Qua công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phức thẩm các vụ án Mua bán trái phép chất ma túy. Viện phúc thẩm 2 tại Đà Nẵng đã tổng hợp ban hành thông báo rút kinh nghiệm trong công tác kháng nghị phúc thẩm và áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội. Trang tin diện tử Viện kiểm sát nhân dân tối cao đăng trích để bạn đọc tham khảo:..
Rút kinh nghiệm trong một số vụ án Mua bán trái phép chất ma túy
Qua công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phức thẩm các vụ án Mua bán trái phép chất ma túy. Viện phúc thẩm 2 tại Đà Nẵng đã tổng hợp ban hành thông báo rút kinh nghiệm trong công tác kháng nghị phúc thẩm và áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội. Trang tin diện tử Viện kiểm sát nhân dân tối cao đăng trích để bạn đọc tham khảo:
1/ Vụ án Nguyễn Thanh H và đồng bọn phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Nội dung vụ án và quá trình tố tụng
Từ tháng 5/2011 đến tháng 9/2011, bị cáo Nguyễn Thanh H nhiều lần đi ra thành phố Đà Nẵng mua Hêrôin đem vào thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định bán cho bị cáo Đặng Thanh P 02 lần 1,209 gam Hêrôin và giao cho bị cáo Nguyễn Xuân Cao H bán cho các đối tượng nghiện ma túy tại Quy Nhơn 39 lần tổng cộng 10,741 gam Hêrôin. Tổng cộng số lượng Hêrôin bị cáo Nguyễn Thanh H bán là 11,950 gam thu lợi bất chính 27.350.000 đồng, bị cáo Nguyễn Xuân Cao H thu lợi bất chính 1.700.000 đồng.
Sau khi mua Hêrôin của bị cáo Nguyễn Thanh H và bị cáo Nguyễn Xuân Cao H thì bị cáo Đặng Xuân P đã bán cho các đối tượng nghiện ma túy 37 lần 60 gói Hêrôin, trọng lượng 5,5 gam.
Bị cáo Đào Thị Thùy D mua 3,72 gam Hêrôin của bị cáo Nguyễn Xuân Cao H, sau đó bán cho bị cáo Phạm Minh D 30 lần 40 gói, trọng lượng 3,72 gam, thu bất chính 6.000.000 đồng.
Bị cáo Phạm Minh D, sau khi mua Hêrôin của bị cáo Nguyễn Xuân Cao H và bị cáo Đào Thị Thùy D đã bán lại cho các đối tượng nghiện ma túy 47 lần 51 gói, trọng lượng 4,743 gam, thu lợi bất chính 2.000.0000 đồng.
Vào ngày 10/9/2011, bị cáo Phạm Minh D và bị cáo Đào Thị Thùy D đang thực hiện hành vi mua bán 3.481 gam Hêrôin thì bị bắt.
* Tại bản án hình sự sơ thẩm số 18/2012/HSST ngày 27/6/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định, quyết định: Tuyên bố cáo bị cáo Nguyễn Thanh H, Nguyễn Xuân Cao H, Đặng Thanh P, Phạm Minh D, Đào Thị Thùy D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b, h, p khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 13 năm tù.
Áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Cao H, Đặng Thanh P 07 năm tù.
Áp dụng điểm b, h, p khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Minh D 05 năm tù, Đào Thùy D 02 năm 06 tháng tù.
* Kháng nghị phúc thẩm số 316/QĐ-KNPT ngày 23/7/2012 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị phần hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Thanh H, Nguyễn Xuân Cao H, Đặng Thanh P, Phạm Minh D, Đào Thị Thùy D tại bản án hình sự sơ thẩm số 18/2012/HSST ngày 27/6/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định. Đề nghị Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm để: Xử tăng hình phạt tù đối với bị cáo Nguyễn Thanh H, Nguyễn Xuân Cao H, Đặng Thanh P, Phạm Minh D, Đào Thị Thùy D. Áp dụng khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự, phạt hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Thanh H, Nguyễn Xuân Cao H, Đặng Thanh P, Phạm Minh D, Đào Thị Thùy D mội bị cáo từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng.
* Tại bản án hình sự phúc thẩm số 334/2012/HSPT ngày 21/9/2012 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tốic ao tại Đà nẵng, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, sửa bản án sơ thẩm, xử phạt: bị cáo Nguyễn Thanh H 14 năm tù; bị cáo Nguyễn Xuân Cao H, Đặng Thanh P mỗi bị cáo 08 năm tù; bị cáo Phạm Minh D 06 năm tù; Đào Thị Thùy D 03 năm 06 tháng tù (xử tăng mỗi bị cáo 01 năm tù); đồng thời áp dụng khỏan 5 Điều 194 Bộ luật hình sự, phạt bổ sung bằng phạt tiền: bị cáo Nguyễn Thanh H 15.000.000 đồng; các bị cáo Nguyễn Xuân Cao H, Đặng Thanh P, Phạm Minh D, Đào Thị Thùy D mỗi bị cáo 10.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
Thông qua vụ án trên, những vấn đề cần rút kinh nghiệm như sau:
Đây là vụ án rất nghiệm trọng, các bị cáo Nguyễn Thanh H, Nguyễn Xuân Cao H, Đặng Thanh P, Phạm Minh D, Đào Thị Thùy D thực hiện hành vi phạm tội với nhiều tình tiết định khung tăng nặng (phạm tội nhiều lần, Hêrôin có trọng lượng từ 5 đến dưới 30 gam) quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự có khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm, cụ thể: Bị cáo Nguyễn Thanh H mua bán trái phép Hêrôin nhiều lần tổng cộng 11,950 gam, thu lợi bất chính 29.050.000 đồng, bị cáo có 5 tiền án và 3 tiền sự phạm tội lần này thuộc trường hợp: “tái phạm nguy hiểm”. Các bị cáo Nguyễn Xuân Cao H, Đặng Thanh P, Phạm Minh D, Đào Thị Thùy D mua bán trái phép Hêrôin nhiều lần với số lượng trên 5 gam, trong đó: Nguyễn Xuân Cao H thu lợi bất chính 1.700.000 đồng. Phạm Minh D thu lợi bất chính 2.000.000 đồng, Đào Thị Thùy D thu lợi bất chính 6.000.000 đồng.
