Khi nghiên cứu về thủ tục tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, không thể không nghiên cứu về việc thực hiện các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự. Đặc biệt, thủ tục tranh tụng là trung tâm của giai đoạn xét xử và xét xử là giai đoạn mà các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự đồng thời được thực hiện và thể hiện rõ nét nhất.
1. Việc thực hiện các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự trong thủ tục tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm là thủ tục quan trọng trong giai đoạn xét xử, diễn ra tại phiên tòa và có ý nghĩa đối với phán quyết cuối cùng của Hội đồng xét xử về việc giải quyết vụ án. Đây là thủ tục tố tụng bắt buộc, công khai, bình đẳng; trọng tâm là thủ tục xét hỏi và tranh luận, với sự tham gia của các bên buộc tội và bào chữa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác; dưới sự điều khiển, dẫn dắt của Chủ tọa phiên tòa, các bên đưa ra quan điểm, lập luận và đối đáp lẫn nhau nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của mình, làm sáng tỏ sự thật của vụ án[1].
Khi nghiên cứu về thủ tục tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, không thể không nghiên cứu về việc thực hiện các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự. Đặc biệt, thủ tục tranh tụng là trung tâm của giai đoạn xét xử và xét xử là giai đoạn mà các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự đồng thời được thực hiện và thể hiện rõ nét nhất: Buộc tội và bào chữa đối trọng nhau và xét xử đưa ra phán quyết dựa trên kết quả tranh tụng của buộc tội và bào chữa. Nếu việc thực hiện các chức năng cơ bản trong thủ tục tranh tụng chưa phù hợp thì hiệu quả tranh tụng cũng như hiệu quả xét xử sẽ bị ảnh hưởng. Ví dụ như sự bất bình đẳng cơ bản giữa buộc tội và bào chữa hoặc một chủ thể thực hiện nhiều chức năng tố tụng hình sự đều tác động tiêu cực đến kết quả xét xử. Do đó, hoàn thiện quy định về thủ tục tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm phải bao gồm đảm bảo việc thực hiện có hiệu quả các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự.
- Việc thực hiện chức năng buộc tội:
Đa số các quan điểm hiện nay đều thống nhất chủ thể thực hiện chức năng buộc
tội là Viện kiểm sát nhân dân - cơ quan được trao quyền công tố và Kiểm sát viên là người đại diện cho Viện kiểm sát, tham gia thực hành quyền công tố tại phiên tòa. Ngoài ra, có quan điểm cho rằng có thể phân loại chủ thể buộc tội thành 02 nhóm: (1) Nhóm chủ thể buộc tội bảo vệ lợi ích chung, thay mặt Nhà nước thực hiện việc buộc tội (bao gồm Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát và những người có thẩm quyền thuộc các cơ quan này); (2) Nhóm chủ thể buộc tội để bảo vệ lợi ích của mình gồm bị hại và trong một số trường hợp là người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại[2]. Tác giả đồng tình với quan điểm này, theo đó, trong thủ tục tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm, chủ thể thực hiện chức năng buộc tội bao gồm Kiểm sát viên (đại diện cho Viện kiểm sát) và bị hại, người đại diện hợp pháp hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại.
Việc thực hiện chức năng buộc tội trong thủ tục tranh tụng cũng dựa vào 02 nhóm chủ thể buộc tội nêu trên. Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 (BLTTHS năm 2015) gồm phần xét hỏi và tranh luận. Chức năng buộc tội mở đầu cho thủ tục tranh tụng, thông qua hoạt động công bố cáo trạng của Kiểm sát viên, thể hiện sự buộc tội của Nhà nước với người phạm tội. Sau đó, các chủ thể theo quy định tham gia xét hỏi để xác định đầy đủ những tình tiết về vụ án. Ở phần xét hỏi, Kiểm sát viên là chủ thể buộc tội được quyền thực hiện việc hỏi. Trong khi đó, nhóm chủ thể buộc tội còn lại là bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, chỉ có quyền đề nghị Chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về vấn đề cần làm sáng tỏ mà có liên quan đến họ. Riêng người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại được quyền tham gia hỏi bị cáo, bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản[3]. Như vậy, trong phần xét hỏi, chức năng buộc tội được thực hiện chủ yếu qua Kiểm sát viên, còn việc buộc tội của nhóm chủ thể liên quan đến bị hại chỉ là quyền, không phải nghĩa vụ. Điều này là tất yếu do việc buộc tội của nhóm chủ thể này chỉ mang tính bổ trợ trong hoạt động tố tụng.
