Để khắc phục những khó khăn, thách thức đặt ra khi người bị buộc tội thực hiện quyền im lặng trong điều tra vụ án hình sự, bên cạnh việc quy định quyền im lặng của người bị buộc tội trong cảnh báo Miranda, hệ thống tư pháp hình sự Hoa Kỳ đồng thời thiết lập cơ chế thỏa thuận nhận tội, khuyến khích người bị buộc tội từ bỏ việc im lặng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
1. Nội dung cơ bản của quyền im lặng trong tố tụng hình sự Hoa Kỳ
Pháp luật tố tụng hình sự hiện đại ngày càng chú trọng và chặt chẽ hơn về trình tự, thủ tục, đảm bảo phù hợp với xã hội văn minh, nhấn mạnh sự tôn trọng và bảo vệ phẩm giá con người. Người bị buộc tội trong tố tụng hình sự cần phải được đảm bảo thể hiện sự tự do ý chí của mình trong các hoạt động tham gia quá trình tố tụng và quyền im lặng được xác định là một quyền quan trọng. Xuất phát từ chế định trong hệ thống pháp luật Anh - Mỹ, quyền im lặng với cách gọi chính thức là cảnh báo Miranda (Miranda warnings) được biết đến qua án lệ Miranda v. Arizona, 384 U.S. 436 (1966). Trên cơ sở án lệ này, Tòa án tối cao liên bang Hoa kỳ đã được ghi nhận trong Hiến pháp của Hoa Kỳ, cho phép nghi phạm có quyền giữ im lặng, từ chối trả lời câu hỏi trước sự thẩm vấn của cơ quan Cảnh sát, đồng thời có quyền được yêu cầu Luật sư bào chữa để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho mình. Về nguyên tắc, họ không bị suy luận có tội và cơ quan thực thi pháp luật có nghĩa vụ phải thông báo cho nghi phạm rõ về quyền im lặng của họ[1].
Việc quy định quyền im lặng là nhằm ngăn chặn mọi hành vi ép buộc về thể chất hoặc tinh thần đối với người bị buộc tội để thu thập lời khai, đảm bảo việc khai báo của bị can, bị cáo được thực hiện trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và tự do ý chí. Điều này thể hiện sự tôn trọng quyền con người của người bị buộc tội, ngay cả khi một công dân phải đối mặt với cáo buộc về trách nhiệm hình sự, họ vẫn có quyền lựa chọn thái độ của mình, hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng, tự nguyện trả lời các câu hỏi được đưa ra hoặc lựa chọn sự im lặng nếu họ cảm thấy việc trả lời câu hỏi là bất lợi cho bản thân mình.
Với ý nghĩa như trên, việc đảm bảo quyền im lặng kéo theo các vấn đề cụ thể sau đây: (i) Lời cung, lời khai phải được thu thập trên cơ sở tự nguyện từ phía người bị buộc tội, không được thực hiện bất kỳ sự ép buộc nào về thể chất hoặc tinh thần đối với người bị buộc tội để thu thập lời khai; (ii) Không được đưa ra những suy đoán có tội chỉ duy nhất từ việc người bị buộc tội thực hiện quyền im lặng hoặc từ chối trả lời câu hỏi mà người tiến hành tố tụng đưa ra; (iii) Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, người bị buộc tội không có trách nhiệm chứng minh về sự vô tội của họ; (iv) Lời khai nhận thu được thông qua sự cưỡng bức, ép buộc dưới bất kì hình thức nào đều không được sử dụng làm chứng cứ chứng minh tội phạm hoặc lấy đó làm căn cứ giải quyết vụ án.
