+ Các Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên sơ cấp, trung cấp ở VKSND cấp tỉnh, VKSND khu vực;
+ Các Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên sơ cấp, trung cấp ở VKSQS cấp quân khu, VKSQS khu vực.
- Phương án 3[26]: Chỉ thành lập một Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên đặt tại VKSND tối cao do Viện trưởng VKSND tối cao làm Chủ tịch và có cơ cấu các thành viên Hội đồng phù hợp, bảo đảm tính khách quan của việc tuyển chọn. Giúp việc cho Hội đồng có Ủy ban kiểm tra - giám sát hoạt động chuyên trách. Việc tuyển chọn thực hiện như sau:
+ Đối với Kiểm sát viên VKSND tối cao do Ban cán sự Đảng VKSND tối cao đề nghị;
+ Đối với Kiểm sát viên cao cấp, trung cấp, sơ cấp do Thường vụ tỉnh ủy, thành ủy, Đảng ủy VKSND cấp cao thông qua và đề nghị.
5.2.6. Về thẩm quyền bổ nhiệm Kiểm sát viên, Luật đổi mới theo hướng[27]:
- Chủ tịch nước bổ nhiệm Kiểm sát viên VKSND tối cao;
- Viện trưởng VKSND tối cao bổ nhiệm Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp.
5.2.7. Quy định cơ cấu Kiểm sát viên ở mỗi cấp Viện kiểm sát như sau:
- Ở VKSND khu vực, VKSQS khu vực chủ yếu là Kiểm sát viên sơ cấp, trung cấp, có thể có một số Kiểm sát viên cao cấp giữ chức vụ Viện trưởng, Phó Viện trưởng ở các địa bàn trọng điểm, phức tạp về an ninh, trật tự xã hội;
- Ở VKSND cấp tỉnh, VKSQS cấp quân khu chủ yếu là Kiểm sát viên trung cấp, sơ cấp và một số Kiểm sát viên cao cấp giữ chức vụ Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát;
- Ở VKSND cấp cao chủ yếu là Kiểm sát viên cao cấp, trung cấp và một số Kiểm sát viên sơ cấp;
- Ở VKSND tối cao, VKSQS trung ương chủ yếu là Kiểm sát viên cao cấp thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền của VKSND tối cao, VKSQS trung ương, một số Kiểm sát viên VKSND tối cao và một số Kiểm sát viên trung cấp, sơ cấp.
5.2.8. Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của từng ngạch Kiểm sát viên như sau:
- Kiểm sát viên sơ cấp thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ việc thuộc thẩm quyền của VKS khu vực; giúp Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên cao cấp và Kiểm sát viên VKSND tối cao thực hiện một số hành vi thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp;
- Kiểm sát viên trung cấp thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ việc thuộc thẩm quyền của VKSND cấp tỉnh, các vụ việc nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền của VKSND khu vực; giúp Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên VKSND tối cao tiến hành một số hoạt động tố tụng thuộc thẩm quyền của VKSND cấp cao, VKSND tối cao;
- Kiểm sát viên cao cấp ở VKSND tối cao, VKSQS trung ương thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với các vụ án do Cơ quan điều tra thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng điều tra; thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm về hình sự, dân sự, hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các tòa chuyên trách thuộc TAND tối cao; kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án thuộc thẩm quyền VKSND tối cao.
Kiểm sát viên cao cấp ở các Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử đối với các vụ việc thuộc thẩm quyền của VKSND cấp cao hoặc trực tiếp thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ việc rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng và phức tạp; tham gia quyết định những vấn đề quan trọng về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát cấp mình.
- Kiểm sát viên VKSND tối cao là Ủy viên Ủy ban kiểm sát VKSND tối cao (đồng thời là Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc VKSND tối cao) có nhiệm vụ thảo luận, quyết định những vấn đề quan trọng về tổ chức và hoạt động của toàn ngành Kiểm sát.