Ở phần tranh luận, việc buộc tội của Kiểm sát viên tiếp tục mở đầu phần tranh luận bằng việc trình bày luận tội hoặc thể hiện quan điểm ngừng buộc tội thông qua việc rút quyết định truy tố[4]. Sau khi những người tham gia tố tụng khác trình bày ý kiến, đối đáp với Kiểm sát viên, Kiểm sát viên phải đối đáp đến cùng từng ý kiến của người tham gia tố tụng tại phiên tòa, không ý kiến nào được bỏ qua mà chưa tranh luận (khoản 2 và khoản 3 Điều 322 BLTTHS năm 2015). Trong khi đó, nhóm chủ thể còn lại (bị hại, người đại diện hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ) chỉ được trao quyền trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích của mình (khoản 3 Điều 320 BLTTHS năm 2015). Theo quy định này, tính buộc tội của nhóm chủ thể này tương đối mờ nhạt vì việc đưa ra lập luận về việc buộc tội một người không có ý nghĩa bảo vệ quyền lợi của riêng bị hại mà hướng tới xác định ai đã xâm phạm đến những quan hệ xã hội do Nhà nước bảo vệ. Ngoại lệ, trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại hoặc người đại diện của bị hại “trình bày, bổ sung ý kiến sau khi Kiểm sát viên trình bày luận tội” (khoản 4 Điều 320 BLTTHS năm 2015); cụ thể, họ được trình bày lời buộc tội tại phiên tòa (khoản 3 Điều 62 BLTTHS năm 2015). Tuy nhiên, ở những lượt đối đáp tranh luận sau, với tư cách là người tham gia tố tụng, nhóm chủ thể liên quan đến bị hại lại được quyền đối đáp với Kiểm sát viên và một trong số nội dung đối đáp là về chứng cứ xác định có tội[5]. Đây là điểm mâu thuẫn giữa các quy định, cần thống nhất quan điểm về việc tranh luận mang tính buộc tội của nhóm chủ thể bị hại, người đại diện hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại.
- Việc thực hiện chức năng bào chữa:
Theo Điều 16 BLTTHS năm 2015 thì “người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ Luật sư hoặc người khác bào chữa”. Điều 72 BLTTHS năm 2015 quy định người bào chữa có thể là Luật sư, người đại diện của người bị buộc tội, Bào chữa viên nhân dân, Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý. Như vậy, có thể xác định chủ thể thực hiện chức năng bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm bao gồm bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo và người bào chữa của bị cáo.
Dù đều thực hiện chức năng bào chữa tại phiên tòa nhưng mỗi nhóm chủ thể trên lại thực hiện việc bào chữa ở những mức độ khác nhau. Đối với bị cáo: Ở thủ tục xét hỏi, sau khi Kiểm sát viên công bố cáo trạng, bị cáo sẽ trình bày ý kiến về bản cáo trạng và những tình tiết của vụ án[6]. Đây có thể coi là hoạt động mang tính bào chữa đầu tiên tại phiên tòa, sau phần buộc tội bằng cáo trạng của Viện kiểm sát. Việc trình bày ý kiến này cũng như trả lời các câu hỏi ở thủ tục xét hỏi chỉ do bị cáo thực hiện, người bào chữa hoặc người đại diện của bị cáo không tham gia. Ngoài ra, bị cáo cũng có thể thực hiện xét hỏi đối với bị cáo khác, với bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ, người làm chứng, nếu được Chủ tọa phiên tòa đồng ý và nội dung hỏi chỉ về các vấn đề liên quan đến bị cáo[7]. Ở thủ tục tranh luận, sau khi Kiểm sát viên mở đầu tranh luận bằng việc trình bày luận tội, bị cáo trình bày lời bào chữa. Người đại diện của bị cáo có quyền bổ sung ý kiến bào chữa (khoản 2 Điều 320 BLTTHS năm 2015). Bị cáo cũng như người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận của mình để đối đáp với Kiểm sát viên; có quyền đáp lại ý kiến của người khác (khoản 1, khoản 2 Điều 322 BLTTHS năm 2015).