Xuất phát từ mục đích ngăn chặn mọi hành vi ép buộc về thể xác hoặc tinh thần đối với người bị buộc tội để thu thập lời khai, đảm bảo việc khai báo của bị can, bị cáo được thực hiện trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và tự do ý chí, cảnh báo Miranda về quyền im lặng chỉ cần thiết trong trường hợp hỏi cung, lấy lời khai đối với người bị buộc tội đang trong điều kiện bị giam, giữ hoặc trong những hoàn cảnh khác mà họ rõ ràng bị tước bỏ tự do bởi cơ quan có thẩm quyền[2]. Đây chính là điều kiện quan trọng dẫn đến nghĩa vụ của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải thực hiện thông báo về quyền im lặng đối với người bị buộc tội trước khi hỏi cung hoặc lấy lời khai. Hệ thống pháp luật Hoa Kỳ xác định cảnh báo Miranda về quyền im lặng là không cần thiết trong các trường hợp sau đây:
(1) Người bị buộc tội không bị tước bỏ tự do khi tiến hành hỏi cung hoặc lấy lời khai: Trong trường hợp này, người bị buộc tội hoàn toàn có quyền tự do về ý chí cũng như thân thể khi trả lời các câu hỏi của người tiến hành tố tụng. Ví dụ: D là người bị buộc tội trong vụ án trốn thuế. Điều tra viên đến nhà riêng của D lúc 8 giờ sáng để lấy lời khai của D trong 03 tiếng. D không ở trong tình trạng bị giam giữ hoặc chịu các hình thức tước bỏ tự do khác và hoàn toàn có tự do ý chí trong việc chấm dứt cuộc lấy lời khai bất kỳ lúc nào. Do vậy, việc tuyên bố cảnh báo Miranda về quyền im lặng đối với D là không cần thiết (Án lệ Beckwith v. U.S. 314 (1976))[3].
(2) Người bị buộc tội trả lời câu hỏi hoặc cung cấp thông tin cho “lực lượng bí mật” (undercover agents, government informants) mà hoàn toàn không biết rằng họ đang trả lời hoặc cung cấp thông tin cho cơ quan thực thi pháp luật. Trong trường hợp này, cảnh báo Miranda về quyền im lặng cũng không cần thiết, thậm chí cả trong trường hợp người bị buộc tội đang trong tình trạng bị tạm giữ hoặc tạm giam. Ví dụ: A bị tạm giam về tội trốn thuế. Cơ quan điều tra nghi vấn A liên quan đến một vụ án giết người, đã bố trí nhân viên bí mật (undercover agent) trong buồng giam của A. Người này làm quen với A và lên kế hoạch rủ A trốn khỏi nơi giam. Trong quá trình bàn bạc đã hỏi A có thực hiện vụ phạm tội nào khác không, A đã thừa nhận và kể lại hành vi giết người của chính mình. Trong trường hợp này, pháp luật Hoa Kỳ cho phép sử dụng thông tin thu được từ hoạt động trên làm chứng cứ để chứng minh tội phạm trước Tòa án mà không xem là sự vi phạm cảnh báo Miranda về quyền im lặng (án lệ Illinois v. Perkins, 496 U.S. 292 (1990))[4].
(3) Người bị buộc tội tự nguyện đến trụ sở Cơ quan điều tra theo giấy mời của Điều tra viên và trả lời các câu hỏi Điều tra viên đặt ra. Trong trường hợp này, người bị buộc tội thể hiện tự do ý chí và tự do thân thể trong hoạt động lấy lời khai, hỏi cung bị can, và như vậy, cảnh báo Miranda về quyền im lặng là không cần thiết phải tuyên bố (Án lệ Oregon v, Mathiason, 429 U.S. 492 (1977))[5]. Tòa án cũng khẳng định rằng, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, mọi lời khai báo tự nguyện, tự giác sẽ không thuộc phạm vi của cảnh báo Miranda về quyền im lặng. Rõ ràng rằng, cảnh báo Miranda về quyền im lặng là hoàn toàn không cần thiết trong trường hợp người phạm tội chủ động và tự nguyện đến trụ sở Cơ quan điều tra để đầu thú, tự thú về hành vi phạm tội của mình (xem Nutshell, p.224).