Tuy vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm khi cân nhắc xem xét để áp dụng hình phạt đối với các bị cáo đã quá nhấn mạnh các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được hưởng nên xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 13 năm tù, các bị cáo Nguyễn Xuân Cao H, Đặng Thanh P mỗi bị cáo 07 năm tù, bị cáo Phạm Minh D 05 năm tù, bị cáo Đào Thùy D 02 năm 06 tháng tù là quá nhẹ, không tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và hậu quả xấu nhiều mặt do các bị cao gây ra, không có tác dụng cải tạo giáo dục các bị cáo cũng như răn đe, phòng ngừa tội phạm; ngoài ra, bản án sơ thẩm không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thanh H, Nguyễn Xuân Cao H, Đặng Thanh P, Phạm Minh D, Đào Thị Thùy D là thiếu sót, chưa thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.
Việc bản án sơ thẩm xử phạt các bị cáo mức án nhẹ và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là khhông đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy đang diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng như hiện nay; đồng thời không thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 01/2005/CT-TA ngày 30/8/2005 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về công tác đấu tranh đối với một số tội phạm gây bức xúc trong tình hình hiện nay, trong đó có các tội phạm về ma túy như: sản xuất. Mua bán, vận chuyển, tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy.
Chỉ thị 01/2005/CT-TA ngày 30/8/2005 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu: “đối với các tội phạm về ma túy, khi xét xử các Tòa án áp dụng hình phạt nghiêm khắc theo khung hình phạt mà điều luật đã qui định; khi xét xử mà theo qui định của Bộ luật hình sự có thể áp dụng hình phạt bổ sung thì kiên quyết áp dụng, đặc biệt là đối với những người phạm các tội ma túy”. Để khắc phục những vi phạm thiếu sót nêu trên của bản án sơ thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã kịp thời kháng nghị phúc thẩm tăng hình phạt tù và áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Thanh H, Nguyễn Xuân Cao H, Đặng Thanh P, Phạm Minh D, Đào Thị Thùy D và đã được Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng chấp nhận toàn bộ kháng nghị.
2. Vụ án Đặng Văn T và đồng bọn phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Nội dung vụ án và quấ trình tố tụng
Trong tháng 10 năm 2011, các bị cáo Đặng Văn T, Bùi Duy M mua 04 lần Hêrôin tổng cộng 6.0444 gam từ thành phố Hồ Chí Minh đem ra thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định bán cho nhiều đối tượng nghiện hút ma túy tổng cộng 5,6304 gam Hêrôin và bị bắt giữ 0.22.8 gam Hêrôin. Đặng Văn T thu lợi bất chính 6.800.000 đồng, Bùi Duy Minh thu lợi bất chính 15.050.000 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 21/2012/HSST ngày 31/7/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định, xử phạt bị cáo Đặng Văn T 10 năm tù, bị cáo Bùi Duy M 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự phạt bổ sung các bị cáo Đặng Văn T và Bùi Duy M mỗi bị cáo 5.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.
Trong hạn luật định bị cáo Đặng Văn T kháng cáo xin giảm hình phạt, đại diện hợp pháp của bị cáo Bùi Duy M kháng cáo xin giảm hình phạt cho bị cáo Bùi Duy M.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 28/9/2012, Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên hình phạt tù của bản án sơ thẩm đối với các bị cáo Đặng Văn T và Bùi Duy M; sửa một phần bản án sơ thẩm, áp dụng khoản 5 Điều 69 Bộ luật hình sự, xử bị cáo Bùi Duy M không phải chịu hình phạt bổ sung 5.000.000 đồng.
Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 337/2012/HSPT ngày 28/9/2012 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng, không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên hình phạt tù của bản án sơ thẩm đối với các bị cáo Đặng Văn T và Bùi Duy M; sửa một phần bản án sơ thẩm, áp dụng khoản 5 Điều 69 Bộ luật hình sự, xử bị cáo Bùi Duy M không phải chịu hình phạt bổ xung 5.000.000 đồng.
Qua vụ án này, những vấn đề cần rút kinh nghiệm như sau:
Việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt bổ sung bằng phạt tiền 5.000.000 đồng đối với bị cáo Bùi Duy M là vi phậm khoản 5 Điều 69 Bộ luật hình sự, bởi lẽ: khi phạm tội bị cáo Bùi Duy M là người chưa thành niên. Khoản 5 Điều 69 Bộ luật hình sự qui định: “…không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội”. Do vậy Bản án sơ thẩm đã vi phậm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luạt hình sự, nhưng Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm không phát hiện được vi phạm này, để báo cáo lãnh đạo Viện kháng nghị phúc thẩm là thiếu sót (khi Viện phúc thẩm 2 nhận được bản án sơ thẩm thì đã quá hạn kháng nghị phúc thẩm).