Đối với người bào chữa: Ở thủ tục xét hỏi, khác với bị cáo, người bào chữa được quyền xét hỏi bị cáo, bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ, người làm chứng, người giám định và người định giá tài sản mà không phụ thuộc vào sự đồng ý của Chủ tọa phiên tòa[8]. Ở thủ tục tranh luận, bên cạnh việc bào chữa của bị cáo, người bào chữa cũng được trình bày lời bào chữa (khoản 2 Điều 320 BLTTHS năm 2015). Tuy nhiên, quy định này còn chưa rõ ràng ở thứ tự trình bày bào chữa sau tranh luận. Thứ tự sau luận tội của Kiểm sát viên là: Bị cáo, người bào chữa; bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo bổ sung tiếp (bị cáo được quyền bào chữa hai lần trong một lượt tranh luận); hoặc theo thứ tự: Người bào chữa rồi đến bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo
bổ sung.
- Việc thực hiện chức năng xét xử:
Bản án của Tòa án - kết quả thực hiện chức năng xét xử - phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa nên vai trò của Tòa án trong thủ tục tranh tụng là rất quan trọng. Tòa án thực hiện điều hành phiên tòa, thủ tục tranh tụng, sử dụng các quyền năng luật định để cùng các bên làm sáng tỏ sự thật khách quan và đưa ra phán quyết phù hợp.
Trong thủ tục xét hỏi, chức năng xét xử được thể hiện gián tiếp qua việc điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi và thứ tự xét hỏi của Chủ tọa phiên tòa[9] để xác định các tình tiết của vụ án. Để làm rõ các tình tiết, Hội đồng xét xử được quyền hỏi bị cáo, bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ, người làm chứng; người giám định, người định giá tài sản… Ngoài ra, để có căn cứ cho việc xét xử, Hội đồng xét xử thực hiện xem xét vật chứng khi xét hỏi (khoản 3 Điều 307, Điều 312 BLTTHS năm 2015). Trường hợp cần thiết, Hội đồng xét xử quyết định việc nghe, xem nội dung được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh; xem xét tại chỗ nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểm khác liên quan đến vụ án; yêu cầu người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trình bày ý kiến làm rõ quyết định, hành vi tố tụng trong giai đoạn trước xét xử (Điều 313, Điều 314, Điều 317 BLTTHS năm 2015).
Trong thủ tục tranh luận, Hội đồng xét xử phải lắng nghe, ghi nhận đầy đủ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người tham gia tranh luận tại phiên tòa để đánh giá khách quan, toàn diện sự thật của vụ án (khoản 4 Điều 322 BLTTHS năm 2015). Để nắm được các ý kiến và có thêm cơ sở để ra phán quyết, ở thủ tục tranh luận, Chủ tọa phiên tòa phải điều hành việc tranh luận, bảo đảm Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác được trình bày hết ý kiến và Kiểm sát viên phải đáp lại hết những ý kiến được đưa ra[10]. Như vậy, Hội đồng xét xử không chỉ dựa vào luận tội hay ý kiến của Kiểm sát viên mà còn dựa vào ý kiến, lập luận của những người tham gia tố tụng khác để có phán quyết phù hợp nhất. Đặc biệt, Hội đồng xét xử có thể quyết định trở lại phần xét hỏi trong một số trường hợp như: Khi tranh luận còn có tình tiết vụ án chưa được hỏi, chưa được làm sáng tỏ; trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày thêm tình tiết mới có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án (Điều 323, Điều 324 BLTTHS năm 2015).