(4) Thực hiện cảnh báo Miranda về quyền im lặng ảnh hưởng đến an toàn công cộng (public safety exception): Quyền im lặng sẽ bị loại trừ để đảm bảo an toàn, trật tự công cộng. Ví dụ: Trong trường hợp Cảnh sát tiến hành lấy lời khai của người bị bắt, người bị tạm giữ, trong tình huống có cơ sở tin rằng có vũ khí đang được cất giấu, có nạn nhân đang bị giam giữ, bị bắt cóc, có bom mìn đã được cài đặt và có thể phát nổ… hoặc những trường hợp khác rõ ràng đang tồn tại mối đe dọa trực tiếp đến an toàn công cộng. Cảnh sát có thể hỏi đối tượng về vũ khí, nạn nhân, quả bom… để đảm bảo an toàn công cộng. Thậm chí, ngay cả khi đối tượng đã bị bắt, tạm giữ, tạm giam, việc lấy lời khai, hỏi cung bị can ngay sau đó cũng không cần thiết phải tuyên bố cảnh báo Miranda về quyền im lặng (Án lệ New York v. Quarles, 467 U.S. 649 (1984)).
Như vậy, có thể thấy các quy định về quyền im lặng trong hệ thống pháp luật Hoa Kỳ tương đối chặt chẽ, không đơn thuần là một cảnh báo được tuyên bố bởi Cảnh sát, mà được cụ thể hóa với nhiều điều kiện cụ thể và những điểm loại trừ cần thiết, không chỉ thực hiện mục tiêu bảo vệ quyền con người mà còn đảm bảo không cản trở hoặc làm suy giảm hiệu quả của cơ quan thực thi pháp luật trong thực hiện chức năng điều tra, khám phá tội phạm, đảm bảo an toàn công cộng và trật tự xã hội.
2. Thỏa thuận nhận tội - Chế định quan trọng đảm bảo tính đối xứng, cân bằng với quyền im lặng trong tố tụng hình sự Hoa Kỳ
Sau 04 năm thiết lập cảnh báo Miranda về quyền im lặng tại Án lệ Miranda v. Arizona, 384 U.S. 436 (1966), hệ thống tư pháp hình sự Hoa Kỳ đã công nhận tính hợp pháp của một chế định mới, đó là chế định thỏa thuận nhận tội (plea bargain) thông qua án lệ Brady v. United States, 397 U.S. 742 (1970)[6]. Có thể nói, chế định thỏa thuận nhận tội đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong mối quan hệ với quyền im lặng, chế định này khắc phục những những hạn chế của chế định quyền im lặng, là sự bổ sung cần thiết để đảm bảo tính cân bằng giữa mục tiêu kiểm soát tội phạm và bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự hiện đại.
Thỏa thuận nhận tội là một dạng thỏa thuận trong quá trình giải quyết vụ án hình sự giữa Công tố viên và người bị buộc tội, theo đó, người bị buộc tội đồng ý thừa nhận hành vi phạm tội trước Cơ quan điều tra và Cơ quan công tố để đổi lấy một sự cam kết từ Công tố viên với mục đích cuối cùng là giảm nhẹ hình phạt đối với hành vi phạm tội mà người bị buộc tội đã thực hiện[7].
Thỏa thuận nhận tội về bản chất là một cuộc trao đổi tự nguyện mà cả Công tố viên và bên bị buộc tội đều có lợi hơn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Bằng việc thừa nhận tội phạm mà mình đã thực hiện khi tham gia trình tự thỏa thuận nhận tội, người bị buộc tội tự nguyện từ bỏ một số quyền hiến định của mình (mặc dù có một số trường hợp loại trừ) bao gồm quyền không tự buộc tội mình, quyền im lặng, quyền đối chất trước Tòa án, quyền được xét xử trước Tòa án bởi Bồi thẩm đoàn, quyền kháng cáo bản án để đổi lấy cam kết từ Công tố viên như truy tố về tội danh nhẹ hơn so với những chứng cứ đã thu thập được (lesser charge), đề đề xuất mức hình phạt thấp hơn (lesser sentence) hoặc không truy tố những tội danh khác có liên quan trong cùng một vụ án (dropping of other charges)[8].