Những Kiểm sát viên VKSND tối cao khác có nhiệm vụ tham gia các phiên họp giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; tham gia thảo luận và phát biểu ý kiến về những vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp tại các phiên họp Ủy ban kiểm sát VKSND tối cao; tham mưu với Viện trưởng VKSND tối cao về đường lối thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp và các vấn đề chuyên môn, nghiệp vụ quan trọng khác để chỉ đạo, hướng dẫn toàn ngành Kiểm sát.
Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng không nên quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của từng ngạch Kiểm sát viên trong Luật mà nên điều chỉnh bởi các văn bản thuộc thẩm quyền của Viện trưởng VKSND tối cao để bảo đảm tính linh hoạt trong việc áp dụng.
5.3. Điều tra viên
Về cơ bản, Luật tổ chức VKSND (sửa đổi) kế thừa các quy định về Điều tra viên tại Luật tổ chức VKSND năm 2002; việc sửa đổi, bổ sung các quy định về Điều tra viên phải bảo đảm phù hợp với các quy định củapháp luật về tổ chức điều tra hình sự.
5.4. Kiểm tra viên
Luật tổ chức VKSND (sửa đổi) cần Luật hóa những vấn đề mang tính nguyên tắc, những quan hệ đã ổn định lâu dài trong các quy định về chế độ pháp lý đối với Kiểm tra viên tại các văn bản pháp luật hiện hành, cụ thể là: vị thế pháp lý, các ngạch Kiểm tra viên, tiêu chuẩn bổ nhiệm, cơ chế bổ nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn…
* Ngoài ra, có quan điểm đề nghị bổ sung chức danh Trợ lý Kiểm sát viên, Trợ lý Điều tra viên.
6. Về các điều kiện bảo đảm hoạt động của Viện kiểm sát trong Luật tổ chức VKSND (sửa đổi)
Về cơ bản, Luật tổ chức VKSND (sửa đổi) kế thừa các quy định về bảo đảm hoạt động của Viện kiểm sát và cán bộ Viện kiểm sát tại Luật tổ chức VKSND, Pháp lệnh Kiểm sát viên VKSND hiện hành. Bên cạnh đó, có sửa đổi, bổ sung một số quy định, cụ thể là:
- Quy định rõ, đầy đủ các chế độ phụ cấp đối với cán bộ ngành Kiểm sát, chế độ ưu tiên và các chế độ khác phù hợp với đặc thù của từng chức danh pháp lý;
- Bổ sung các quy định về tuổi nghỉ hưu của Kiểm sát viên, dự kiến là: Tuổi nghỉ hưu của Kiểm sát viên VKSND tối cao là 65 tuổi, tuổi nghỉ hưu của Kiểm sát viên cao cấp, trung cấp, sơ cấp là 60 tuổi, áp dụng chung cho cả nam và nữ[28].
- Bổ sung các quy định về khen thưởng và kỷ luật.
7. Về kết cấu, bố cục của Luật tổ chức VKSND (sửa đổi)
Thực hiện yêu cầu pháp điển hóa Luật tổ chức VKSND năm 2002, Pháp lệnh tổ chức VKSQS năm 2002, Pháp lệnh Kiểm sát viên VKSND năm 2002 (sửa đổi năm 2011), bảo đảm xây dựng Luật tổ chức VKSND (sửa đổi) thành cơ sở pháp lý quan trọng và đầy đủ nhất điều chỉnh toàn bộ tổ chức và hoạt động của VKSND, dự kiến Luật tổ chức VKSND (sửa đổi) có kết cấu, bố cục như sau (xem Phụ lục kèm theo):
- Luật được kết cấu gồm các phần, chương, mục, điều, khoản, điểm;
- Phần thứ nhất: Những quy định chung
Phần này quy định các vấn đề: chức năng, nhiệm vụ; nguyên tắc tổ chức và hoạt động;trách nhiệm của VKSND và các cơ quan, đơn vị trong việc phối hợp thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSND…
- Phần thứ hai: Công tác thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSND
+ Tiếp tục kế thừa 05 chương (các chương II, III, IV, V, VI) của Luật tổ chức VKSND hiện hành về các lĩnh vực công tác của VKSND;
+ Sửa đổi nội dung Chương V - Kiểm sát việc thi hành án, Chương VI - Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù của Luật tổ chức VKSND hiện hành, cấu tạo thành 02 chương mới là: Chương Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự và Chương Kiểm sát thi hành án dân sự, thi hành án hành chính;
+ Bổ sung 03 chương mới, cụ thể là:
. Chương Hoạt động điều tra vụ án hình sự
Chương này quy định thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát và thẩm quyền điều tra của Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố.
