Suy đoán vô tội được công nhận trên toàn thế giới bởi giá trị của nó trong việc bảo vệ quyền con người. Hiện nay, gần như không có quốc gia nào công khai bác bỏ nguyên tắc suy đoán vô tội. Nguyên tắc này được quy định dưới nhiều hình thức khác nhau. Việt Nam và Hungary là những quốc gia mà nguyên tắc suy đoán vô tội được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự.
Nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Hungary
Ở Hungary, Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 1973 lần đầu tiên ghi nhận nguyên tắc suy đoán vô tội tại Điều 3[1]. Nội dung nguyên tắc này xác định không ai bị coi là có tội cho đến khi trách nhiệm hình sự của họ được xác định bằng bản án có hiệu lực pháp luật; trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền; người bị buộc tội không có nghĩa vụ chứng minh cho sự vô tội của mình. Nguyên tắc này tiếp tục được ghi nhận trong các BLTTHS Hungary năm 1988 và 2017. Tuy nhiên, nội dung nguyên tắc suy đoán vô tội có sự thay đổi. Theo đó, nội dung về trách nhiệm chứng minh tội phạm (khoản 2 Điều 3 BLTTHS năm 1973) không được xem là nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội. Điều 1 BLTTHS Hungary năm 2017[2] quy định: “Không ai bị coi là có tội cho đến khi Tòa án tuyên bố người đó phạm tội bằng bản án, quyết định có tính chất kết luận của Tòa án có hiệu lực pháp luật”.
1.1. Chủ thể được suy đoán vô tội
Khoản 2 Điều 28 Hiến pháp Hungary[3] xác định: Không ai bị coi là có tội cho đến khi trách nhiệm hình sự của họ được xác định theo bản án, quyết định có tính chất kết luận của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Từ khi nguyên tắc suy đoán vô tội được quy định trong BLTTHS năm 1973 cho đến BLTTHS năm 2017, thì chủ thể được suy đoán vô tội luôn được xác định là bất kỳ ai.
Quy định về chủ thể được suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Hungary có sự khác biệt so với các văn kiện quốc tế về quyền con người. Cụ thể, Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 (Universal Declaration of Human Rights), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (International Covenant on Civil and Political Rights), Công ước Châu Âu về nhân quyền năm 1959 (tên gọi chính thức là Công ước bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do căn bản - Convention for the Protection of Human Rights and Fundamental Freedoms) đều quy định chủ thể được suy đoán vô tội là người bị buộc tội. Các văn bản này xác định quyền được suy đoán vô tội gắn liền với sự buộc tội của cơ quan có thẩm quyền. Năm 2016, Quốc hội Châu Âu và Hội đồng Châu Âu đã ban hành Chỉ thị 2016/343 về việc tăng cường một số khía cạnh của nguyên tắc nguyên tắc suy đoán vô tội và quyền được có mặt tại phiên tòa trong tố tụng hình sự (sau đây gọi chung là Chỉ thị 2016/343). Chỉ thị này đề ra các quy tắc tối thiểu chung liên quan đến một số khía cạnh của nguyên tắc suy đoán vô tội và quyền được có mặt tại phiên tòa. Trong đó, chủ thể được suy đoán vô tội bao gồm cá nhân bị tình nghi, bị buộc tội[4]. Phạm vi áp dụng của các quy tắc của Chỉ thị được xác định trong tất cả các giai đoạn tố tụng, kể từ khi một người bị tình nghi hoặc bị buộc tội về một tội phạm. Chỉ thị này được áp dụng ngay cả trước khi người bị tình nghi, bị buộc tội được cơ quan có thẩm quyền thông báo chính thức hoặc bằng bất kỳ cách nào khác rằng họ đang bị tình nghi hoặc bị buộc tội. Có thể thấy, các tiêu chuẩn về bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội được áp dụng trước khi một cá nhân chính thức trở thành người bị tình nghi, người bị buộc tội trong thủ tục tố tụng hình sự[5].