Đặc biệt, đối với các trường hợp mà người bị buộc tội thấy rằng việc kết án là gần như là chắc chắn, thì việc giảm nhẹ hình phạt có ý nghĩa hơn nhiều so với việc giữ các quyền hiến định như quyền im lặng để tìm cơ hội vô cùng hiếm hoi được tha bổng khi xét xử trước bồi thẩm đoàn. Về phía Công tố viên và Tòa án, Công tố viên sẽ dễ dàng chứng minh sự thật vụ án với sự khai báo thành khẩn và cung cấp tài liệu, chứng cứ của chính người bị buộc tội, tiết kiệm được thời gian và nguồn lực vật chất, con người trong giải quyết vụ án hình sự. Đối với Tòa án, sau khi xác định người bị buộc tội đã hiểu rõ về hậu quả của việc chấp nhận thỏa thuận nhận tội, chấp nhận từ bỏ một số quyền hiến định của mình, đồng thời mong muốn và sẵn sàng tham gia thỏa thuận mà không bị bất kỳ sự ép buộc về tinh thần hoặc thể chất nào từ bất kỳ ai, bao gồm cả Công tố viên hoặc Luật sư bào chữa, Tòa án có thể nhanh chóng kết án mà không phải xét xử vụ án kéo dài trước Bồi thẩm đoàn. Như vậy, thỏa thuận nhận tội cũng giúp cho Tòa án tiết kiệm được nguồn kinh phí, nhân lực, vật lực khi không cần thiết mở phiên tòa xét xử với thủ tục bồi thẩm đoàn, người bị hại, người làm chứng có thể không phải làm chứng tại phiên tòa, việc kết án được tiến hành thuận lợi, kịp thời.
Thỏa thuận nhận tội là chế định có vai trò đặc biệt quan trọng trong nền tư pháp hình sự Hoa Kỳ. Nghiên cứu năm 1986 của Cục thống kê tư pháp Hoa Kỳ cho thấy 96% số bị cáo trong vụ án hình sự của các bang trong Hợp chủng quốc Hoa Kỳ bị kết tội thông qua chế định thỏa thuận nhận tội. Một nghiên cứu khác ở góc độ liên bang trong năm tài chính 1985 cũng cho kết quả tương tự chỉ với gần 5.000/38.000 bị cáo (nhỏ hơn 15%) bị kết tội thông qua xét xử tại phiên tòa có Bồi thẩm đoàn, số còn lại đều thực hiện thỏa thuận nhận tội[9]. Năm 2000, chỉ có 6% tổng số bị cáo hình sự liên bang được đưa ra xét xử trước Bồi thẩm đoàn, đến năm 2010 là chưa đến 3%. Nghiên cứu số liệu các vụ án hình sự năm 2013 của Hoa Kỳ cũng cho thấy, hơn 97% số vụ án hình sự được giải quyết thông qua thỏa thuận nhận tội, không đến 3% phải đưa ra xét xử trước Bồi thẩm đoàn[10]. Mặc dù không có số liệu thống kê tổng hợp cho từng bang của Hoa Kỳ, hiếm có bang nào mà số vụ án hình sự được giải quyết thông qua thỏa thuận nhận tội dưới 95% tổng số vụ án[11].
Qua số liệu trên có thể thấy rằng, đại đa số vụ án hình sự của Hoa Kỳ được giải quyết thông qua trình tự thỏa thuận nhận tội. Điều đó cũng có nghĩa là đại đa số bị can, bị cáo ở Hoa Kỳ đều từ bỏ các quyền không tự buộc tội mình, quyền im lặng để tham gia thỏa thuận nhận tội, tự nguyện, thành khẩn khai báo, chủ động hợp tác với Cơ quan điều tra, cơ quan Công tố trong giải quyết vụ án hình sự.