. Chương Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo;
. Chương Các công tác khác
Chương này quy định các công tác: giải quyết khiếu nại, tố cáo; tương trợ tư pháp về hình sự; thống kê tội phạm; xây dựng pháp luật và nghiên cứu khoa học, đào tạo, thông tin, báo chí….
- Phần thứ ba: Tổ chức của VKSND
Phần này quy định các vấn đề: hệ thống VKS; cơ cấu tổ chức và cơ cấu cán bộ của từng cấp VKS; tổ chức và hoạt động của Ủy ban kiểm sát ở từng cấp; tổ chức Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát.
- Phần thứ tư: Cán bộ của VKSND
+ Bổ sung 03 chương mới, cụ thể là:
. Chương Những quy định chung
Chương này quy định những vấn đề chung trong việc thực hiện các chế độ đối với cán bộ VKS: chế độ tuyển dụng, bổ nhiệm; chế độ hàm cấp, trang phục, thẻ chứng nhận công chức kiểm sát; chế độ điều động, luân chuyển; chế độ nghiên cứu, học tập; chế độ đánh giá cán bộ…
. Chương Viện trưởng, Phó Viện trưởng
Chương này quy định các vấn đề thẩm quyền, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm; nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS các cấp.
. Chương Các chức danh khác
Chương này quy định chế độ pháp lý đối với Kiểm tra viên (ngạch, tiêu chuẩn bổ nhiệm, cơ chế bổ nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn…) và các chức danh khác.
+ Tách Chương IX - Kiểm sát viên và Điều tra viên của Luật tổ chức VKSND hiện hành thành 02 chương là: Chương Kiểm sát viên và Chương Điều tra viên;
- Phần thứ năm: Viện kiểm sát quân sự
Phần này quy định các vấn đề có tính đặc thù trong chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, cán bộ và những điều kiện bảo đảm hoạt động của VKSQS.
- Phần thứ sáu: Bảo đảm hoạt động của VKSND
Phần này quy định các điều kiện bảo đảm hoạt động của VKSND (biên chế, kinh phí hoạt động, cơ sở vật chất…) và bảo đảm hoạt động của cán bộ của VKSND (chế độ tiền lương, phụ cấp, chế độ ưu tiên, tuổi nghỉ hưu, khen thưởng, kỷ luật…).
- Phần thứ bảy: Điều khoản thi hành.
Trên đây là Dự thảo Báo cáo kết quả tổng kết thực tiễn thi hành Luật tổ chức VKSND năm 2002, Pháp lệnh Kiểm sát viên VKSND năm 2002, Pháp lệnh tổ chức VKSQS năm 2002 và những kiến nghị về những nội dung cơ bản của Luật tổ chức VKSND (sửa đổi). Kính đề nghị quý vị đại biểu tham dự Hội nghị cho ý kiến góp ý để hoàn thiện.
|
Nơi nhận:
- Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Ủy ban Tư pháp của Quốc hội;
- Ủy ban Pháp luật của Quốc hội;
- Văn phòng Chính phủ;
- Các đ/c thành viên Ban soạn thảo;
- Lưu: VT, VKH.