Có quan điểm cho rằng, quy định của BLTTHS Hungary về cơ bản tương đồng với các văn bản quốc tế, chỉ khác nhau về cách diễn đạt. Sự khác biệt này không làm ảnh hưởng đến bản chất vấn đề[6]. Suy đoán vô tội bảo vệ cá nhân khỏi quyền lực của nhà nước nên bất kỳ ai cũng là chủ thể của suy đoán vô tội[7]. Tuy nhiên, quan điểm này không được đồng tình bởi lẽ, suy đoán vô tội là một nguyên tắc gắn liền với luật hình sự, được hiểu trong phạm vi của luật hình sự và bản chất của nó được xác định rõ trong bối cảnh của các đảm bảo pháp lý hình sự[8]. Suy đoán vô tội xác định mối quan hệ giữa các bên trong quá trình tố tụng hơn là một sự thật tạm thời, vì vậy, nếu suy đoán vô tội đặt ngoài bối cảnh của tố tụng hình sự thì không cần thiết[9].
1.2. Giới hạn của suy đoán vô tội
Trong pháp luật tố tụng hình sự Hungary, giới hạn của suy đoán vô tội được áp dụng cho đến khi có bản án, quyết định có tính chất kết luận của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Tòa án có thẩm quyền ban hành quyết định có tính chất kết luận, lệnh không có tính chất kết luận và các biện pháp không cần thông qua quyết định (Điều 449 BLTTHS Hungary). Quyết định có tính chất kết luận bao gồm bản án và lệnh có tính chất kết luận (sau đây gọi chung là bản án, quyết định có tính chất kết luận của Tòa án). Việc kết luận về tội phạm được thực hiện thông qua bản án kết tội hoặc tuyên vô tội. Như vậy, việc xác định một người bị coi là có tội sẽ được thực hiện thông qua bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Thời điểm bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật phụ thuộc vào cấp xét xử. Tòa án Hungary có 03 cấp xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm và cấp thứ ba)[10]. Theo Điều 458 BLTTHS Hungary, bản án kết tội của Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm có hiệu lực khi: (1) Chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị tuyên bố chấp nhận kết quả của bản án; (2) Chủ thể kháng cáo, kháng nghị đã rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị; (3) Hết hạn kháng cáo, kháng nghị mà không có kháng cáo, kháng nghị; (4) Tòa án cấp phúc thẩm, cấp thứ ba giữ nguyên bản án kết tội của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc phúc thẩm. Bản án của Tòa án cấp thứ ba có hiệu lực kể từ khi được thông qua.
Điều 1 BLTTHS Hungary không đặt ra yêu cầu về việc chứng minh tội phạm theo quy định của pháp luật. Trong khi đó, Điều 3 Chỉ thị 2016/343 yêu cầu tất cả các quốc gia thành viên phải đảm bảo người bị tình nghi và người bị buộc tội được suy đoán vô tội cho đến khi được chứng minh là có tội theo quy định của pháp luật. Dù vậy, các quy định về quá trình chứng minh trong pháp luật tố tụng hình sự đặt ra yêu cầu chặt chẽ cho quá trình chứng minh tội phạm. Khoản 4 Điều 7 BLTTHS Hungary quy định khi một tình tiết không được chứng minh vượt quá nghi ngờ hợp lý thì không được sử dụng để chống lại người buộc tội. Theo khoản 5 Điều 167 BLTTHS Hungary, nguồn chứng cứ sẽ không được xem là chứng cứ trong vụ án hình sự nếu như nó được thu thập thông qua hành vi phạm tội, vi phạm nghiêm trọng quyền của người tham gia tố tụng hoặc thuộc các trường hợp cấm. Chẳng hạn, lời khai của người làm chứng sẽ không được xem là chứng cứ nếu vi phạm các quy định về cấm cung cấp lời khai hoặc từ chối cung cấp lời khai.
Đồng thời, các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án cũng được quy định nhằm bảo đảm cho việc kết tội theo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Chẳng hạn, theo khoản 2 Điều 590 BLTTHS Hungary, Tòa án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm phải xem xét lại toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, bao gồm cả quá trình giải quyết vụ án đảm bảo các quy định về thủ tục tố tụng hay không. Khi xác định có các vi phạm thủ tục tố tụng được quy định tại Điều 608 BLTTHS Hungary, Tòa án cấp
phúc thẩm sẽ hủy án sơ thẩm và yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành thủ tục tố tụng mới.