Một trường hợp đặc biệt trong thủ tục tranh tụng đó là Viện kiểm sát rút truy tố sau khi kết thúc thủ tục xét hỏi tại phiên tòa. Nếu Kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn thì Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án. Nếu Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì Hội đồng xét xử yêu cầu những người tham gia phiên tòa trình bày ý kiến về việc rút quyết định truy tố đó[11]. Trường hợp này, luật không quy định rõ thủ tục tranh luận giữa các bên có được tiếp tục không, nhưng theo quy định về nghị án, Hội đồng xét xử vẫn giải quyết những vấn đề của vụ án và xác định rõ bị cáo không có tội hay là quyết định rút truy tố không có căn cứ. Nếu xét thấy quyết định rút truy tố của Kiểm sát viên là không có căn cứ thì Hội đồng xét xử quyết định tạm đình chỉ vụ án và kiến nghị Viện trưởng Viện kiểm sát[12]. Theo tác giả, việc quy định như trên là chưa triệt để. Bởi lẽ, rút toàn bộ quyết định truy tố là rút toàn bộ bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn đối với bị cáo. Rút một phần quyết định truy tố là rút một hoặc một số tội danh đã truy tố đối với bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh khác hoặc các tội danh khác hoặc rút quyết định truy tố đối với một hoặc một số bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo hoặc các bị cáo khác[13]. Theo cách hiểu như vậy, trường hợp Kiểm sát viên rút quyết định truy tố đối với một bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo khác thì Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử. Có thể thấy, trường hợp này không rõ quy định là tiếp tục xét xử với phần truy tố còn lại hay cả với phần truy tố đã được rút. Nếu Tòa án không xem xét phần đã được rút thì khoản 1 Điều 325 BLTTHS năm 2015 sẽ mâu thuẫn với hệ quả pháp lý khi rút toàn bộ truy tố ở khoản 2 Điều 325 và khoản 4 Điều 326 BLTTHS năm 2015 (về việc Hội đồng xét xử đánh giá, giải quyết vụ án dù quyết định truy tố đã được rút). Ngoài ra, với trường hợp Hội đồng xét xử quyết định tạm đình chỉ để kiến nghị Viện trưởng Viện kiểm sát, BLTTHS năm 2015 cũng chưa quy định rõ thời hạn Viện trưởng Viện kiểm sát phải trả lời và Hội đồng xét xử phải xử lý như thế nào sau khi nhận được phúc đáp từ phía Viện kiểm sát.
2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Một là, có thể thấy rằng, nếu người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại được quyền thực hiện việc hỏi thì bị hại cũng không nên bị hạn chế quyền này. Mặt khác, thực hiện quyền hỏi giúp bị hại có thể chủ động hơn trong việc chứng minh, làm rõ các tình tiết liên quan đến họ, đặc biệt là khi vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại hay trường hợp bị hại muốn hỏi người giám định để làm rõ kết quả giám định. Do đó, cần bổ sung quy định bị hại cũng có quyền được hỏi và tranh luận buộc tội. Bị hại có thể tham gia tranh luận, đối đáp không chỉ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình mà còn có thể để buộc tội. Bởi việc tham gia tranh tụng, buộc tội của bị hại cũng có thể cung cấp thêm thông tin, quan điểm để Hội đồng xét xử xem xét toàn diện hơn.
Hai là, cần bổ sung quy định tại Điều 307 BLTTHS năm 2015 về quyền được hỏi của bị cáo, để phù hợp với các điều 309, 310, 311, 316 BLTTHS hiện hành, cụ thể:
Điều 307. Trình tự xét hỏi
… 2
Khi được Chủ tọa phiên tòa đồng ý, bị cáo được hỏi những người tham gia tố tụng khác về các vấn đề có liên quan đến bị cáo…”.
Bên cạnh đó, cần hoàn thiện trình tự tranh luận trong lượt tranh luận đầu tiên của bên bào chữa để việc thực hiện được thuận lợi hơn, theo đó:
Điều 320. Trình tự phát biểu khi
tranh luận
… 2. Bị cáo trình bày lời bào chữa; hoặc người bào chữa trình bày lời bào chữa cho bị cáo, sau đó bị cáo, người đại diện của bị cáo có quyền bổ sung ý kiến bào chữa…”.