|
TM. BAN SOẠN THẢO
TRƯỞNG BAN
VIỆN TRƯỞNG VKSNDTC
(Đã ký)
Nguyễn Hòa Bình
|
PHẦN PHỤ LỤC
DỰ KIẾN KẾT CẤU, BỐ CỤC CỦA LUẬT TỔ CHỨC
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN (SỬA ĐỔI)
|
PHẦN/CHƯƠNG
|
TÊN/NỘI DUNG PHẦN (CHƯƠNG)
|
GHI CHÚ
|
|
PHẦN THỨ NHẤT:
|
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
(Quy định các vấn đề: chức năng, nhiệm vụ; nguyên tắc tổ chức và hoạt động;trách nhiệm của VKSND và các cơ quan, đơn vị trong việc phối hợp thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSND…)
|
|
|
PHẦN THỨ HAI:
|
CÔNG TÁC THỰC HIỆN CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
|
|
|
Chương 1:
|
Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự
|
|
|
Chương 2:
|
Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự
|
|
|
Chương 3:
|
Hoạt động điều tra vụ án hình sự
(Quy định thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát và thẩm quyền điều tra của Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố)
|
Chương mới
|
|
Chương 4:
|
Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự
|
Kế thừa một số quy định tại các chương V, VI Luật hiện hành.
|
|
Chương 5:
|
Kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành chính và những việc khác theo quy định của pháp luật
|
|
|
Chương 6:
|
Kiểm sát việc thi hành án dân sự, thi hành án hành chính
|
Kế thừa một số quy định tại Chương V Luật hiện hành.
|
|
Chương 7:
|
Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo
|
Chương mới
|
|
Chương 8:
|
Các công tác khác
(Quy định các công tác: giải quyết khiếu nại, tố cáo; tương trợ tư pháp về hình sự; thống kê tội phạm; xây dựng pháp luật và nghiên cứu khoa học, đào tạo, thông tin, báo chí…)
|
Chương mới
|
|
PHẦN THỨ BA:
|
TỔ CHỨC CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
(Quy định các vấn đề: hệ thống VKS; cơ cấu tổ chức và cơ cấu cán bộ của từng cấp VKS; tổ chức và hoạt động của Ủy ban kiểm sát ở từng cấp; tổ chức Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát)
|
|
|
PHẦN THỨ TƯ:
|
CÁN BỘ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
|
|
|
Chương 1:
|
Những quy định chung
(Quy định những vấn đề chung trong việc thực hiện các chế độ đối với cán bộ VKS: Chế độ tuyển dụng, bổ nhiệm; Chế độ hàm cấp, trang phục, thẻ chứng nhận công chức kiểm sát; Chế độ điều động, luân chuyển; Chế độ nghiên cứu, học tập; Chế độ đánh giá cán bộ…)
|
Chương mới
|
|
Chương 2:
|
Viện trưởng, Phó Viện trưởng
(Quy định các vấn đề thẩm quyền, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm; nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS các cấp)
|
Chương mới
|
|
Chương 3:
|
Kiểm sát viên
|
Tách từ Chương IX của Luật + Pháp lệnh KSV hiện hành
|
|
Chương 4:
|
Điều tra viên
|
Tách từ Chương IX Luật hiện hành
|
|
Chương 5:
|
Các chức danh khác
(Quy định chế độ pháp lý đối với Kiểm tra viên (ngạch, tiêu chuẩn bổ nhiệm, cơ chế bổ nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn…) và các chức danh khác).