2. Kinh nghiệm cho Việt Nam
2.1. Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về nguyên tắc suy đoán vô tội
Nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội được quy định trong pháp luật tố tụng Việt Nam từ rất sớm[11]. Tuy nhiên, BLTTHS năm 2015 lần đầu ghi nhận nguyên tắc suy đoán vô tội tại Điều 13. Theo đó, nguyên tắc suy đoán vô tội bao gồm các nội dung sau:
Một là, chủ thể được suy đoán vô tội là người bị buộc tội. Theo Điều 4 BLTTHS năm 2015, người bị buộc tội bao gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can và bị cáo. Trong tố tụng hình sự, ngoài người bị buộc tội, thì người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố và người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp cũng là những chủ thể đang bị nghi ngờ về việc đã thực hiện hành vi trái pháp luật hình sự. Tuy nhiên, Điều 13 BLTTHS năm 2015 chưa xác định các chủ thể này được suy đoán vô tội.
Hai là, giới hạn của suy đoán vô tội được xác định cho đến khi có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Hay nói cách khác, thời điểm bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật là thời điểm kết thúc việc suy đoán vô tội. Cụ thể, bản án kết tội của Tòa án cấp sơ thẩm có hiệu lực kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm mà không có kháng cáo, kháng nghị (Điều 343 BLTTHS năm 2015) hoặc kể từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm (khoản 1 Điều 348 BLTTHS năm 2015). Bản án kết tội của Tòa án cấp phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (Điều 355 BLTTHS năm 2015).
Ba là, chứng minh theo trình tự, thủ tục luật định. Việc Điều 13 BLTTHS 2015 bổ sung quy định tội phạm phải được chứng minh theo trình tự, thủ tục luật định đánh dấu sự phát triển vượt bậc của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về nội dung nguyên tắc suy đoán vô tội[12]. Nội dung này nhấn mạnh yêu cầu về mặt thủ tục pháp lý, là dấu hiệu quan trọng nhất của chế độ pháp quyền[13].
Bốn là, kết luận người bị buộc tội không có tội. Đoạn 2 Điều 13 BLTTHS năm 2015 quy định: “Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội”. So với BLTTHS năm 1988 và 2003 thì quy định trên mới được bổ sung vào nguyên tắc suy đoán vô tội. Quy định này được đánh giá là đã thể hiện bản chất của cụm từ suy đoán vô tội[14]. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng, đây là hệ quả của nguyên tắc suy đoán vô tội và pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đã mở rộng nội dung suy đoán vô tội bằng việc nội dung hóa hệ quả của nguyên tắc[15].
2.2. Khuyến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam
Từ các phân tích về nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Hungary, tác giả đưa ra một số khuyến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam như sau:
Thứ nhất, về chủ thể được suy đoán vô tội: Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam xác định người bị buộc tội (bao gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) là chủ thể được suy đoán vô tội. Việc xác định như trên là chưa đầy đủ bởi lẽ, ngoài người bị buộc tội, một số chủ thể tham gia tố tụng khác cũng có khả năng bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế do việc họ bị tình nghi thực hiện tội phạm. Vì vậy, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam nên mở rộng chủ thể được suy đoán vô tội. Tuy nhiên, việc mở rộng như pháp luật Hungary được đánh giá là không cần thiết.
Có thể tham khảo Chỉ thị 2016/343 về tăng cường các khía cạnh của nguyên tắc suy đoán vô tội của Hungary. Chỉ thị này xác định người được suy đoán vô tội bao gồm người bị tình nghi và người bị buộc tội. Việc được suy đoán vô tội sẽ được thực hiện ngay cả trước khi một người được cơ quan có thẩm quyền thông báo chính thức về việc họ bị tình nghi hay bị buộc tội.
Trong tố tụng hình sự Việt Nam, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp cũng là những chủ thể đang đối mặt với sự tình nghi đã thực hiện tội phạm. Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố bị người tố giác hoặc cơ quan kiến nghị khởi tố nghi ngờ đã thực hiện tội phạm nên tố cáo, kiến nghị đến cơ quan có thẩm quyền. Do việc bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố nên các chủ thể này có thể bị triệu tập (Điều 57 BLTTHS năm 2015), bị áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh (Điều 124 BLTTHS năm 2015). Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là cá nhân tham gia tố tụng hình sự bị tình nghi đang chuẩn bị thực hiện một tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng hoặc đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm và bị áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp để ngăn chặn việc người đó bỏ trốn, tiếp tục phạm tội hoặc tiêu hủy chứng cứ[16]. Do việc bị tình nghi thực hiện tội phạm nên nhóm chủ thể người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đã bị áp dụng các biện pháp có tính chất cưỡng chế mặc dù họ chưa bị buộc tội chính thức từ cơ quan có thẩm quyền. Vì vậy, nhóm chủ thể này cũng cần được suy đoán vô tội tương tự như người bị buộc tội. Theo đó, các chủ thể được suy đoán vô tội bao gồm: Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can và bị cáo hay có thể gọi chung là người bị tình nghi, người bị buộc tội.
