|

Đồng chí Nguyễn Văn Thắng - Tổng Biên tập
|
|
|
|

Đồng chí Phan Thị Kim Hoa
Phó Tổng Biên tập
|

Đồng chí Vũ Mạnh Hà
Phó Tổng Biên tập
|

Đồng chí Nguyễn Mạnh Hưng
Phó Tổng Biên tập
|
|
|
|
|
QUY CHẾ
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BÁO BẢO VỆ PHÁP LUẬT
(Ban hành kèm theo Quyết định số 21/QĐ-VKSTC ngày 26 tháng 7 năm 2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao)
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Đối tượng, phạm vi điều chỉnh
1. Quy chế này quy định về tổ chức và hoạt động của Báo Bảo vệ pháp luật (sau đây gọi chung là Báo). Ký hiệu là T5.
2. Công chức, viên chức và người lao động; các phòng, Văn phòng đại diện của Báo tại các khu vực (sau đây gọi chung là phòng); các tổ chức, cá nhân có quan hệ làm việc với Báo chịu sự điều chỉnh của Quy chế này.
Điều 2. Vị trí pháp lý
1. Báo là đơn vị cấp vụ thuộc bộ máy làm việc của Viện kiểm sát nhân dân (sau đây viết tắt là VKSND) tối cao.
2. Báo có tư cách pháp nhân, có con dấu, có biểu tượng và tài khoản riêng. Báo được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng theo quy định.
Điều 3. Tôn chỉ, mục đích
Báo thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn với tôn chỉ, mục đích là: “Tuyên truyền chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền về hoạt động tư pháp, thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND trong công tác đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật và tội phạm; phát hiện, biểu dương nhân tố mới, điển hình tiên tiến; tuyên truyền về hoạt động cải cách tư pháp; đấu tranh phòng chống các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng trong xã hội; giới thiệu những kinh nghiệm xây dựng và thi hành pháp luật của các nước nhằm phục vụ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong ngành Kiểm sát nhân dân và độc giả, khán - thính giả trong và ngoài nước”.
Điều 4. Nhiệm vụ, quyền hạn
Báo Bảo vệ pháp luật có nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 26 Thông tư số 04/2025/TT-VKSTC ngày 25/7/2025 của Viện trưởng VKSND tối cao quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị thuộc bộ máy làm việc của VKSND tối cao (sau đây viết tắt là Thông tư số 04/2025/TT-VKSTC).
Điều 5. Nguyên tắc làm việc
1. Báo làm việc theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Mọi hoạt động của Báo phải tuân thủ quy định của pháp luật, quy định và quy chế của ngành Kiểm sát nhân dân (sau đây viết tắt là Ngành). Công chức, viên chức và người lao động thuộc Báo phải thực hiện nhiệm vụ đúng phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn.
2. Bảo đảm tuân thủ trình tự, thủ tục và thời hạn giải quyết công việc theo đúng quy định của pháp luật, chương trình, kế hoạch, lịch làm việc và Quy chế làm việc, trừ trường hợp đột xuất hoặc có yêu cầu khác của Lãnh đạo Viện.
3. Bảo đảm phát huy năng lực và sở trường của công chức, viên chức, người lao động; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành; tăng cường sự phối hợp công tác, trao đổi thông tin trong giải quyết công việc theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định.
4. Bảo đảm dân chủ, minh bạch trong mọi hoạt động gắn với thực hiện chủ trương cải cách hành chính, cải cách công vụ, công chức của Đảng và Nhà nước; bảo vệ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.
Điều 6. Nội quy bảo vệ bí mật nhà nước
Trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ, Lãnh đạo, công chức, viên chức, người lao động trong đơn vị phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, quy định của Ngành về bảo vệ bí mật nhà nước và chấp hành đúng nội quy sau đây:
1. Lãnh đạo, công chức, viên chức, người lao động phải nâng cao ý thức, chủ động phòng ngừa, phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi làm lộ, mất bí mật nhà nước. Mỗi cá nhân chịu trách nhiệm trực tiếp về việc bảo vệ bí mật nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ được giao.
2. Chỉ những người có thẩm quyền và nhiệm vụ mới được tiếp cận, sử dụng bí mật nhà nước. Việc tiếp nhận, soạn thảo, tạo lập, ban hành, phát hành văn bản, tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước; sao chụp, thống kê, lưu giữ, bảo quản, vận chuyển, giao, nhận, mang ra khỏi nơi lưu giữ, cung cấp, chuyển giao văn bản, tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước; tổ chức hội nghị, hội thảo chứa nội dung bí mật nhà nước; điều chỉnh độ mật, giải mật, tiêu hủy văn bản, tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định và quy trình bảo mật.
3. Văn bản, tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước phải được bảo quản an toàn trong các thiết bị chuyên dụng. Tuyệt đối không lưu trữ, truyền đưa bí mật nhà nước qua các phương tiện, hệ thống không an toàn (mạng công cộng, thiết bị cá nhân không được kiểm soát).
4. Khi phát hiện hoặc nghi ngờ có dấu hiệu làm lộ, mất bí mật nhà nước, phải báo cáo ngay cho lãnh đạo đơn vị để xử lý. Trường hợp để xảy ra vi phạm thì tùy tính chất, mức độ có thể bị xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật, quy chế, quy định của VKSND tối cao.
Chương II
TỔ CHỨC BỘ MÁY, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA CÁC PHÒNG VÀ CỦA CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC VÀ NGƯỜI LAO ĐỘNG
Điều 7. Tổ chức bộ máy, biên chế
1. Lãnh đạo Báo gồm: Tổng Biên tập và các Phó Tổng Biên tập.
2. Các phòng:
a) Phòng Phóng viên đa phương tiện;
b) Phòng Thư ký - Biên tập;
c) Phòng Truyền thông;
d) Phòng Trị sự - Hành chính;
đ) Phòng Truyền hình Kiểm sát;
e) Văn phòng đại diện của Báo tại các khu vực.
Việc thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể các phòng, Văn phòng đại diện của Báo tại các khu vực do Viện trưởng VKSND tối cao quyết định trên cơ sở đề nghị của Tổng Biên tập và Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ.
Vì lợi ích chung của đơn vị, trong trường hợp cần thiết, Tổng Biên tập quyết định cử phóng viên thường trú tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trên cơ sở được phân cấp của Viện trưởng VKSND tối cao.
3. Cơ cấu biên chế và các chức danh:
a) Tổng Biên tập và các Phó Tổng Biên tập;
b) Các Trưởng phòng và tương đương;
c) Các Phó Trưởng phòng và tương đương;
d) Viên chức và người lao động theo quy định của pháp luật và của Ngành.
Căn cứ vào tình hình thực tiễn, hàng năm, Báo tiến hành kiểm tra, sát hạch trình độ, năng lực của viên chức, người lao động phù hợp với vị trí, việc làm, bảo đảm bộ máy làm việc hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ chính trị.
Số lượng biên chế và hợp đồng lao động của Báo thực hiện theo quyết định phê duyệt của Viện trưởng VKSND tối cao trong từng giai đoạn.
Điều 8. Nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng Phóng viên đa phương tiện
Phòng Phóng viên đa phương tiện có nhiệm vụ, quyền hạn giúp Tổng Biên tập thực hiện các công tác sau đây:
1. Xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động của Báo khi thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn về công tác tuyên truyền quy định tại Thông tư 04/2025/TT-VKSTC.
2. Phối hợp Phòng Thư ký - Biên tập xây dựng kế hoạch, chủ đề của các số báo in trong tuần, tháng; phối hợp các đơn vị thuộc Báo trong việc xử lý tin, bài, video clip, chương trình Truyền hình Kiểm sát và thực hiện việc đăng thông tin, quảng cáo theo quy định của pháp luật. Thiết kế, dựng video clip, hình ảnh phù hợp với quy chuẩn của báo điện tử và quản trị mạng.
3. Thực hiện công tác bạn đọc; tiếp nhận, biên tập, thẩm định, đăng tin, bài, ảnh, video clip trên Báo điện tử Bảo vệ pháp luật theo đúng quy định của pháp luật về báo chí và các quy chế xuất bản của Báo.
4. Tổ chức thực hiện các hoạt động nghiệp vụ báo chí để thu thập thông tin, viết tin, bài, ảnh, sản xuất video clip theo kế hoạch, đề cương phê duyệt của Lãnh đạo Báo.
5. Thường trực Tổ công nghệ thông tin - chuyển đổi số của Báo; phụ trách phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin - Chuyển đổi số của toà soạn; quản trị hệ thống CMS của Báo điện tử Bảo vệ pháp luật.
6. Thực hiện công tác báo cáo định kỳ, đột xuất của phòng đúng quy định.
7. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Lãnh đạo Báo giao.
Điều 9. Nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng Thư ký - Biên tập
Phòng Thư ký - Biên tập có nhiệm vụ, quyền hạn giúp Tổng Biên tập thực hiện các công tác sau đây:
1. Tham mưu, đề xuất Lãnh đạo Báo việc trình bày các ấn phẩm của Báo in; phối hợp chặt chẽ với Phòng Phóng viên đa phương tiện và các phòng dự thảo đề cương tuyên truyền theo chủ đề, số báo, tháng, quý, năm.
2. Tiếp nhận tin, bài, ảnh (gọi chung là bài) từ các đơn vị đầu mối thuộc Báo và các cộng tác viên gửi đến; thực hiện quy trình xử lý tin bài theo quy định; theo dõi in ấn; lưu trữ bài gốc; xây dựng đội ngũ cộng tác viên viết bài trong và ngoài Ngành.
3. Thực hiện việc tổ chức biên tập; thẩm định nguồn, tính pháp lý của bài; sửa morat; dự thảo các văn bản trả lời các bên liên quan về các nội dung khiếu nại báo chí trình Lãnh đạo Báo theo đúng quy định của pháp luật, quy định của Ngành về báo chí.
4. Hướng dẫn, đôn đốc các đơn vị thuộc Báo và các cộng tác viên trong việc tuyên truyền, nâng cao chất lượng các số báo và thực hiện đúng tiến độ, chất lượng các đề cương đã được Lãnh đạo Báo duyệt.