Nói cách khác, cảnh báo Miranda về quyền im lặng, quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc thừa nhận mình có tội, mặc dù được khẳng định trong Tu chính án Hiến pháp Hoa Kỳ, nhưng về thực chất nó mang tính hình tượng và biểu trưng nhiều hơn là ý nghĩa thực tế vì có đến 97% số bị can, bị cáo tự nguyện và chủ động từ bỏ các quyền này trong quá trình tham gia tố tụng.
3. Những vấn đề đặt ra đối với chính sách hình sự của Việt Nam
Điều 2 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) đã xác định nhiệm vụ của quá trình tố tụng hình sự là phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện, xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, quyền con người, quyền công dân. Có thể thấy, đấu tranh chống tội phạm và bảo vệ quyền con người được xác định là hai nhiệm vụ quan trọng song song của tố tụng hình sự. Nếu coi nhẹ việc đảm bảo quyền con người trong tố tụng hình sự sẽ dẫn đến vi phạm các thủ tục tố tụng, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, là một trong những nguyên nhân dẫn đến oan sai. Nếu coi nhẹ nhiệm vụ đấu tranh, kiểm soát tội phạm trong tố tụng hình sự tất yếu sẽ dẫn đến thái độ thiếu kiên quyết trong quá trình tiến hành tố tụng, sợ trách nhiệm, sợ làm oan, sai, dẫn đến bỏ lọt tội phạm, pháp luật mất đi tính chất răn đe, phòng ngừa.
Chính sách hình sự của nhà nước ta thể hiện xuyên suốt trong quá trình áp dụng Bộ luật Hình sự, đó là nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội. Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra[12]. Tác dụng tích cực của phương châm “nghiêm trị kết hợp với khoan hồng”, “trừng trị kết hợp với giáo dục cải tạo” đã được đúc kết trong thực tiễn đấu tranh chống tội phạm, phù hợp với quy luật phát triển của hệ thống tư pháp hình sự Việt Nam. Nguyên tắc nghiêm trị kết hợp với khoan hồng thể hiện rõ chính sách khuyến khích người phạm tội từ bỏ sự đối kháng, chủ động tự thú, đầu thú, tự nguyện, thành khẩn khai báo, lập công chuộc tội.
Đảm bảo quyền “không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội” (quyền không buộc phải tự kết tội mình - privilege against self-incrimination) yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi tiến hành các hoạt động lấy lời khai, hỏi cung không được dùng các biện pháp trái pháp luật, đe dọa, ép buộc người bị buộc tội dưới bất kì hình thức nào để thu thập lời khai nhận hoặc thừa nhận mình có tội của người bị buộc tội. Bản chất quyền không buộc phải tự kết tội mình là nhằm đảm bảo tính tự nguyện trong quá trình khai báo của người bị buộc tội trước cơ quan tiến hành tố tụng, nhằm hạn chế các biện pháp bất hợp pháp trong quá trình hỏi cung, lấy lời khai.
Tuy nhiên, trao cho người bị buộc tội quyền không buộc phải tự kết tội mình không có nghĩa là loại bỏ quyền tự nguyện, chủ động thừa nhận hành vi phạm tội, tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo của bị can, bị cáo. Do vậy, việc triển khai thực hiện quyền của người bị buộc tội “không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội” phải được xem xét trong chính sách hình sự xuyên suốt của Nhà nước ta là nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo dục, cải tạo. Thực tế hiện nay, việc bị can, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được coi là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự[13], nhưng điều này khác với chế định thỏa thuận nhận tội trong hệ thống tư pháp hình sự Hoa Kỳ, đặc biệt ở tác dụng khuyến khích bị can, bị cáo tự nguyện, chủ động thừa nhận hành vi phạm tội, tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo. Việc thành khẩn khai báo để đảm bảo hưởng một mức án nhẹ hơn được ấn định rõ ràng với 03 hình thức cụ thể trong trình tự thỏa thuận nhận tội là cơ sở quan trọng khuyến khích bị can, bị cáo khai đúng sự thật, khai đầy đủ, rõ ràng, tạo điều kiện thuận lợi cho Nhà nước trong giải quyết vụ án hình sự, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật không phải ở chỗ hình phạt nặng, mà là mọi hành vi và đối tượng phạm tội đều phải bị phát hiện và xử lý kịp thời[14].