|
Chương mới
|
|
PHẦN THỨ NĂM:
|
VIỆN KIỂM SÁT QUÂN SỰ
(Quy định các vấn đề có tính đặc thù trong chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, cán bộ và những điều kiện bảo đảm hoạt động của VKSQS)
|
Kế thừa quy định tại Chương VIII của Luật + Pháp lệnh tổ chức VKSQS hiện hành
|
|
PHẦN THỨ SÁU:
|
BẢO ĐẢM HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
(Quy định các điều kiện bảo đảm hoạt động của VKSND (biên chế, kinh phí hoạt động, cơ sở vật chất…) và bảo đảm hoạt động của cán bộ của VKSND (chế độ tiền lương, phụ cấp, chế độ ưu tiên, tuổi nghỉ hưu, khen thưởng, kỷ luật…)
|
|
|
PHẦN THỨ BẢY:
|
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
|
|
CHÚ THÍCH
[1]Nghị quyết số 56/2002/NQ-QH10 ngày 02/4/2002 của Quốc hội về việc thi hành Luật Tổ chức TAND và Luật Tổ chức VKSND; Nghị quyết số 356/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 25/02/2003 của UBTVQH về việc phê chuẩn bộ máy làm việc của VKSND tối cao; Nghị quyết số 131/2002/NQ-UBTVQH11 ngày 04/10/2002 của UBTVQH quy định một số điểm về việc thi hành Pháp lệnh Kiểm sát viên VKSND năm 2002; Nghị quyết số 219/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 09/01/2003 quy định về trang phục đối với cán bộ, công chức ngành Kiểm sát và Giấy chứng minh Kiểm sát viên; Nghị quyết số 384/NQ-UBTVQH11 của UBTVQH ngày 17/3/2003 về việc phê chuẩn bộ máy làm việc của VKSQS trung ương; Nghị quyết số 385/NQ-UBTVQH11 ngày 17/3/2003 của UBTVQH quy định tổng biên chế, số lượng Kiểm sát viên, Điều tra viên của VKSQS; Nghị quyết số 386/NQ-UBTVQH11 ngày 17/3/2003 của UBTVQH về việc thành lập VKSQS quân khu và tương đương, VKSQS khu vực.
2 Quyết định số 01/2003/QĐ/VKSTC-TCCB ngày 19/02/2003 của Viện trưởng VKSND tối cao về việc quy định bộ máy làm việc của VKSND tối cao; Quyết định số 04/2003/QĐ/VKSTC-TCCB ngày 14/3/2003 của Viện trưởng VKSND tối cao về việc quy định bộ máy làm việc của VKSQS trung ương; Quyết định số 120/2003/QĐ-VTC (V9) ngày 09/4/2003 của Viện trưởng VKSND tối cao về cơ cấu bộ máy làm việc của VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Quyết định số 121/2003/QĐ-VTC (V9) ngày 09/4/2003 của Viện trưởng VKSND tối cao về bộ máy làm việc của VKSND cấp huyện; Hướng dẫn số 02/VKSTC-TCCB ngày 02/01/2003 về “Quy trình, hồ sơ tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự các cấp, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các địa phương, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu và khu vực”; Quyết định số 29/2004/QĐ-TCCB ngày 15/01/2004 ban hành Quy chế làm việc của Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên VKSND tối cao, Kiểm sát viên VKSQS trung ương; Hướng dẫn số 18/2004/HD-VKSTC (V9) ngày 13/10/2004 về việc bổ nhiệm lại Kiểm sát viên VKSND, Kiểm sát viên VKSQS các cấp; Quyết định số 149/2004/VKSTC-TCCB ngày 11/11/2004 ban hành Quy chế làm việc của Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên VKSND cấp tỉnh, Kiểm sát viên VKSND cấp huyện…
3 Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ thì số vụ án khởi tố từ nguồn tố giác, tin báo về tội phạm chiếm khoảng 80%.
4 Từ 2006 - 2012, Viện kiểm sát các cấp đã yêu cầu CQĐT khởi tố 1678 vụ án; trong đó được CQĐT chấp nhận và ra quyết định khởi tố 1259 vụ án (chiếm 75,3 % số vụ án mà VKS yêu cầu khởi tố); Trung bình mỗi năm VKS yêu cầu CQĐT khởi tố khoảng 345 bị can và được CQĐT chấp nhận và khởi tố 291 bị can (chiếm 84,35 % số bị can VKS yêu cầu khởi tố).
5 Số vụ án Viện kiểm sát khởi tố từ 2006 đến 2012 là 177 vụ, 134 bị can.
6 Từ 2006 - 2010, VKSND các cấp đã đề ra yêu cầu điều tra đối với 168.544 vụ án (chiếm tỷ lệ 58,6% tổng số án thụ lý).
7 Số người bị bắt, tạm giữ chuyển khởi tố hình sự năm 2002 đạt tỷ lệ 87%, năm 2006 là 95,3%, năm 2007 là 95,2%, năm 2008 là 95,3%, năm 2009 là 93,33%, năm 2010 là 92,97%, năm 2011 là 92,57 %,6 tháng đầu năm 2012 là 92,58 %.