5. Thực hiện công tác báo cáo định kỳ, đột xuất của phòng đúng quy định.
6. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác do Lãnh đạo Báo giao.
Điều 10. Nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng Truyền thông
Phòng Truyền thông có nhiệm vụ, quyền hạn giúp Tổng Biên tập thực hiện các công tác sau đây:
1. Xây dựng dự thảo kế hoạch, phương án phát hành, khai thác quảng cáo, tuyên truyền, hỗ trợ, tài trợ cho Báo theo định kỳ hàng năm, quý, tháng.
2. Dự thảo hợp đồng, thư mời, biểu giá và các hồ sơ liên quan đến việc phát hành báo và thông tin, quảng cáo bảo đảm, đúng quy định pháp luật, quy định của Ngành và của Báo.
3. Tổ chức, triển khai và hướng dẫn, đôn đốc các đơn vị thuộc Báo thực hiện kế hoạch phát hành - quảng cáo đã được Lãnh đạo Báo duyệt; quản lý thu hồi công nợ phát hành - quảng cáo; xây dựng đội ngũ cộng tác viên phát hành, quảng cáo; chấp hành quy định của pháp luật về quảng cáo.
4. Thực hiện viết bài, sản xuất video clip; tổ chức hội nghị, hội thảo truyền thông chính sách, quảng cáo bảo đảm thực chất, hiệu quả, tăng nguồn thu theo đúng quy định của pháp luật, của Ngành, của Báo.
5. Thực hiện công tác báo cáo định kỳ, đột xuất của phòng đúng quy định.
6. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác do Lãnh đạo Báo giao.
Điều 11. Nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng Trị sự - Hành chính
Phòng Trị sự - Hành chính có nhiệm vụ, quyền hạn giúp Tổng Biên tập thực hiện các công tác sau đây:
1. Công tác tham mưu, tổng hợp, hành chính, gồm:
a) Xây dựng chương trình, kế hoạch công tác của Báo theo Quy chế thông tin báo cáo của Ngành và Chỉ thị của Viện trưởng VKSND tối cao về công tác của ngành Kiểm sát nhân dân hàng năm;
b) Xây dựng chương trình, kế hoạch, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ công tác của các đơn vị thuộc Báo;
c) Xây dựng các loại báo cáo định kỳ: tuần, tháng, quý, năm; báo cáo thống kê và báo cáo khác do Lãnh đạo VKSND tối cao, Lãnh đạo Báo yêu cầu;
d) Tham gia xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về báo chí;
đ) Chuẩn bị nội dung các buổi giao ban hàng tháng, các cuộc họp đột xuất, ghi biên bản các cuộc họp của Lãnh đạo Báo;
e) Thực hiện các công tác về tổ chức cán bộ; hậu cần, quản trị; văn thư lưu trữ và thi đua - khen thưởng;
g) Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Lãnh đạo Báo giao.
2. Công tác tài chính kế toán, gồm:
a) Xây dựng dự toán tài chính theo định kỳ của Báo; các phương án sản xuất kinh doanh; báo cáo tài chính theo quy định;
b) Thực hiện nhiệm vụ về thu - chi tài chính theo quy định của Nhà nước, của Ngành và của Báo;
c) Tham mưu việc sử dụng các nguồn tài chính, tài sản và cơ sở vật chất được giao theo quy định của pháp luật, của Ngành và của Bộ Tài chính;
d) Kiểm tra, hướng dẫn, giám sát và quyết toán các khoản thu, chi tài chính, công nợ phải thu, phải trả của các đơn vị thuộc Báo; kịp thời chi trả quyền lợi của người khai thác truyền thông, quảng cáo khi tiền đã nộp đầy đủ về tài khoản của Báo theo đúng quy định.
Điều 12. Nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng Truyền hình Kiểm sát
Phòng Truyền hình Kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn giúp Tổng Biên tập thực hiện các công tác sau đây:
1. Tham mưu xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình truyền hình định kỳ hàng tháng, đề xuất nội dung đề tài báo cáo Lãnh đạo Báo, gửi cơ quan hợp tác để xếp lịch phát sóng.
2. Trực tiếp tổ chức sản xuất các chương trình Truyền hình theo kế hoạch đã được phê duyệt để phát sóng trên kênh của các cơ quan hợp tác; đồng thời viết tin, bài, ảnh, sản xuất video clip đăng tải trên các ấn phẩm của Báo Bảo vệ pháp luật.
3. Phối hợp sản xuất các chương trình theo sự chỉ đạo của Lãnh đạo VKSND tối cao, Ban chỉ đạo công tác tuyên truyền ngành Kiểm sát nhân dân và các hợp đồng dịch vụ truyền thông.
4. Phối hợp với Phòng Trị sự - Hành chính quản lý và trực tiếp vận hành, khai thác hệ thống trang thiết bị kỹ thuật chuyên dùng để sản xuất chương trình truyền hình bảo đảm an toàn, hiệu quả.
5. Thực hiện công tác lưu trữ tư liệu về truyền hình. Xây dựng đội ngũ cộng tác viên Truyền hình Kiểm sát thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, các quy chế, quy định của Ngành và của Báo.
6. Quản lý hành chính, chấp hành kỷ luật lao động, chế độ làm việc của đơn vị; thực hiện chế độ báo cáo định kỳ, đột xuất theo quy định.
7. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác do Lãnh đạo Báo giao.
Điều 13. Nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng đại diện của Báo tại các khu vực
Văn phòng đại diện của Báo tại các khu vực có nhiệm vụ, quyền hạn giúp Tổng Biên tập thực hiện các công tác sau đây:
1. Căn cứ vào sự chỉ đạo, hoặc kế hoạch công tác tuần, tháng, quý, năm của Báo, Văn phòng đại diện của Báo tại các khu vực tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền theo quy định.
2. Tổ chức thực hiện các hoạt động nghiệp vụ báo chí để thu thập thông tin, viết bài; sản xuất video clip theo sự chỉ đạo, hoặc theo kế hoạch, đề cương phê duyệt của Lãnh đạo Báo; là đầu mối phối hợp tuyên truyền với các đơn vị VKSND trên địa bàn; chủ động, kịp thời tuyên truyền, phản ánh về hoạt động của VKSND các cấp và các vấn đề, sự kiện thời sự trên địa bàn; thực hiện công tác bạn đọc theo sự phân cấp của Lãnh đạo Báo.
3. Tổ chức, triển khai thực hiện kế hoạch phát hành, quảng cáo bảo đảm hoàn thành định mức, chỉ tiêu được giao; thu hồi công nợ phát hành, quảng cáo thuộc trách nhiệm của Văn phòng đại diện của Báo tại các khu vực thực hiện.
4. Xây dựng đội ngũ cộng tác viên viết bài, khai thác quảng cáo bảo đảm thực chất, hiệu quả, đúng quy định của pháp luật, quy chế của Ngành, của Báo.
5. Thực hiện công việc về hành chính, văn thư, lưu trữ, quản trị của Văn phòng đại diện theo quy định.
6. Thực hiện công tác báo cáo định kỳ, đột xuất của Văn phòng đại diện theo quy định.
7. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác do Lãnh đạo Báo giao.
Điều 14. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng Biên tập
1. Tổng Biên tập là thủ trưởng đơn vị, chịu trách nhiệm trước Viện trưởng VKSND tối cao quản lý, chỉ đạo và điều hành mọi hoạt động của đơn vị.
2. Tổng Biên tập có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Quản lý, chỉ đạo, điều hành Báo thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn theo đúng quy định của pháp luật, Luật Tổ chức VKSND, các quy chế, quy định của VKSND tối cao và các văn bản, quy định có liên quan; trong xử lý những vấn đề có tính phức tạp, nhạy cảm về chính trị, pháp luật phải chủ động báo cáo kịp thời Viện trưởng VKSND tối cao.
b) Phân công công việc, ủy quyền cho các Phó Tổng Biên tập của Báo, cho lãnh đạo Phòng thuộc Báo thực hiện một số công việc cụ thể theo quy định của pháp luật, quy định của VKSND tối cao; chủ động phối hợp với các đơn vị, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để xử lý các vấn đề có liên quan đến nhiệm vụ của Báo hoặc các vấn đề do Lãnh đạo Viện phân công;
c) Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của các đơn vị trực thuộc Báo thực hiện nhiệm vụ được phân công;
d) Ký các văn bản thuộc thẩm quyền của Tổng Biên tập.
3. Tổng Biên tập là chủ tài khoản, chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ công tác quản lý, sử dụng tài chính và tài sản của Báo; thực hiện quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm công khai, minh bạch về tài chính theo quy định của pháp luật; chấp hành các quy định về kế toán và kiểm toán.
4. Phạm vi giải quyết công việc của Tổng Biên tập:
a) Những công việc thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật, Quy chế tổ chức và hoạt động của Báo, các quy định của ngành Kiểm sát nhân dân và những công việc quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Những công việc được Lãnh đạo Viện giao hoặc ủy quyền;
c) Trực tiếp giải quyết những việc tuy đã giao cho Phó Tổng Biên tập, nhưng do thấy cần thiết vì nội dung vấn đề cấp bách hoặc quan trọng, hay do Phó Tổng Biên tập đi công tác vắng; những việc liên quan đến từ hai Phó Tổng Biên tập trở lên nhưng các Phó Tổng Biên tập có ý kiến khác nhau.
5. Tổng Biên tập tổ chức thảo luận tập thể Lãnh đạo Báo trước khi quyết định những công việc sau đây:
a) Chương trình công tác, kế hoạch, xây dựng quy định, quy chế và các văn bản ban hành liên quan đến chế độ người lao động, dự thảo các văn bản quan trọng trình Lãnh đạo Viện;
b) Triển khai các chủ trương, chính sách quan trọng của Đảng, Nhà nước, các văn bản quan trọng của Ngành;
c) Các chương trình công tác trọng điểm của Báo;
d) Công tác tổ chức bộ máy và nhân sự của Báo theo quy định;
e) Dự toán sử dụng các nguồn kinh phí được phân bổ (nếu có) hàng năm của Báo;
f) Báo cáo về tình hình thực hiện chương trình, kế hoạch và kiểm điểm sự chỉ đạo điều hành của Báo;
g) Những vấn đề khác mà Tổng Biên tập thấy cần thiết phải đưa ra thảo luận.