Do đó, để nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ đấu tranh, kiểm soát tội phạm, tác giả cho rằng BLTTHS năm 2015 cũng cần có những chế định cụ thể hơn, khuyến khích bị can, bị cáo tự nguyện, chủ động, thành khẩn khai báo, hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng trong giải quyết vụ án, thực hiện tốt phương châm nghiêm trị kết hợp với khoan hồng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Tài liệu tham khảo:
1. American Bar Association, You and the Law, A Consumer Guide Book, Publication International, 1990, ISBN 0881766631.
2. Cesare Beccaria, Tội phạm và hình phạt, 1764.
3. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966.
4. Jed S. Rakoff, Why Innocent People Plead Guilty, The New York Review of Books, 20 Nov. 2014.
5. Garner, Bryan A., ed. (2000). Black’s Law Dictionary (7th Edition.). St. Paul, Minn.: West Group. p. 1173. ISBN 978-0-314-24077-4.
6. Russell L.Weaver, Leslie W. Abramson, John M. Burkoff, Catherine Hancock, Principles of Criminal Procedure (Concise Hornbook) 3rd Edition, Thomson West, 2008, ISBN-13: 978-0314190925, 2007.
7. Steven L.Emanuel, Criminal Procedure, Wolters Kluwer Law and Business, Aspen Publishers, New York, 2007.
[1] Nguyên văn cảnh báo Miranda trong hệ thống tư pháp Hoa Kỳ được Cảnh sát tuyên đọc như sau: “Anh có quyền giữ im lặng và từ chối trả lời câu hỏi. Bất cứ điều gì anh nói đều có thể được sử dụng để chống lại anh trước Tòa. Anh có quyền có sự hiện diện và tư vấn của Luật sư. Nếu anh không đủ khả năng tìm kiếm Luật sư, anh sẽ được cung cấp một Luật sư trước khi trả lời các câu hỏi. Anh có đồng ý từ bỏ các quyền này và tự nguyện trả lời câu hỏi của chúng tôi lúc này hay không?” Xem Steven L.Emanuel, Criminal Procedure, Wolters Kluwer Law and Business, tr. 205.
[2] Xem Steven L.Emanuel, Criminal Procedure, Wolters Kluwer Law and Business, tr.205.
[3] Xem Steven L.Emanuel, tlđd, tr.210.
[4] Xem Steven L.Emanuel, tlđd, tr.210.
[5] Xem Steven L.Emanuel, tlđd, tr.212.
[6] . Russell L.Weaver, Leslie W. Abramson, John M. Burkoff, Catherine Hancock, Principles of Criminal Procedure (Concise Hornbook) 3rd Edition, Thomson West, 2008, ISBN-13: 978-0314190925, p.357.
[7] Garner, Bryan A., ed. (2000). Black’s law dictionary (7th ed.). St. Paul, Minn.: West Group. p.1173. ISBN 978-0-314-24077-4.
[8] Xem Steven L.Emanuel, tlđd, tr.369.
[9] American Bar Association, You and the Law, A Consumer Guide Book, Publication International, 1990. ISBN 0881766631.
[10] Jed S. Rakoff, “Why Innocent People Plead Guilty,” The New York Review of Books, 20 Nov. 2014.
[11] Russell L.Weaver, Leslie W. Abramson, John M. Burkoff, Catherine Hancock, Principles of Criminal Procedure (Concise Hornbook) 3rd Edition, Thomson West, 2008, ISBN-13: 978-0314190925, p.354.
[12] Xem khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025.
[13] Xem khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025.
[14] Xem Cesare Beccaria, Tội phạm và hình phạt, 1764.
Nguồn bài viết: Quyền im lặng và thoả thuận nhận tội trong tố tụng hình sự Hoa Kỳ - Kiểm Sát Online