8 Năm 2002, Viện kiểm sát các cấp truy tố đạt 96% so với số vụ đã kết thúc điều tra; giai đoạn 2006 -2007 đạt 99,1%, năm 2008 đạt 99%, năm 2009 đạt 98,68%, năm 2010 là 96,57%, năm 2011 là 96,91%, 6 tháng đầu năm 2012 là 92,17% .
9 Trung bình mỗi năm, Viện kiểm sát đã kiểm sát xét xử sơ thẩm trên 50.000 vụ với trên 78.000 bị cáo; kiểm sát xét xử phúc thẩm trên 12.000 vụ; kiểm sát xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm ở cấp tỉnh và cấp tối cao hơn 200 vụ.
10 Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm: Năm 2006, Viện kiểm sát các cấp kháng nghị 1013 vụ/1336 bị cáo; năm 2007, kháng nghị 988 vụ/1437 bị cáo; năm 2008, kháng nghị 1077 vụ/1654 bị cáo; năm 2009, kháng nghị 945 vụ/1273 bị cáo; năm 2010, kháng nghị 838 vụ/1479 bị cáo; năm 2011, kháng nghị 1072 vụ/1742 bị cáo; 6 tháng đầu năm 2012, kháng nghị 511 vụ/792 bị cáo.
Kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm: từ năm 2006 đến 6 tháng đầu năm 2012, Viện kiểm sát các cấp đã kháng nghị 874 vụ.
11 Từ 2006 - 2010, Viện kiểm sát các cấp đã quyết định trả tự do cho 196 người bị tạm giữ, tạm giam không có căn cứ.
12 Từ 2006 - 2010, Viện kiểm sát các cấp đã ban hành 2.044 kháng nghị; 10.812 kiến nghị khắc phục vi phạm trong việc tạm giữ, tạm giam; ban hành 3.410 kiến nghị, kháng nghị yêu cầu khắc phục vi phạm trong thi hành án phạt tù.
13 Từ 2006 - 2010, Hội đồng Tư vấn đặc xá trung ương đã trình Chủ tịch nước quyết định đặc xá cho 78.957 người đang chấp hành hình phạt tù tại các trại tạm giam, trại giam và đặc xá cho hàng trăm người đang được hoãn và tạm đình chỉ thi hành án; trực tiếp kiểm tra, thẩm định hồ sơ đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù cho 304.333 phạm nhân có quá trình cải tạo tốt tại các trại giam và trại tạm giam.
14Năm 2010, đã khởi tố 21vụ (tăng gấp hơn 2 lần (21/10 vụ) so với năm 2009); năm 2011, đã khởi tố 52 vụ; tính đến 24/10/2012, đã khởi tố 48 vụ.
15Trong hoạt động kháng nghị phúc thẩm dân sự, năm 2002 Viện kiểm sát các cấpban hành 389 kháng nghị, năm 2006 ban hành 361 kháng nghị,năm 2007 ban hành 795 kháng nghị, năm 2008 ban hành 737 kháng nghị; năm 2009 ban hành 690 kháng nghị, năm 2010 ban hành 847 kháng nghị, năm 2011 ban hành 897 kháng nghị, 6 tháng đầu năm 2012 ban hành 235 kháng nghị. Từ năm 2006 đến 2012, VKS các cấp đã ban hành 1.210 kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
16 Từ 2006 đến 2010, Viện kiểm sát các cấp đãban hành 4.850 kiến nghị yêu cầu Toà án khắc phục vi phạm.
17 Năm 2006, số vụ việc có điều kiện thi hành, đã thi hành chiếm tỷ lệ 64%, năm 2010, số đã thi hành chiếm tỷ lệ trên 68%.