Trong trường hợp không có điều kiện tổ chức thảo luận tập thể, theo chỉ đạo của Tổng Biên tập, Phòng Trị sự - Hành chính chủ trì lấy ý kiến các Phó Tổng Biên tập, tập hợp trình Tổng Biên tập quyết định.
Sau khi các Phó Tổng Biên tập đã có ý kiến, Tổng Biên tập là người đưa ra quyết định cuối cùng và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
Điều 15. Nhiệm vụ, quyền hạn của Phó Tổng Biên tập
1. Phó Tổng Biên tập có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
Phó Tổng Biên tập giúp việc cho Tổng Biên tập, được Tổng Biên tập phân công phụ trách một số phòng, lĩnh vực công tác; ký thay Tổng Biên tập khi giải quyết các công việc thuộc lĩnh vực được phân công; chịu trách nhiệm trước Tổng Biên tập và pháp luật về quyết định và kết quả công tác của phòng, lĩnh vực được phân công phụ trách;
Khi Tổng Biên tập điều chỉnh sự phân công giữa các Phó Tổng Biên tập thì các Phó Tổng Biên tập phải bàn giao nội dung công việc, hồ sơ, tài liệu liên quan cho nhau và báo cáo Tổng Biên tập.
2. Phạm vi giải quyết công việc của Phó Tổng Biên tập:
a) Chỉ đạo việc thực hiện công tác quản lý, xây dựng kế hoạch, các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo, điều hành và văn bản quản lý khác trong lĩnh vực được Tổng Biên tập phân công;
b) Chỉ đạo kiểm tra việc triển khai thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi được phân công, phát hiện và đề xuất những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung;
c) Chủ động giải quyết công việc được phân công, nếu có vấn đề liên quan đến lĩnh vực của Phó Tổng Biên tập khác thì trực tiếp phối hợp với Phó Tổng Biên tập đó để giải quyết. Trường hợp cần có ý kiến của Tổng Biên tập hoặc giữa các Phó Tổng Biên tập còn có các ý kiến khác nhau, phải báo cáo Tổng Biên tập quyết định;
d) Đối với những vấn đề thuộc về chủ trương hoặc có tính nguyên tắc mà chưa có văn bản quy định hoặc những vấn đề quan trọng khác thì Phó Tổng Biên tập phải xin ý kiến của Tổng Biên tập trước khi quyết định.
3. Trong trường hợp Tổng Biên tập vắng mặt, Phó Tổng Biên tập được giao quản lý điều hành đơn vị ngoài việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên theo phạm vi được phân công, còn có quyền hạn và nhiệm vụ sau:
a) Được Tổng Biên tập ủy quyền thay mặt Tổng Biên tập, chỉ đạo giải quyết các công việc chung của Báo và ký văn bản thay Tổng Biên tập;
b) Được Tổng Biên tập ủy quyền chủ trì việc phối hợp hoạt động giữa các Phó Tổng Biên tập và trực tiếp theo dõi, chỉ đạo hoạt động của Báo;
c) Giải quyết một số công việc cấp bách của Phó Tổng Biên tập khác khi Phó Tổng Biên tập đó vắng mặt theo ủy quyền của Tổng Biên tập;
d) Báo cáo với Tổng Biên tập kết quả giải quyết công việc trong thời gian được giao quản lý đơn vị.
Điều 16. Nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng phòng (hoặc tương đương)
1. Chủ động tổ chức thực hiện công việc thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng; chịu trách nhiệm trước Lãnh đạo Báo về kết quả thực hiện công việc được giao; thực hiện đầy đủ chế độ thông tin, báo cáo theo quy định của Ngành và của Báo.
2. Những việc phát sinh vượt quá thẩm quyền phải kịp thời báo cáo Tổng Biên tập hoặc Phó Tổng Biên tập phụ trách cho ý kiến chỉ đạo để giải quyết; không tự ý chuyển công việc thuộc nhiệm vụ, thẩm quyền của phòng mình sang phòng khác hoặc lên Lãnh đạo Báo; không tự ý giải quyết công việc thuộc nhiệm vụ, thẩm quyền của phòng khác.
3. Chủ động phối hợp với các Trưởng phòng khác để xử lý những vấn đề có liên quan đến những công việc thuộc chức năng, nhiệm vụ của phòng và thực hiện nhiệm vụ chung của Báo.
4. Đề xuất với Lãnh đạo Báo về việc thực hiện chính sách cán bộ; quản lý phóng viên thường trú ở các địa phương theo sự phân cấp của Lãnh đạo Báo.
5. Kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ trong phòng theo hướng dẫn của Báo; phân công công tác cho Phó Trưởng phòng và các cán bộ nhân viên thuộc quyền quản lý.
6. Khi vắng mặt phải ủy quyền cho Phó Trưởng phòng quản lý, điều hành phòng; vắng từ 1 ngày làm việc trở lên phải báo cáo Tổng Biên tập hoặc Phó Tổng Biên tập phụ trách bằng văn bản.
7. Điều hành hoạt động của phòng chấp hành đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của VKSND tối cao và của Báo.
8. Trưởng Văn phòng đại diện của Báo tại các khu vực trực tiếp tiếp công dân, bạn đọc và tham mưu, xử lý đơn thư theo sự uỷ quyền của Tổng Biên tập.
9. Trưởng phòng chịu trách nhiệm chính về chất lượng, hiệu quả và tiến độ của công việc được phân công.
10. Thực hiện những nhiệm vụ khác do Tổng Biên tập hoặc Phó Tổng Biên tập giao.
Điều 17. Nhiệm vụ, quyền hạn của Phó Trưởng phòng (hoặc tương đương)
1. Phó Trưởng phòng thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công và ủy nhiệm của Trưởng phòng và Lãnh đạo Báo.
2. Phó Trưởng phòng có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Giúp Trưởng phòng xây dựng chương trình công tác của phòng;
b) Thực hiện công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành trong phòng theo sự phân công của Trưởng phòng;
c) Trực tiếp nghiên cứu góp ý kiến xây dựng chuyên đề, xây dựng các loại báo cáo, góp ý hướng dẫn nghiệp vụ;
d) Trực tiếp nghiên cứu, đề xuất giải quyết các công việc của phòng;
e) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công của Trưởng phòng và Lãnh đạo Báo.
3. Phó trưởng phòng vắng mặt phải xin phép Trưởng phòng; vắng từ 1 ngày làm việc trở lên phải báo cáo Tổng Biên tập hoặc Phó Tổng Biên tập phụ trách bằng văn bản.
Điều 18. Nhiệm vụ, quyền hạn của viên chức và người lao động
1. Chủ động nghiên cứu, tham mưu, đề xuất về lĩnh vực chuyên môn được phân công theo dõi, thực hiện các công việc được Trưởng phòng hoặc Lãnh đạo Báo giao theo chức năng, nhiệm vụ chuyên môn của phòng.
Phải tự giác học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, bảo đảm đủ điều kiện, tiêu chuẩn, phù hợp với vị trí, việc làm khi sắp xếp, tinh gọn bộ máy làm việc của đơn vị; chấp hành nghiêm túc việc kiểm tra, sát hạch trình độ, năng lực định kỳ hàng năm của Báo.
2. Chịu trách nhiệm cá nhân trước Lãnh đạo Phòng, trước Lãnh đạo Báo và trước pháp luật về ý kiến đề xuất, tiến độ, chất lượng, hiệu quả của từng công việc được giao; về hình thức, thể thức, trình tự và thủ tục ban hành văn bản và quy trình giải quyết công việc được phân công theo dõi.
3. Thực hiện các quy định của pháp luật về viên chức, về nghiệp vụ được phân công đảm trách và các quy định của Ngành, của Báo và của Phòng.
Chương III
CHẾ ĐỘ CÔNG TÁC
Mục 1
CHƯƠNG TRÌNH CÔNG TÁC
Điều 19. Các loại chương trình công tác
1. Chương trình công tác năm:
a) Yêu cầu:
- Những công việc đăng ký trong chương trình công tác năm của Báo phải thể hiện kết hợp giữa các nhiệm vụ nêu trong các văn bản, ý kiến chỉ đạo của cấp trên với sự chủ động đề xuất của đơn vị. Mỗi công việc cần xác định rõ nội dung chính; đơn vị chủ trì, đơn vị phối hợp, người phụ trách cấp trình, thời hạn trình từng cấp và thời hạn hoàn thành;
- Các phòng phải chịu trách nhiệm về nội dung và tiến độ chuẩn bị thực hiện công việc mà mình đề xuất đưa vào chương trình công tác của Báo.
b) Phân công thực hiện:
- Phòng Trị sự - Hành chính chủ trì phối hợp với các phòng liên quan xây dựng chương trình công tác năm của Báo theo đúng tiến độ, yêu cầu của Lãnh đạo VKSND tối cao, của Lãnh đạo Báo;
- Các phòng phải có ý kiến chính thức bằng văn bản gửi Phòng Trị sự - Hành chính để tổng hợp xin ý kiến chỉ đạo của Tổng Biên tập. Việc góp ý của các Phòng có thể được thực hiện bằng thư điện tử, phải bảo đảm an ninh, an toàn. Phòng Trị sự - Hành chính giúp Tổng Biên tập tham khảo ý kiến của các Phó Tổng Biên tập để thông qua Chương trình công tác năm của Báo;
- Tổng Biên tập ký ban hành và gửi các đơn vị liên quan, các phòng thuộc Báo để thực hiện;
Ngoài việc thực hiện theo các quy định tại Quy chế này, còn phải thực hiện theo quy định của các văn bản có liên quan.