Thứ hai, về trường hợp kết luận vô tội: Theo Điều 13 BLTTHS năm 2015 thì khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội. Quy định này liên quan đến yêu cầu của quá trình chứng minh tội phạm. Nội dung này không được quy định trong nội dung của Điều 1 BLTTHS Hungary về nguyên tắc suy đoán vô tội. Việc kết luận trong trường hợp có nghi ngờ được quy định tại Điều 7 BLTTHS Hungary với yêu cầu quá trình chứng minh phải “vượt quá nghi ngờ hợp lý”. Theo đó, tình tiết nào chưa được chứng minh vượt quá nghi ngờ hợp lý sẽ không được sử dụng để kết tội đối với người bị buộc tội. Nói cách khác, chỉ có thể kết tội nếu việc chứng minh vượt qua được giới hạn của nghi ngờ hợp lý. Để cụ thể hóa quy định này, Điều 398 BLTTHS Hungary quy định: “Việc thực hiện một hành vi phạm tội không thể được xác lập trên cơ sở dữ liệu và phương tiện chứng cứ có sẵn” và “không thể thiết lập trên cơ sở dữ liệu và phương tiện chứng cứ có sẵn rằng tội phạm đã được thực hiện bởi nghi phạm” là căn cứ để Cơ quan điều tra và cơ quan Công tố đình chỉ vụ án. Tương tự như vậy, Tòa án sẽ tuyên bị cáo vô tội khi “sự việc phạm tội không được chứng minh” hoặc “không chứng minh được hành vi phạm tội được thực hiện bởi người bị buộc tội”. Các quy định này phù hợp với yêu cầu của Chỉ thị 2016/343 về việc kết luận trong trường hợp còn nghi ngờ. Khi còn nghi ngờ thì phải kết luận có lợi cho người bị tình nghi, người bị buộc tội.
Ngược lại, Điều 13 BLTTHS năm 2015 quy định phạm vi áp dụng hẹp hơn, chỉ trong giới hạn “khi không thể và không đủ căn cứ buộc tội, kết tội thì kết luận vô tội”. Thực tiễn giải quyết vụ án hình sự ở Việt Nam cho thấy, giới hạn áp dụng rộng hơn17 so với quy định trên. Cụ thể, trong quá trình chứng minh tội phạm, khi có nghi ngờ về các tình tiết trong vụ án hình sự, thì các cơ quan có thẩm quyền giải thích có lợi cho người bị tình nghi, bị buộc tội. Vì vậy, quy định về trường hợp kết luận vô tội nên được mở rộng theo hướng khi có nghi ngờ thì kết luận có lợi cho người bị tình nghi, người bị buộc tội.
--------------------------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Bérces, V, Chapters from the Scope of Hungarian Criminal Law and Criminal Procedure Law, Forum Iuris Publishing House, 2024, p. 67.
2. Đào Trí Úc, Hệ thống các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Việt Nam theo BLTTHS năm 2015 trong “Những nội dung mới trong BLTTHS năm 2015”, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.72.
3. Gröpl, C, The Presumption of Innocence in the legal framework of Germany, Official Journal of the European Union, 100, 2007 (303/30).
4. Karsai Krisztina, Katona Tibor, Az ártatlanság vélelme és a vádlott meg nem cáfolt védekezése (Suy đoán vô tội và lời bào chữa không thể bác bỏ của người bị buộc tội), Jogtudományi Közlöny, 2010/4., p.171-179.
5. Lê Lan Chi, Nguyên tắc suy đoán vô tội trong lịch sử tố tụng hình sự Việt Nam, “Kỷ yếu hội thảo quốc tế: Suy đoán vô tội”, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2021, tr.505.
6. Mai Thanh Hiếu, Nội dung nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Pháp và Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 06, 2023, tr.55-69.