18 Từ 01/01/2008 - 3/2010, Viện kiểm sát các cấp đã ban hành 1.995 bản kết luận, 373 bản kiến nghị và 355 bản kháng nghị yêu cầu khắc phục vi phạm trong kiểm sát thi hành án dân sự.
19 Theo Báo cáo số 896/BC -UBTP13 ngày 11/10/2012 của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội về Kết quả giám sát “việc chấp hành pháp luật tố tụng hình sự trong công tác điều tra, truy tố, xét xử”, từ 01/10/2009 đến 30/4/2012, toàn ngành Kiểm sát đã thụ lý 2.415 khiếu nại/1.519 vụ việc thuộc thẩm quyền, đã giải quyết 1.675 đơn/1.082 vụ việc (đạt 71%); đã thụ lý 210 đơn tố cáo/114 việc thuộc thẩm quyền, đã giải quyết 90 đơn/89 việc (đạt 78% về số việc).
20 Các điều 32, 35 Luật tổ chức VKSND năm 2002, các điều 29, 32 Pháp lệnh tổ chức VKSQS năm 2002.
21 Năm 2004, biên chế toàn ngành được giao là 11.487 người; số biên chế thực tế đến tháng 7/2009 là 11.566 người; đến cuối năm 2011 biên chế thực tế đã tăng lên 13.743 người; đến 01/7/2012 thực tế có 13.364 người (còn thiếu 2.469 người so với chỉ tiêu biên chế được UBTVQH giao). Số lượng Kiểm sát viên các cấp tăng, năm 2004 toàn ngành Kiểm sát có 7219 Kiểm sát viên (145 Kiểm sát viên VKSND tối cao; 2.305 Kiểm sát viên trung cấp; 4.769 Kiểm sát viên sơ cấp); Đến cuối năm 2011, toàn Ngành có 8.378 Kiểm sát viên (170 Số Kiểm sát viên VKSND tối cao; 2.457 Kiểm sát viên trung cấp; 5.751 Kiểm sát viên sơ cấp); Đến năm 2012 được UBTVQH giao chỉ tiêu 10.424 Kiểm sát viên (170 Kiểm sát viên VKSND tối cao; 4.039 Kiểm sát viên trung cấp; 6.215 Kiểm sát viên sơ cấp). Về trình độ cán bộ, trước tháng 10/2002, tỷ lệ Kiểm sát viên đạt trình độ cử nhân luật còn thấp (ở VKSND tối cao đạt tỷ lệ 59%; ở Viện kiểm sát cấp tỉnh đạt tỷ lệ 54,4%; ở Viện kiểm sát cấp huyện đạt tỷ lệ 38,3%; ở VKSQS các cấp đạt tỷ lệ 86,7%. Số còn lại khoảng 50% chỉ có trình độ cao đẳng kiểm sát hoặc trung cấp pháp lý). Đến nay, 100% Kiểm sát viên đã có trình độ Cử nhân luật trở lên; toàn Ngành có 25 Tiến sĩ, 511 Thạc sĩ; có 2547 người có trình độ cử nhân hoặc trình độ cao cấp lý luận chính trị; có 4.667 người có trình độ trung cấp lý luận chính trị.
22 Báo cáo của VKSQS trung ương, trang 13.
23 Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, tr. 251.
24 Tham khảo Báo cáo số 16-BC/CCTP ngày 07/8/2012 về ý kiến của Thường trực Ban chỉ đạo cải cách tư pháp về các đề án tăng cường cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ cho Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
25 Tham khảo Báo cáo số 16-BC/CCTP ngày 07/8/2012 của Thường trực Ban chỉ đạo cải cách tư pháp…
26 Tham khảo Báo cáo số 16-BC/CCTP ngày 07/8/2012 của Thường trực Ban chỉ đạo cải cách tư pháp…
27 Tham khảo Báo cáo số 16-BC/CCTP ngày 07/8/2012 của Thường trực Ban chỉ đạo cải cách tư pháp…
28 Tham khảo Báo cáo số 16-BC/CCTP ngày 07/8/2012 của Thường trực Ban chỉ đạo cải cách tư pháp…