2. Chương trình công tác quý:
a) Yêu cầu: Những công việc ghi trong chương trình công tác quý của Báo phải xác định rõ nội dung chính, phòng chủ trì, phòng phối hợp, người phụ trách, trình Lãnh đạo Viện hay Lãnh đạo Báo quyết định, thời hạn trình và thời hạn hoàn thành.
b) Thời hạn và phân công thực hiện:
- Chậm nhất là ngày 15 của tháng cuối quý, các phòng phải gửi dự kiến chương trình công tác quý sau cho Phòng Trị sự - Hành chính. Những công việc bổ sung hoặc có sự điều chỉnh về thời gian thì phải có văn bản báo cáo Lãnh đạo Báo. Quá thời hạn trên, phòng nào không gửi coi như phòng đó không có nhu cầu điều chỉnh;
- Chậm nhất là ngày 20 của tháng cuối quý, Phòng Trị sự - Hành chính tổng hợp chương trình công tác quý sau của Báo, trình Tổng Biên tập xem xét, quyết định.
3. Chương trình công tác tháng:
Hàng tháng, các phòng căn cứ chương trình công tác quý để xây dựng và triển khai thực hiện chương trình công tác tháng theo quy định và tiến độ.
4. Chương trình công tác tuần:
a) Căn cứ chương trình công tác tháng và sự chỉ đạo của Tổng Biên tập, Lãnh đạo các Phòng báo cáo bằng văn bản kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác tuần và dự kiến công tác tuần tới trình Lãnh đạo Báo duyệt và gửi Phòng Trị sự - Hành chính để tổng hợp sáng Thứ Hai hàng tuần;
b) Khi có sự thay đổi chương trình công tác tuần của Lãnh đạo Báo, Phòng Trị sự - Hành chính kịp thời thông báo cho các phòng và thông báo cho các cá nhân liên quan biết.
5. Chương trình công tác của các phòng thuộc Báo:
a) Căn cứ chương trình công tác của Báo và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, các phòng nghiên cứu cách thức, phương pháp triển khai, tổ chức thực hiện. Xác định rõ trách nhiệm đến từng công chức, viên chức, người lao động trong phòng; đồng thời thể hiện rõ lịch trình thực hiện công việc, bảo đảm tiến độ theo chương trình công tác của Báo;
b) Trưởng phòng có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc, tạo điều kiện để phòng hoàn thành chương trình, kế hoạch công tác. Trường hợp do những khó khăn chủ quan, khách quan không hoàn thành được công việc theo tiến độ, kế hoạch đã định, phải kịp thời báo cáo Phó Tổng Biên tập phụ trách lĩnh vực và thông báo cho Phòng Trị sự - Hành chính biết để điều chỉnh chung và tìm giải pháp khắc phục.
Điều 20. Theo dõi và đánh giá kết quả thực hiện chương trình công tác
1. Hàng tháng, hàng quý, sáu tháng và hàng năm, các Trưởng phòng chủ động rà soát, thống kê đánh giá việc thực hiện chương trình công tác của phòng, gửi Phòng Trị sự - Hành chính để tổng hợp, báo cáo Tổng Biên tập về kết quả xử lý các công việc được giao, những công việc còn tồn đọng, hướng xử lý tiếp theo, kiến nghị việc điều chỉnh, bổ sung chương trình công tác thời gian tới.
2. Phòng Trị sự - Hành chính có nhiệm vụ thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chương trình công tác của các phòng thuộc Báo; hàng tháng, hàng quý, 6 tháng và cuối năm có báo cáo kết quả thực hiện chương trình công tác của Báo. Kết quả thực hiện chương trình công tác phải được coi là một tiêu chí quan trọng để xem xét, đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ của mỗi phòng.
Mục 2
TRÌNH TỰ GIẢI QUYẾT CÔNG VIỆC CỦA LÃNH ĐẠO BÁO
Điều 21. Cách thức giải quyết công việc của Lãnh đạo Báo
1. Tổng Biên tập, Phó Tổng Biên tập xem xét, giải quyết công việc trên cơ sở giao nhiệm vụ trực tiếp cho các phòng, các phòng báo cáo việc giải quyết công việc trực tiếp hoặc bằng “Phiếu đề xuất giải quyết công việc” theo mẫu của Báo.
2. Tổng Biên tập, Phó Tổng Biên tập chủ trì họp, làm việc với lãnh đạo các phòng liên quan để tham khảo ý kiến trước khi giải quyết những vấn đề quan trọng, cần thiết mà chưa xử lý ngay được bằng cách thức quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Các cách thức giải quyết khác theo quy định tại Quy chế này như đi công tác và xử lý công việc tại cơ sở, làm việc trực tiếp với các phòng thuộc phạm vi phụ trách, tiếp khách và các phương thức khác do Tổng Biên tập quy định hoặc ủy quyền.
Điều 22. Thủ tục trình giải quyết công việc
1. Thủ tục trình Tổng Biên tập, Phó Tổng Biên tập giải quyết công việc:
a) Văn bản, tờ trình Lãnh đạo Viện phải do lãnh đạo phòng xây dựng, ký kiểm tra/ký nháy; Lãnh đạo Báo kiểm tra và trình Lãnh đạo Viện;
b) Đối với những vấn đề có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của phòng khác, trong tài liệu trình nhất thiết phải có ý kiến chính thức bằng văn bản của các phòng liên quan;
c) Tài liệu trình đối với các văn bản
Tờ trình phải thuyết minh rõ nội dung chính, luận cứ của các kiến nghị, các ý kiến khác nhau. Báo cáo giải trình việc tiếp thu ý kiến tham gia của các đơn vị có liên quan, kể cả ý kiến tư vấn khác (nếu có). Các tài liệu cần thiết khác.
2. Văn bản đề xuất giải quyết công việc phải thể hiện rõ, đầy đủ, trung thành ý kiến của các đơn vị, kể cả ý kiến khác nhau; ý kiến đề xuất của người trực tiếp theo dõi và ý kiến của lãnh đạo phòng. Văn bản đề xuất giải quyết công việc phải kèm theo đầy đủ tài liệu.
3. Các công văn, tờ trình đề nghị giải quyết công việc chỉ gửi 1 bản chính đến đơn vị có thẩm quyền giải quyết. Nếu cần gửi đến các đơn vị có liên quan để biết hoặc phối hợp thì chỉ ghi tên các đơn vị đó ở phần “Nơi nhận” của văn bản.
4. Đối với các cơ quan, tổ chức không thuộc sự quản lý của Báo thì thực hiện thủ tục gửi công văn đến đơn vị theo quy định hiện hành của pháp luật về công tác văn thư.
Điều 23. Trách nhiệm của Phòng Trị sự - Hành chính trong việc trình Lãnh đạo Báo giải quyết công việc
1. Phòng Trị sự - Hành chính chỉ trình Tổng Biên tập, Phó Tổng Biên tập những vấn đề thuộc phạm vi giải quyết của Tổng Biên tập, Phó Tổng Biên tập khi có đủ thủ tục và hồ sơ quy định.
2. Khi nhận được hồ sơ, tài liệu của các nơi gửi trình Tổng Biên tập, Phó Tổng Biên tập, phòng có nhiệm vụ:
Vào Sổ Công văn đến theo quy định, trong thời gian không quá 2 ngày làm việc, Phòng Trị sự - Hành chính trình Tổng Biên tập, Phó Tổng Biên tập biết.
3. Hồ sơ trình Lãnh đạo Báo phải lập danh mục để theo dõi quá trình xử lý.
4. Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày phòng trình, Tổng Biên tập, Phó Tổng Biên tập có trách nhiệm xử lý hồ sơ trình và có ý kiến chính thức vào Phiếu đề xuất.
Mục 3
TỔ CHỨC CÁC HỘI NGHỊ VÀ CUỘC HỌP
Điều 24. Các loại hội nghị và cuộc họp
Căn cứ yêu cầu công việc và phạm vi lĩnh vực công tác, Báo tổ chức các hội nghị và cuộc họp trên nguyên tắc thiết thực, hiệu quả, tiết kiệm.
1. Các hội nghị gồm: Hội nghị triển khai công tác năm, 6 tháng, hội nghị chuyên đề (triển khai, sơ kết, tổng kết một hoặc một số chuyên đề), hội nghị tập huấn công tác chuyên môn.
2. Các cuộc họp do Lãnh đạo Báo chủ trì, gồm:
- Họp giao ban Lãnh đạo Báo thường kỳ: tháng, quý, họp đột xuất. Lãnh đạo Báo họp với các đơn vị được phân công phụ trách theo yêu cầu công tác;
- Họp giao ban Báo; họp theo quy chế phối hợp công tác giữa Đảng ủy và Ban Biên tập Báo;
- Lãnh đạo Báo họp, làm việc với lãnh đạo các đơn vị thuộc VKSND tối cao hoặc với các cơ quan, đơn vị hữu quan;
- Lãnh đạo Báo họp, làm việc với Lãnh đạo Viện kiểm sát quân sự các cấp, và VKSND các cấp;
- Họp tập thể Lãnh đạo Báo, các cuộc họp khác để giải quyết công việc.
3. Các cuộc họp do Trưởng phòng (hoặc Phó Trưởng phòng được uỷ quyền) chủ trì:
- Các phòng tổ chức các cuộc họp phòng để giải quyết các công việc chuyên môn và các công việc khác theo chức năng, nhiệm vụ của mỗi phòng đã được quy định;
- Lãnh đạo phòng có thể tham gia các cuộc họp, làm việc với đại diện các đơn vị liên quan theo chỉ đạo của Lãnh đạo Báo.
Điều 25. Công tác chuẩn bị hội nghị, họp
1. Duyệt chủ trương
a) Tổng Biên tập quyết định các cuộc họp sau:
- Hội nghị chuyên đề; tập huấn (thuộc lĩnh vực Tổng Biên tập chủ trì);
- Họp giao ban Lãnh đạo Báo thường kỳ, đột xuất;
- Họp giao ban Báo;
- Họp giao ban với một hoặc một số phòng;
- Họp tập thể Lãnh đạo VKSND, các cuộc họp khác để giải quyết công việc;
- Lãnh đạo Báo họp, làm việc với Lãnh đạo Viện kiểm sát quân sự các cấp và VKSND các cấp.
b) Phó Tổng Biên tập quyết định chủ trương các cuộc họp thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách, gồm:
- Giao ban với các phòng phụ trách;
- Họp, làm việc tại các đơn vị, địa phương;
- Các cuộc họp khác để giải quyết công việc do Phó Tổng Biên tập chủ trì.
c) Trưởng phòng quyết định các cuộc họp do phòng chủ trì để giải quyết các công việc chuyên môn và các công việc khác theo chức năng, nhiệm vụ.