Ba là, pháp luật quy định Chủ tọa phiên tòa được hỏi đầu tiên, sau đó mới quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi (Điều 307 BLTTHS năm 2015). Nhiệm vụ của Hội đồng xét xử ở thủ tục xét hỏi là phải xác định đầy đủ những tình tiết về từng sự việc, từng tội trong vụ án và từng người (khoản 1 Điều 307 BLTTHS năm 2015); điều này là phù hợp để thực hiện chức năng xét xử. Tuy nhiên, Tòa án có thể đạt được nhiệm vụ đó không chỉ qua việc tự mình xét hỏi ngay ban đầu như luật định mà còn có thể qua việc điều hành việc xét hỏi của các bên, lắng nghe cách hỏi và câu trả lời của các bên để đánh giá xem các tình tiết đã được xác định đầy đủ chưa và nếu sau khi các bên thực hiện xét hỏi mà thiếu tình tiết thì Hội đồng xét xử có thể hỏi bổ sung cuối cùng. Như vậy, việc xét hỏi của Hội đồng xét xử mới phù hợp với chức năng xét xử mà vẫn đảm bảo hiệu quả giải quyết vụ án. Do đó, tác giả đề xuất thay đổi thứ tự xét hỏi theo hướng Hội đồng xét xử sẽ xét hỏi cuối cùng, cụ thể:
Điều 307. Trình tự xét hỏi
… 2. Khi xét hỏi, Chủ tọa phiên tòa quyết định Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi. Hội đồng xét xử hỏi sau cùng…”.
Bốn là, cần quy định Hội đồng xét xử sẽ đình chỉ giải quyết đối với các phần đã được rút (không giải quyết đối với những phần này); trường hợp cần thiết, Hội đồng xét xử có thể đồng thời kiến nghị với Viện trưởng Viện kiểm sát để hạn chế bỏ lọt tội phạm, theo đó:
Điều 325. Xem xét việc rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn tại phiên tòa
1. Trường hợp Kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố hoặc rút toàn bộ quyết định truy tố thì Hội đồng xét xử yêu cầu những người tham gia phiên tòa trình bày ý kiến về việc rút quyết định truy tố đó, rồi ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với những phần đã được rút. Nếu việc rút truy tố là thiếu căn cứ, Hội đồng xét xử có thể kiến nghị Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp.
2. Khi Kiểm sát viên kết luận về tội nhẹ hơn thì Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án.
—————————
Tài liệu tham khảo:
1. Cao Thị Ngọc Hà, Chức năng bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội, 2019.
2. Học viện Khoa học xã hội, Các chức năng của tố tụng hình sự trong bối cảnh cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, 2015, tr.58 - 59.
3. Phạm Mạnh Hùng, Hoàn thiện một số quy định về tranh tụng tại phiên tòa trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, 2021.
4. Nguyễn Ngọc Kiện, Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, Sách chuyên khảo, Nxb. Tư pháp, 2019, tr.85 - 86.
5. Lê Thị Thúy Nga, Chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2019.
[1]. Nguyễn Ngọc Kiện, Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, Sách chuyên khảo, Nxb. Tư pháp, 2019, tr.85-86.
[2]. Lê Thị Thúy Nga, Chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2019, tr.61.
[3]. Xem Điều 307, Điều 309, Điều 310, Điều 311, Điều 316 BLTTHS năm 2015.
[4]. Xem Điều 320 BLTTHS năm 2015.
[5]. Xem Điều 322 BLTTHS năm 2015.
[6]. Xem khoản 2 Điều 309 BLTTHS năm 2015.
[7]. Xem khoản 3 Điều 309, Điều 310, khoản 2 Điều 311 BLTTHS năm 2015.
[8]. Xem Điều 307, Điều 309, Điều 310, Điều 311, Điều 316 BLTTHS năm 2015.
[9]. Xem khoản 1 Điều 307 BLTTHS năm 2015.
[10]. Xem các khoản 1, 2, 3 Điều 322 BLTTHS năm 2015.
[11]. Xem Điều 325 BLTTHS năm 2015.
[12]. Xem khoản 4 Điều 326 BLTTHS năm 2015.
[13]. Phạm Mạnh Hùng, Hoàn thiện một số quy định về tranh tụng tại phiên tòa trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, 2021, tr.5.