7. Mai Thanh Hiếu (chủ nhiệm đề tài), Nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Pháp và kinh nghiệm lập pháp cho Việt Nam (Đề tài NCKH cấp trường), Trường Đại học Luật Hà Nội, 2023.
8. Róth Erika, Irányelv az ártatlanság vélelméről (Chỉ thị về nguyên tắc suy đoán vô tội), Miskolci Jogi Szemle, 1. Különszám, 2017, 95-106. o. https://szakcikkadatbazis.hu/doc/6379980.
9. Phan Trung Hiền (chủ biên), Thuật ngữ pháp lý tố tụng hình sự, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2021, tr.178.
10. Stuckenberg, C. F, Who is presumed innocent of what by whom?, Criminal Law and Philosophy, 8, 2014, p. 301-316.
11. Tibor KIRALY, Law on Criminal procedure in Hungary 1945 - 1975, Ministry of Justice of the Hungarian People’s Republic, https://www.ojp.gov/ncjrs/virtual-library/abstracts/law-criminal-procedure-hungary-1945-1975, truy cập ngày 04/8/2024.
12. Vũ Gia Lâm, Thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong quy định về đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án của BLTTHS năm 2015, Tạp chí Kiểm sát, số 12, 2016.
[1]. Tibor KIRALY, Law on Criminal procedure in Hungary 1945 - 1975, Ministry of Justice of the Hungarian People’s Republic, https://www.ojp.gov/ncjrs/virtual-library/abstracts/law-criminal-procedure-hungary-1945-1975, truy cập ngày 04/8/2024.
[2]. Tên đầy đủ: Act XC of 2017 on the Code of Criminal Procedure. Bộ luật này được sửa đổi, bổ sung lần cuối vào năm 2024.
[3]. Tên đầy đủ là “The Fundamental Law of Hungary 2011”.
[4]. Chỉ thị 2016/343 không áp dụng cho pháp nhân. Điều này không ảnh hưởng đến việc áp dụng giả định vô tội như đã được quy định.
[5]. Róth Erika, Irányelv az ártatlanság vélelméről (Chỉ thị về nguyên tắc suy đoán vô tội), Miskolci Jogi Szemle, 1. Különszám, 2017, p.95-106. o. https://szakcikkadatbazis.hu/doc/6379980.
[6]. Karsai Krisztina, Katona Tibor, Az ártatlanság vélelme és a vádlott meg nem cáfolt védekezése (Suy đoán vô tội và lời bào chữa không thể bác bỏ của người bị buộc tội), Jogtudományi Közlöny, 2010/4., p.171-179.
[7]. Stuckenberg, C. F, Who is presumed innocent of what by whom?, Criminal Law and Philosophy, 8, 2014, p.301-316.
[8]. Karsai Krisztina, Katona Tibor, Az ártatlanság vélelme és a vádlott meg nem cáfolt védekezése (Suy đoán vô tội và lời bào chữa không thể bác bỏ của người bị buộc tội), Jogtudományi Közlöny, 2010/4., p.171-179.
[9]. Bérces, V, Chapters from the Scope of Hungarian Criminal Law and Criminal Procedure Law, Forum Iuris Publishing House, 2024, p.67.
[10]. Điều 12 BLTTHS Hungary.
[11]. Lê Lan Chi, Nguyên tắc suy đoán vô tội trong lịch sử tố tụng hình sự Việt Nam, “Kỷ yếu hội thảo quốc tế: Suy đoán vô tội”, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2021, tr.505.
[12]. Mai Thanh Hiếu, Nội dung nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Pháp và Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 06/2023, tr 55-69.
[13]. Đào Trí Úc, Hệ thống các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Việt Nam theo BLTTHS năm 2015, “Những nội dung mới trong BLTTHS năm 2015”, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.72.
[14]. Vũ Gia Lâm, Thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong quy định về đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án của BLTTHS năm 2015, Tạp chí Kiểm sát, số 12/2016.
[15]. Mai Thanh Hiếu (chủ nhiệm đề tài), Nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Pháp và kinh nghiệm lập pháp cho Việt Nam (Đề tài NCKH cấp trường), Trường Đại học Luật
Hà Nội, 2023.
[16]. Phan Trung Hiền (chủ biên), Thuật ngữ pháp lý tố tụng hình sự, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.178.
17. Mai Thanh Hiếu (chủ nhiệm đề tài) (2023), tlđd.