2. Xây dựng kế hoạch tổ chức hội nghị:
Phòng Trị sự - Hành chính phối hợp với phòng chủ trì chuẩn bị nội dung chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch tổ chức hội nghị để báo cáo Lãnh đạo Báo, trình Lãnh đạo Viện quyết định về:
- Nội dung hội nghị, phân công chuẩn bị các báo cáo;
- Thành phần, thời gian, địa điểm họp;
- Dự trù kinh phí (nội dung chi, nguồn tài chính);
- Dự kiến thành lập Ban tổ chức hội nghị (nếu có);
- Dự kiến chương trình hội nghị;
- Các vấn đề cần thiết khác.
3. Chuẩn bị và thông qua báo cáo:
a) Phòng Trị sự - Hành chính thông báo cho các phòng liên quan biết các báo cáo chính, báo cáo tóm tắt và các tài liệu cần phải chuẩn bị. Phòng chủ trì nội dung được phân công dự thảo và trình Tổng Biên tập, Phó Tổng Biên tập phụ trách lĩnh vực duyệt báo cáo và các tài liệu cần thiết khác. Trưởng phòng được phân công có trách nhiệm kiểm tra kỹ về nội dung, hình thức các báo cáo, tài liệu trước khi trình Lãnh đạo Báo duyệt;
b) Thời hạn trình Lãnh đạo Báo duyệt báo cáo:
- Báo cáo chính phải gửi Phòng Trị sự - Hành chính trước ngày hội nghị ít nhất 7 ngày làm việc để Lãnh đạo Báo xem xét kịp hoàn tất các thủ tục trình Lãnh đạo Viện phê duyệt;
- Các chương trình phải thông qua tại cuộc họp Lãnh đạo Báo thường kỳ hàng tháng và phải gửi đến Lãnh đạo Báo trước ngày họp 2 ngày làm việc;
- Các báo cáo chuyên đề cần Lãnh đạo Báo phụ trách lĩnh vực duyệt phải gửi trước ngày họp 1 ngày;
c) Đối với hội nghị Ngành có nội dung liên quan đến nhiều đơn vị, Phòng Trị sự - Hành chính có trách nhiệm đôn đốc các phòng dự thảo báo cáo và trình thời gian quy định để trước khi trình Lãnh đạo Viện duyệt; kịp thời báo cáo Lãnh đạo Viện giải quyết những vấn đề vượt quá khả năng và quyền hạn của đơn vị;
Các cuộc họp chỉ đề cập đến một nội dung theo chuyên ngành thì phòng chủ trì chuẩn bị nội dung theo kế hoạch;
d) Các báo cáo thông qua Lãnh đạo Báo gồm: Báo cáo tổng kết công tác chỉ đạo điều hành sáu tháng, một năm của Báo; Báo cáo tổng kết thực hiện các chương trình, công việc; Báo cáo kết quả triển khai thực hiện các chương trình lớn của Báo.
4. Mời họp: Phòng Trị sự - Hành chính hoặc phòng chủ trì tổ chức họp gửi giấy mời đúng danh sách thành phần mời họp; Giấy mời họp phải do Lãnh đạo Báo ký. Áp dụng triệt để việc mời họp, gửi tài liệu qua hệ thống quản lý văn bản và điều hành của VKSND tối cao; tích cực tổ chức phòng họp không giấy, bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn.
5. In tài liệu và chuẩn bị các điều kiện phục vụ họp:
a) Phòng Trị sự - Hành chính chịu trách nhiệm in ấn các tài liệu họp do các phòng thuộc Báo chuẩn bị (không gửi tài liệu Mật lên môi trường mạng internet);
b) Nếu tổ chức họp tại trụ sở Báo, Phòng Trị sự - Hành chính chịu trách nhiệm bố trí phòng họp. Nếu tổ chức họp ở ngoài cơ quan, Phòng Trị sự - Hành chính đăng ký, bố trí xe đưa đón chung, nơi ăn, nghỉ cho đại biểu (nếu có);
c) Kinh phí cuộc họp được chi theo quy định chung của Nhà nước, Quy chế chi tiêu nội bộ của Báo và kế hoạch được duyệt nhưng phải bảo đảm tiết kiệm;
d) Chương trình họp do đơn vị được phân công chủ trì dự thảo, trình Lãnh đạo Báo duyệt và báo cáo Lãnh đạo Viện (đối với cuộc họp hay hội nghị có Lãnh đạo Viện tham dự).
Điều 26. Tổ chức họp
1. Triển khai họp:
- Sau khi chương trình đã được phê duyệt, phòng chủ trì tổ chức họp chịu trách nhiệm triển khai thực hiện; đăng ký đại biểu và nội dung tham luận để báo cáo người chủ trì họp và xử lý những tình huống cần thiết khác;
- Tại cuộc họp, người chủ trì họp điều hành cuộc họp theo chương trình dự kiến; tùy theo yêu cầu thực tế có thể quyết định điều chỉnh chương trình họp nhưng phải thông báo để những người dự họp biết;
- Người chủ trì họp điều hành cuộc họp phải kết luận rõ ràng về các nội dung, chuyên đề đã được thảo luận trong cuộc họp.
2. Ghi biên bản và thông báo kết quả họp:
a) Phòng chủ trì nội dung họp chịu trách nhiệm cử thư ký ghi biên bản họp (nếu cần) và soạn thảo thông báo ý kiến kết luận tại cuộc họp của Lãnh đạo Viện, Tổng Biên tập hoặc Phó Tổng Biên tập duyệt trước khi trình Lãnh đạo Viện ký ban hành;
b) Các phòng nghiệp vụ chuyên sâu dự thảo thông báo kết luận các hội nghị chuyên đề;
c) Các trường hợp khác do Lãnh đạo Báo phân công.
3. Báo cáo kết quả họp:
a) Phó Tổng Biên tập báo cáo kết quả hội nghị do mình chủ trì với Tổng Biên tập sau khi hội nghị kết thúc;
b) Đối với hội nghị, cuộc họp do Lãnh đạo Báo giao cho công chức, viên chức trong Báo tham dự, sau khi kết thúc, người được giao nhiệm vụ phải báo cáo Tổng Biên tập và Phó Tổng Biên tập phụ trách về kết quả hội nghị, cuộc họp và những vấn đề vượt quá thẩm quyền giải quyết của đơn vị để Lãnh đạo Báo xử lý kịp thời.
4. Các công việc sau họp:
Phòng Trị sự - Hành chính cùng phòng được phân công có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện những nội dung lãnh đạo đã kết luận tại các hội nghị, cuộc họp; kiểm tra, đôn đốc, tổng hợp báo cáo Lãnh đạo Báo về kết quả thực hiện kết luận đó.
Mục 4
BAN HÀNH CÁC VĂN BẢN
Điều 27. Thời hạn ban hành văn bản
1. Trong thời hạn 1 ngày làm việc, kể từ ngày văn bản được ký ban hành, Phòng Trị sự - Hành chính có trách nhiệm gửi văn bản cho các tổ chức và cá nhân có liên quan.
2. Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày Lãnh đạo Viện thông qua hoặc cho ý kiến chỉ đạo về nội dung công việc, Phòng Trị sự - Hành chính phối hợp với đơn vị liên quan hoàn chỉnh thủ tục để ban hành văn bản hoặc thông báo ý kiến kết luận của Lãnh đạo Viện tại cuộc họp.
3. Trong thời hạn 2 ngày làm việc, kể từ ngày Lãnh đạo Báo họp định kỳ hàng tháng, Phòng Trị sự - Hành chính phải ra thông báo ý kiến kết luận của Lãnh đạo Báo tại cuộc họp.
Điều 28. Quy định về việc ký các văn bản
1. Tổng Biên tập ký các văn bản sau:
a) Văn bản công tác chuyên môn, nghiệp vụ, văn bản quản lý hành chính Báo, các văn bản về tổ chức bộ máy và nhân sự theo quy định của pháp luật và của Viện trưởng VKSND tối cao;
b) Các văn bản trình Lãnh đạo Viện;
c) Các văn bản được Lãnh đạo Viện ủy quyền;
2. Phó Tổng Biên tập được Tổng Biên tập giao ký thay các văn bản:
Một số văn bản quy định tại khoản 1 Điều này theo lĩnh vực hoặc khối do Tổng Biên tập giao phụ trách.
Khi Tổng Biên tập vắng mặt, Phó Tổng Biên tập được uỷ quyền ký các văn bản thuộc thẩm quyền của Tổng Biên tập.
Điều 29. Phát hành văn bản
1. Phòng Trị sự - Hành chính có trách nhiệm phát hành các văn bản của Báo sau khi cấp có thẩm quyền ký, đồng thời tổ chức việc cập nhật theo dõi.
2. Tổng Biên tập phân công Phòng Trị sự - Hành chính (hoặc phòng chuyên môn) tổ chức việc gửi đăng trên Báo, Trang tin điện tử, Tạp chí Kiểm sát đối với các văn bản không phải là “MẬT” do Báo phát hành khi thấy cần thiết.
3. Việc phát hành văn bản và quản lý văn bản phát hành phải đảm bảo thực hiện đúng pháp luật về quản lý và tài liệu, thông tin thuộc danh mục bí mật Nhà nước.
Mục 5
KIỂM TRA
Điều 30. Phạm vi và đối tượng kiểm tra
Báo có trách nhiệm kiểm tra việc thi hành các văn bản của cấp trên và của Báo ban hành có quy định những nhiệm vụ, công việc trong phạm vi phụ trách của Báo mà các phòng trực thuộc Báo, các Văn phòng đại diện có trách nhiệm thực hiện.
Việc kiểm tra công tác chuyên môn, nghiệp vụ theo lĩnh vực được giao đối với các đơn vị, VKSND các cấp trong việc thi hành các văn bản có liên quan được tiến hành theo các quy định của Ngành.
Điều 31. Thẩm quyền kiểm tra
1. Tổng Biên tập kiểm tra mọi hoạt động trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Báo và của Tổng Biên tập theo quy định của pháp luật.
2. Phó Tổng Biên tập kiểm tra hoạt động của các phòng, các lĩnh vực được phân công phụ trách và thực hiện các nhiệm vụ kiểm tra do Tổng Biên tập giao.
3. Lãnh đạo phòng có trách nhiệm kiểm tra trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quy định và kiểm tra việc thực hiện các công việc do Lãnh đạo Báo ủy quyền hoặc giao chủ trì.
4. Công tác kiểm tra thực hiện đúng Quy chế kiểm tra của VKSND tối cao.
Điều 32. Hình thức kiểm tra
1. Phòng tự kiểm tra: lãnh đạo phòng thường xuyên tổ chức tự kiểm tra việc thi hành các văn bản, công việc được giao tại phòng, phát hiện các vướng mắc và đề xuất biện pháp xử lý kịp thời.
2. Báo tiến hành kiểm tra:
Lãnh đạo Báo, lãnh đạo các phòng và các công chức, viên chức và người lao động được giao nhiệm vụ kiểm tra tiến hành làm việc trực tiếp tại đơn vị cần kiểm tra;
Lãnh đạo Báo yêu cầu các phòng báo cáo bằng văn bản về tình hình và kết quả thực hiện các văn bản, công việc được giao.
Điều 33. Thông báo và báo cáo kết quả kiểm tra
1. Khi kết thúc kiểm tra, người chủ trì kiểm tra phải thông báo kết quả kiểm tra nêu rõ nội dung kiểm tra, đánh giá những mặt được và chưa được, những sai phạm cùng biện pháp khắc phục và kiến nghị hình thức xử lý (nếu có).
2. Có văn bản báo cáo Lãnh đạo Báo kết quả kiểm tra, đồng thời thông báo cho đơn vị kiểm tra và các đơn vị có liên quan. Nếu phát hiện có sai phạm thì xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý.
3. Thủ trưởng đơn vị kiểm tra có trách nhiệm theo dõi việc xử lý sau khi kiểm tra, yêu cầu đơn vị được kiểm tra khắc phục những sai phạm theo quyết định của cấp có thẩm quyền, báo cáo kết quả khắc phục sau kiểm tra với Lãnh đạo Báo.
4. Định kỳ cuối mỗi quý, Trưởng phòng báo cáo tình hình thực hiện các văn bản, các công việc được Lãnh đạo Báo giao theo thẩm quyền ở đơn vị mình.
5. Phòng Trị sự - Hành chính tổng hợp chung, báo cáo tình hình kiểm tra việc thi hành các văn bản, các công việc được Lãnh đạo Báo giao.
Mục 6
ĐI CÔNG TÁC
Điều 34. Đi công tác trong nước
1. Tham gia đoàn công tác:
a) Việc cử công chức, viên chức, người lao động tham gia các đoàn công tác của Đảng, Nhà nước, các đoàn công tác liên ngành, các đoàn công tác của Ngành tại các cơ quan hoặc các địa phương, đơn vị (gọi chung là cơ sở) phải theo đúng thành phần được yêu cầu. Những vấn đề liên quan đến Báo phải được chuẩn bị bằng văn bản theo yêu cầu của trưởng đoàn công tác;
b) Khi kết thúc chương trình công tác, chậm nhất sau 5 ngày làm việc, công chức, viên chức, người lao động tham gia đoàn phải báo cáo bằng văn bản gửi Lãnh đạo Báo về kết quả chương trình công tác, những vấn đề có liên quan đến Báo do cơ sở đề nghị làm việc với đoàn, kết luận của trưởng đoàn.
2. Lãnh đạo Báo tổ chức đoàn đi công tác cơ sở:
a) Khi có chủ trương của Lãnh đạo Báo, phòng được giao chủ trì phối hợp với Phòng Trị sự - Hành chính liên hệ với cơ sở để thống nhất chương trình, kế hoạch làm việc, trình trưởng đoàn;
b) Sau khi chương trình, kế hoạch được duyệt, Phòng Trị sự - Hành chính thông báo cho đơn vị liên quan để chuẩn bị. Trưởng phòng cử công chức, viên chức, người lao động tham gia đoàn công tác theo yêu cầu của Lãnh đạo Báo;
c) Các báo cáo và tài liệu có liên quan của các phòng thuộc Báo cần được chuẩn bị xong trước ngày làm việc, báo cáo Lãnh đạo Báo, gửi trước cho các đơn vị, cơ quan liên quan;
d) Trước ngày làm việc, Lãnh đạo Báo chủ trì thống nhất với đơn vị cơ sở lần cuối về chương trình và kế hoạch làm việc, báo cáo Lãnh đạo Báo;
đ) Tổ chức làm việc: Báo chủ trì chịu trách nhiệm phối hợp với đơn vị cơ sở triển khai công việc theo chương trình, kế hoạch đã thống nhất, xử lý các tình huống phát sinh. Nội dung làm việc phải chuẩn bị xong trước ngày làm việc và bảo đảm yêu cầu của Lãnh đạo Báo;
e) Sau khi hoàn thành chương trình, kế hoạch làm việc, phòng chủ trì phối hợp với đơn vị dự thảo thông báo về kết quả làm việc, ý kiến kết luận của Lãnh đạo Báo, gửi Lãnh đạo Báo duyệt trước khi ký ban hành. Phòng Trị sự - Hành chính chịu trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện thông báo của Báo.
3. Các đoàn công tác khác:
Khi cử công chức, viên chức, người lao động đi công tác phải bảo đảm đúng thành phần liên quan đến nội dung, chương trình công tác; nếu thời gian công tác từ 2 ngày làm việc trở lên, phòng phải bố trí người thay thế giải quyết công việc thường xuyên;
Đoàn công tác tại cơ sở thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích hoạt động của Báo, đồng thời ghi nhận đầy đủ những kiến nghị có liên quan đến cơ sở;
Trong thời hạn 3 ngày làm việc, sau khi đi công tác về, trưởng đoàn công tác phải có báo cáo bằng văn bản với Lãnh đạo Báo về kết quả, những kiến nghị của cơ sở có liên quan đến Báo, đề xuất giải pháp tổ chức thực hiện những kiến nghị đó.
Điều 35. Đi công tác, học tập ở nước ngoài
1. Công chức, viên chức được cử tham gia các đoàn công tác, học tập ở nước ngoài phải chuẩn bị bằng văn bản những vấn đề liên quan đến Báo theo yêu cầu của đoàn công tác và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung các văn bản đó.
2. Kết thúc chuyến công tác, học tập nước ngoài, trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhập cảnh Việt Nam, công chức, viên chức tham gia đoàn phải nộp lại hộ chiếu cho Vụ hợp tác quốc tế và tương trợ tư pháp hình sự, báo cáo bằng văn bản về kết quả chuyến công tác, học tập, nộp về Vụ hợp tác quốc tế và tương trợ tư pháp hình sự và báo cáo Lãnh đạo Báo.
Mục 7
CHẾ ĐỘ BÁO CÁO, THÔNG TIN, BẢO MẬT
Điều 36. Phó Tổng Biên tập báo cáo Tổng Biên tập
1. Tình hình thực hiện những công việc thuộc lĩnh vực, địa bàn được phân công phụ trách, những việc vượt quá thẩm quyền giải quyết hoặc có ý kiến khác nhau và những việc cần xin ý kiến Tổng Biên tập.
2. Nội dung và kết quả công việc khi được Tổng Biên tập giao phụ trách đơn vị trong thời gian Tổng Biên tập đi vắng.
3. Nội dung và kết quả của hội nghị, cuộc họp khi được Tổng Biên tập ủy quyền tham dự hoặc chỉ đạo các hội nghị đó.
4. Kết quả làm việc và những kiến nghị đối với Báo của các đơn vị, địa phương và đối tác khác khi được cử tham gia các đoàn công tác ở trong nước cũng như nước ngoài.
Điều 37. Các phòng báo cáo Lãnh đạo Báo
1. Trưởng phòng phải thực hiện đầy đủ chế độ thông tin báo cáo Lãnh đạo Báo theo quy định của Báo. Báo cáo tháng, quý, 6 tháng, báo cáo năm phải thông qua Phó Tổng Biên tập phụ trách lĩnh vực.
Khi có vấn đề phát sinh vượt quá thẩm quyền quản lý của phòng, Trưởng phòng phải báo cáo Lãnh đạo Báo để xử lý kịp thời.
2. Ngoài việc thực hiện các quy định tại khoản 1 Điều này, lãnh đạo Phòng Trị sự - Hành chính còn phải thực hiện nhiệm vụ sau đây:
a) Tổ chức cung cấp thông tin hàng ngày cho Tổng Biên tập, Phó Tổng Biên tập về các vấn đề đã được giải quyết;
b) Chuẩn bị, xây dựng báo cáo phục vụ giao ban Lãnh đạo Báo hàng tuần;
c) Tổng hợp và xây dựng báo cáo công tác của Báo;
d) Hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc các phòng, các Văn phòng đại diện thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin, báo cáo và tổ chức khai thác thông tin phục vụ sự chỉ đạo điều hành của Tổng Biên tập;
đ) Đề xuất và báo cáo Lãnh đạo Báo những vấn đề cần xử lý qua phản ánh của báo chí, dư luận xã hội liên quan đến trách nhiệm, phạm vi và thẩm quyền của đơn vị.
Điều 38. Cung cấp thông tin về hoạt động của phòng
Các phòng có trách nhiệm thông báo bằng những hình thức thích hợp, thuận tiện để công chức, viên chức và người lao động nắm bắt được những thông tin sau đây:
1. Chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và của Ngành liên quan đến công việc của đơn vị và của Ngành;
2. Kế hoạch công tác của Ngành và Chương trình công tác của Báo, kinh phí hoạt động và quyết toán kinh phí hàng năm (nếu có);
3. Tuyển dụng, đi học, khen thưởng, kỷ luật, nâng bậc lương, nâng ngạch và bổ nhiệm công chức, viên chức;
4. Văn bản kết luận về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong đơn vị;
5. Quy chế của ngành, nội quy làm việc của đơn vị;
6. Các vấn đề khác theo quy định.
Điều 39. Cung cấp thông tin về hoạt động của Báo
1. Về cung cấp thông tin:
a) Theo chỉ đạo của Lãnh đạo Viện thực hiện việc trả lời trên báo chí, yêu cầu các cơ quan báo chí đã đăng, phát các tin, bài có nội dung sai sự thật phải cải chính hoặc thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật;
b) Trong cung cấp thông tin không được để lộ các thông tin thuộc danh mục bí mật Nhà nước và thông tin về những công việc nhạy cảm đang trong quá trình xử lý;
2. Việc trả lời phỏng vấn báo chí thực hiện theo quy định của pháp luật và các quy định về công tác quản lý thông tin của Ngành.
Điều 40. Công tác văn thư lưu trữ, quản lý hồ sơ, tài liệu
1. Công tác văn thư, lưu trữ của Báo được thực hiện theo quy định của pháp luật, quy định, quy chế của Ngành.
2. Công văn, tài liệu gửi đến Báo phải được Phòng Trị sự - Hành chính tập hợp, phân loại, ghi vào sổ theo dõi và chuyển ngay đến Tổng Biên tập để xử lý; trường hợp Tổng Biên tập đi vắng thì chuyển đến Phó Tổng Biên tập được giao phụ trách để xử lý, Phó Tổng Biên tập có trách nhiệm báo cáo ý kiến chỉ đạo của mình với Tổng Biên tập. Sau khi có ý kiến của Lãnh đạo Báo, Phòng Trị sự - Hành chính chuyển văn bản đó đến phòng hoặc cán bộ, công chức, viên chức và người lao động được phân công giải quyết tiếp nhận và ký vào sổ theo dõi.
3. Văn bản, tài liệu do Báo soạn thảo, ban hành phải vào sổ công văn đi của Văn thư cơ quan VKSND tối cao hoặc của Báo (theo quy định) trước khi gửi và phải lưu một bản ở Phòng Trị sự - Hành chính.
4. Văn bản, tài liệu được lưu tại Phòng Trị sự - Hành chính theo từng loại, từng cấp ban hành, theo thứ tự thời gian; có danh mục kèm theo để sử dụng chung.
5. Mỗi cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong Báo có trách nhiệm quản lý các văn bản, tài liệu liên quan tới công việc được giao theo đúng quy định của pháp luật về việc quản lý, bảo quản, bảo mật công văn, tài liệu; lập hồ sơ lưu và bảo quản hồ sơ tài liệu, cuối năm phải sắp xếp, lập danh mục bàn giao cho Phòng Trị sự - Hành chính lưu trữ. Việc quản lý hồ sơ, tài liệu mật phải tuân thủ Quy chế Bảo vệ bí mật nhà nước trong ngành Kiểm sát nhân dân và Quy chế về công tác văn thư, lưu trữ trong ngành Kiểm sát nhân dân.
6. Phòng Trị sự - Hành chính giúp Tổng Biên tập kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chế độ quản lý công văn, tài liệu của Báo và báo cáo đầy đủ, kịp thời với Tổng Biên tập. Khi cán bộ được giao nhiệm vụ đi vắng hoặc được giao nhiệm vụ khác phải bàn giao văn bản, tài liệu đang xử lý cho cán bộ được lãnh đạo phân công.
Mục 8
CÔNG TÁC TỔ CHỨC CÁN BỘ
Điều 41. Công tác tổ chức cán bộ của Lãnh đạo Báo
1. Nhận xét, đánh giá công chức, viên chức, người lao động của đơn vị.
2. Tiếp nhận công chức, viên chức, người lao động; điều động, phân công trong nội bộ đơn vị đối với công chức, viên chức, người lao động theo quy định bảo đảm hiệu lực, hiệu quả công tác.
Xây dựng quy hoạch, đề nghị bổ nhiệm các chức danh quản lý, lãnh đạo trong đơn vị, đề xuất chỉ tiêu biên chế báo cáo Lãnh đạo Viện phê duyệt. Chịu trách nhiệm kiểm tra, đánh giá trình độ chuyên môn nghiệp vụ của những người được đề nghị tiếp nhận.
3. Đề xuất, kiến nghị việc đào tạo bồi dưỡng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, nâng lương khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động trong đơn vị.
4. Cử người hướng dẫn tập sự đối với người tập sự trong đơn vị; nhận xét, đánh giá kết quả tập sự và đề nghị quyết định bổ nhiệm vào ngạch viên chức hoặc hủy bỏ quyết định tuyển dụng.
5. Hội đồng tuyển dụng; Hội đồng lương; Hội đồng thi đua khen thưởng, kỷ luật và các hội đồng khác của Báo gồm có: tập thể Lãnh đạo Báo, đại diện Đảng uỷ cơ sở, đại diện đoàn thể. Các hội đồng hoạt động theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số. Trên cơ sở kết quả thảo luận, thống nhất của hội đồng, Tổng Biên tập quyết định (theo Quy chế phân cấp quản lý công chức, viên chức và người lao động trong ngành Kiểm sát nhân dân), hoặc có trách nhiệm đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét quyết định các trường hợp vượt quá thẩm quyền.
Điều 42. Quản lý công chức, viên chức, người lao động
1. Việc quản lý công chức, viên chức, người lao động của Báo thực hiện theo quy định của pháp luật, quy định của ngành Kiểm sát và quy chế của Báo. Công chức, viên chức, người lao động của Báo phải chấp hành nghiêm kỷ luật lao động, bảo đảm hiệu quả, năng suất, chất lượng công tác.
2. Công chức, viên chức, người lao động của Báo được mời tham gia những hoạt động chung của cơ quan hoặc của các đơn vị trực thuộc VKSND tối cao, nếu không thuộc phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của Báo phải được sự đồng ý của Lãnh đạo Báo.
3. Tổng Biên tập nghỉ phép phải được sự đồng ý của Lãnh đạo Viện. Phó Tổng Biên tập có việc riêng cần nghỉ phải được phép của Tổng Biên tập (hoặc Phó Tổng Biên tập phụ trách). Công chức, viên chức và người lao động có việc riêng cần nghỉ phải được phép của lãnh đạo phòng; vắng từ 01 ngày làm việc trở lên phải báo cáo Tổng Biên tập hoặc Phó Tổng Biên tập phụ trách bằng văn bản.
Nghỉ phép phải có giấy xin phép ghi rõ thời gian, địa điểm sẽ đến nghỉ; sau khi Lãnh đạo Báo duyệt được gửi đến Phòng Trị sự - Hành chính để quản lý theo dõi. Công chức, viên chức và người lao động xin xuất cảnh vì việc riêng phải báo cáo Lãnh đạo Báo và thực hiện theo các quy định hiện hành của pháp luật và của ngành Kiểm sát.
Mục 9
TÀI CHÍNH VÀ TÀI SẢN
Điều 43. Nguồn tài chính của Báo
1. Nguồn kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp.
2. Nguồn thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ của Báo; các đơn vị trực thuộc Báo; thu từ bán báo, bán quyền xem các sản phẩm báo chí, quảng cáo, trao đổi, mua bán bản quyền nội dung, tổ chức hội thảo…
3. Nguồn thu từ tài trợ hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước.
Điều 44. Quản lý tài chính, tài sản
Tổng Biên tập Báo chủ động các khoản chi cho các hoạt động thường xuyên và chi cho đầu tư phát triển đơn vị theo quy định hiện hành.
Thực hiện chế độ tài chính áp dụng đối với đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định hiện hành của nhà nước:
1. Hoạt động thu, chi của Báo thực hiện theo quy định của pháp luật, của Bộ Tài chính, của Ngành và Quy chế chi tiêu nội bộ của Báo.
2. Báo có trách nhiệm lập, chấp hành dự toán, thực hiện chế độ kế toán và chịu trách nhiệm quản lý và sử dụng các nguồn tài chính, tài sản và cơ sở vật chất được giao theo quy định của pháp luật và của Bộ Tài chính.
Chương IV
QUAN HỆ CÔNG TÁC
Mục 1
QUAN HỆ VỚI LÃNH ĐẠO VKSND TỐI CAO,
VỚI CÁC ĐƠN VỊ VÀ CÁC NGÀNH CÓ LIÊN QUAN
Điều 45. Quan hệ giữa Tổng Biên tập với Ban Thường vụ Đảng uỷ VKSND tối cao
Quan hệ giữa Tổng Biên tập với Ban Thường vụ Đảng ủy VKSND tối cao thực hiện theo quy định của Đảng và các quy định về việc phối hợp công tác do VKSND tối cao ban hành.
Điều 46. Quan hệ với lãnh đạo VKSND tối cao
1. Tổng Biên tập chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Viện trưởng VKSND tối cao. Căn cứ chương trình, kế hoạch công tác của Báo đã được Viện trưởng VKSND tối cao phê duyệt, Tổng Biên tập chủ động tổ chức triển khai mọi hoạt động của Báo trong phạm vi thẩm quyền của mình và chịu trách nhiệm trước Viện trưởng.
2. Tổng Biên tập có trách nhiệm báo cáo và xin ý kiến Phó Viện trưởng VKSND tối cao phụ trách khối về việc giải quyết các mặt công tác quan trọng của đơn vị, chấp hành nghiêm chỉnh ý kiến chỉ đạo của Phó Viện trưởng VKSND tối cao phụ trách khối.
3. Trong trường hợp Tổng Biên tập chưa nhất trí với kết luận của Phó Viện trưởng VKSND tối cao thì Tổng Biên tập vẫn phải chấp hành, nhưng có quyền bảo lưu ý kiến và kịp thời báo cáo Viện trưởng VKSND tối cao không để phát sinh hậu quả.
Điều 47. Quan hệ với các đơn vị trực thuộc VKSND tối cao
1. Chủ trì, phối hợp với Vụ 14 xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản khác liên quan đến hoạt động của VKSND theo yêu cầu của Viện trưởng VKSND tối cao.
2. Phối hợp với các đơn vị thuộc VKSND tối cao trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, Chỉ thị của Viện trưởng VKSND tối cao; xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Báo và theo sự phân công của Lãnh đạo Viện; bồi dưỡng nâng cao trình độ pháp luật, nghiệp vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp cho công chức, viên chức.
3. Các đơn vị trực thuộc VKSND tối cao trong phạm vi trách nhiệm của mình, tạo điều kiện để các Phóng viên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng Luật Báo chí và các quy định của Ngành; cung cấp những tư liệu, thông tin về hoạt động nghiệp vụ được phép công khai do đơn vị mình phụ trách để phục vụ cho công tác thông tin, tuyên truyền trên Báo theo Luật Báo chí. Phối hợp với Báo tổ chức hội thảo, hội nghị về nghiệp vụ; tổ chức các phong trào văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao trong toàn ngành do Lãnh đạo VKSND tối cao giao.
4. Phối hợp với Văn phòng VKSND tối cao trong việc thực hiện chuyên môn, nghiệp vụ; phối hợp với Cục Kế hoạch - Tài chính về việc cấp kinh phí hoạt động theo quy định và việc chấp hành các chỉ tiêu tài chính theo quy định đảm bảo kinh phí cho việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn.
5. Phối hợp với Vụ Tổ chức cán bộ trong việc xây dựng tổ chức bộ máy, biên chế, tiếp nhận, điều động, quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá và quản lý công chức, viên chức, thực hiện chính sách cán bộ, đề nghị bổ nhiệm công chức, viên chức của Báo.
6. Phối hợp với Vụ Kiểm sát giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp, Thanh tra VKSND tối cao và các đơn vị có liên quan để giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan, đơn vị, tổ chức, công dân và trong công tác thanh tra, kiểm tra có liên quan đến công tác chuyên môn, nghiệp vụ, công tác xây dựng ngành.
Điều 48. Quan hệ với Viện kiểm sát quân sự các cấp, đơn vị, VKSND cấp dưới
Quan hệ phối hợp giữa Báo với VKSND các cấp tuân thủ Quy định về phối hợp cung cấp thông tin tuyên truyền giữa các cơ quan, đơn vị thuộc VKSND và theo Quy chế phối hợp riêng giữa Báo và các đơn vị (nếu có).
1. Báo căn cứ vào các quy định pháp luật, quy định, quy chế của Ngành và Chỉ thị công tác của Viện trưởng VKSND tối cao để hướng dẫn nghiệp vụ tuyên truyền trên Báo; thông báo, truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo VKSND tối cao cho VKSND các cấp (khi được Lãnh đạo Viện ủy nhiệm).
Báo chủ động phối hợp với Viện kiểm sát quân sự các cấp, đơn vị, VKSND cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của Báo, tuyên truyền, đưa tin trên các ấn phẩm của Báo.
2. VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Viện kiểm sát quân sự các cấp có trách nhiệm báo cáo công tác tuyên truyền của đơn vị mình với Thường trực Ban Chỉ đạo công tác tuyên truyền ngành Kiểm sát nhân dân.
3. Viện kiểm sát quân sự các cấp, đơn vị, VKSND cấp dưới trong phạm vi trách nhiệm của mình thông tin kịp thời các hoạt động và tạo điều kiện để Phóng viên thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Luật Báo chí. Phối hợp với Báo tổ chức hội thảo, hội nghị về nghiệp vụ; tổ chức các phong trào văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao trong toàn ngành do Lãnh đạo VKSND tối cao giao.
Trường hợp không nhất trí với đề xuất của Báo thì trao đổi lại với Báo và báo cáo Lãnh đạo VKSND tối cao quyết định. Ý kiến của Lãnh đạo VKSND tối cao giao cho Báo thông báo thì Viện kiểm sát quân sự các cấp, đơn vị, VKSND cấp dưới phải chấp hành.
Điều 49. Quan hệ giữa Lãnh đạo Báo với, Hội đồng Thi đua - Khen thưởng và Hội đồng Lương cơ quan VKSND tối cao
1. Quan hệ giữa Lãnh đạo Báo với Hội đồng Thi đua - Khen thưởng cơ quan VKSND tối cao được thực hiện theo Quy chế Thi đua - Khen thưởng ngành Kiểm sát nhân dân và các văn bản về mối quan hệ công tác với Hội đồng Thi đua - Khen thưởng cơ quan.
2. Quan hệ giữa Lãnh đạo Báo với Hội đồng Lương cơ quan VKSND tối cao được thực hiện theo các văn bản quy định về mối quan hệ công tác với Hội đồng Lương cơ quan.
Điều 50. Quan hệ với các cơ quan hữu quan khác
1. Mọi hoạt động phối hợp bảo đảm theo đúng quy định của cơ quan quản lý nhà nước về báo chí và các quy định khác của pháp luật.
2. Làm đầu mối phối hợp với Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương theo Chương trình phối hợp giữa Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương với VKSND tối cao.
Tham dự các cuộc họp giao ban của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, họp báo tại Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Quốc hội, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch và các cơ quan quản lý nhà nước khác tổ chức mời dự. Phối hợp với các cơ quan hữu quan để thực hiện đầy đủ các trình tự, thủ tục trong hoạt động nghiệp vụ báo chí và các dịch vụ khác theo quy định của Nhà nước.
3. Báo quan hệ với các cơ quan hữu quan khác của các bộ, ngành; các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp; các cơ quan báo chí, truyền thông trong việc tuyên truyền về chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nhân dân; đồng thời tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và cải cách tư pháp.
Mục 2
QUAN HỆ CÔNG TÁC TRONG BÁO
Điều 51. Quan hệ giữa các Lãnh đạo Báo
1. Tổng Biên tập, điều hành mọi hoạt động của Báo theo nguyên tắc tập trung dân chủ và theo quy định của pháp luật.
2. Phó Tổng Biên tập thực hiện nhiệm vụ theo chức trách được giao và theo sự uỷ nhiệm, phân công của Tổng Biên tập, có trách nhiệm báo cáo kết quả công tác với Tổng Biên tập.
3. Trường hợp có ý kiến khác nhau giữa Tổng Biên tập và Phó Tổng Biên tập thì thực hiện ý kiến của Tổng Biên tập, nhưng Phó Tổng Biên tập có quyền báo cáo Phó Viện trưởng VKSND tối cao phụ trách khối xem xét cho ý kiến chỉ đạo.
Điều 52. Quan hệ giữa Lãnh đạo Báo với lãnh đạo phòng
1. Tổng Biên tập, Phó Tổng Biên tập phụ trách lĩnh vực và của phòng, định kỳ hoặc đột xuất họp với lãnh đạo các phòng hoặc làm việc với lãnh đạo từng phòng, để trực tiếp nghe báo cáo tình hình, chỉ đạo việc thực hiện nhiệm vụ công tác của phòng và của Báo.
2. Trưởng phòng có trách nhiệm báo cáo kịp thời với Lãnh đạo Báo về kết quả thực hiện công tác và kiến nghị các vấn đề cần giải quyết khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo Quy chế này và những vấn đề kiến nghị sửa đổi, bổ sung chương trình, kế hoạch công tác cho phù hợp với yêu cầu của Lãnh đạo Viện, của Lãnh đạo Báo.
3. Trong công tác tham mưu, đề xuất hoặc giải quyết công việc có ý kiến khác nhau giữa công chức, viên chức và người lao động với lãnh đạo phòng thì báo cáo Phó Tổng Biên tập phụ trách; giữa lãnh đạo phòng với Phó Tổng Biên tập phụ trách thì báo cáo Tổng Biên tập xem xét, quyết định.
Điều 53. Quan hệ giữa các Trưởng phòng trong Báo
1. Lãnh đạo phòng khi được giao chủ trì giải quyết các vấn đề có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của phòng khác phải trao đổi ý kiến với lãnh đạo phòng đó. Lãnh đạo phòng được hỏi ý kiến có trách nhiệm trả lời theo đúng yêu cầu của phòng chủ trì.
2. Theo phân công của Tổng Biên tập, lãnh đạo các phòng có trách nhiệm chủ động phối hợp thực hiện các chương trình công tác của Báo. Đối với những vấn đề liên quan đến nhiều đơn vị mà có ý kiến khác nhau, vượt quá thẩm quyền giải quyết của phòng hoặc không đủ điều kiện thực hiện thì lãnh đạo phòng chủ trì báo cáo, đề xuất Lãnh đạo Báo xem xét, quyết định.
Điều 54. Quan hệ giữa Lãnh đạo Báo với tổ chức Đảng, đoàn thể của Báo
1. Hàng tháng Tổng Biên tập hoặc Phó Tổng Biên tập được Tổng Biên tập ủy quyền làm việc với đại diện Cấp uỷ và đại diện đoàn thể của Báo để thông báo những chủ trương công tác của Báo, biện pháp giải quyết những kiến nghị của Đảng viên, thành viên các đoàn thể và ý kiến đóng góp của các tổ chức, đoàn thể về hoạt động của Báo (nếu có).
2. Bí thư Chi bộ, đại diện đoàn thể của Báo được mời tham dự các cuộc họp do Lãnh đạo Báo chủ trì có nội dung liên quan đến hoạt động, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của Đảng viên, thành viên các đoàn thể.
3. Tổng Biên tập tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức trên hoạt động có hiệu quả, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị của Báo được Lãnh đạo Viện giao; tham khảo ý kiến của các tổ chức trước khi quyết định các vấn đề có liên quan đến quyền, nhiệm vụ và lợi ích hợp pháp của Đảng viên, thành viên các đoàn thể.
Chương V
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 55. Khen thưởng và kỷ luật
Công chức, viên chức và người lao động chấp hành tốt các quy định của Quy chế này sẽ được khen thưởng theo chính sách, chế độ; nếu làm trái hoặc không chấp hành sẽ bị xử lý kỷ luật tuỳ theo tính chất, mức độ của vi phạm và quy định của pháp luật.
Điều 56. Hiệu lực thi hành
Quy chế này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký, thay thế các quy định trước đây về tổ chức và hoạt động của Báo trái với quy định trong Quy chế này.
Điều 57. Trách nhiệm thi hành
1. Thủ trưởng đơn vị thuộc VKSND tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp và Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu trách nhiệm thi hành Quy chế này.
2. Việc bổ sung, sửa đổi Quy chế này do Viện trưởng VKSND tối cao quyết định./.