Bài viết tập trung làm rõ một số vướng mắc trong các quy định về hình phạt, biện pháp tư pháp, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi hành bản án trong Bộ luật Hình sự năm 2015; đồng thời, đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, bảo đảm sự thống nhất, minh bạch và phù hợp với thực tiễn.
1. Một số bất cập trong quy định về hình phạt
- Về hình phạt trục xuất:
Thứ nhất, quy định về điều kiện áp dụng hình phạt trục xuất vẫn chưa cụ thể, rõ ràng, gây khó khăn trong thực tiễn áp dụng. Cụ thể, Điều 37 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS năm 2015) quy định: “Trong từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể áp dụng hình phạt trục xuất”. Quy định này còn mang tính tùy nghi dẫn đến tình trạng thiếu nhất quán trong việc áp dụng cũng như làm giảm tính minh bạch và khả năng tiên liệu của pháp luật.
Thứ hai, trong toàn bộ hệ thống các tội danh được quy định trong phần các tội phạm của BLHS, không có điều luật nào xác định hình phạt trục xuất là một hình phạt cụ thể. Thực tế còn có các quan điểm khác nhau về vấn đề này. Có quan điểm cho rằng, Tòa án có thể xem xét áp dụng hình phạt trục xuất theo Điều 37. Quan điểm khác cho rằng, do không có hình phạt cụ thể trong từng tội danh nên hình phạt này không được áp dụng. Điều này ảnh hưởng đến tính khả thi của hình phạt trục xuất, khiến cho biện pháp này chưa thực sự phát huy được vai trò trong hệ thống hình phạt của BLHS.
Thứ ba, do chưa có quy định cụ thể về đối tượng áp dụng, hình phạt trục xuất có thể bị áp dụng một cách tùy nghi hoặc không đúng đối tượng. Nếu không quy định cụ thể hoặc có những hướng dẫn chi tiết hơn về điều kiện áp dụng, các cơ quan tiến hành tố tụng có thể gặp khó khăn trong việc quyết định khi nào áp dụng và áp dụng hình phạt này đối với đối tượng nào. Điều này đặc biệt quan trọng trong xử lý tội phạm liên quan đến người nước ngoài cư trú tại Việt Nam.
Ngoài ra, BLHS năm 2015 chưa có quy định cụ thể về thời hạn áp dụng hình phạt này, dẫn đến khó khăn trong thực tiễn thi hành án cũng như gây ra sự thiếu thống nhất giữa các văn bản pháp luật có liên quan. Hiện nay, theo quy định của Luật xuất cảnh, nhập cảnh, người bị trục xuất có thể quay lại Việt Nam sau thời hạn 03 năm kể từ ngày bị trục xuất. Tuy nhiên, đối với các trường hợp bị trục xuất do phạm tội theo BLHS, việc áp dụng thời hạn này chưa được làm rõ, đặt ra nhiều vấn đề trong công tác thực thi pháp luật.
- Về hình phạt tiền:
Khoản 3 Điều 35 BLHS năm 2015 quy định mức phạt tiền tối thiểu là 01 triệu đồng; đối với các tội danh có quy định về hình phạt tiền, mức thấp nhất là 05 triệu đồng. So sánh với các quy định về xử phạt vi phạm hành chính, có thể thấy mức phạt tiền trong BLHS vẫn còn thấp, dẫn đến một số bất cập sau:
Thứ nhất, hình phạt không phát huy tác dụng trong việc xử lý các tội phạm về kinh tế và sở hữu. Đối với những hành vi như trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc vi phạm các quy định về trật tự quản lý kinh tế, hình phạt tiền cần phải đủ lớn để đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tái phạm.
Thứ hai, mức phạt tiền quá thấp có thể dẫn đến tình trạng người phạm tội sẵn sàng chấp nhận nộp phạt thay vì tuân thủ pháp luật, bởi số tiền phải đóng có thể không đáng kể so với lợi ích mà họ có thể thu được từ hành vi phạm tội. Điều này đặc biệt nguy hiểm đối với các tội phạm liên quan đến lĩnh vực kinh tế, tài chính.
Thứ ba, sự chênh lệch giữa mức xử phạt hành chính và mức phạt tiền trong BLHS cũng đặt ra vấn đề về tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Trong nhiều trường hợp, hành vi vi phạm pháp luật hành chính có thể bị xử phạt lên đến hàng chục, hàng trăm triệu đồng, trong khi tội phạm hình sự lại có mức phạt tiền nhẹ hơn đáng kể. Điều này có thể làm giảm tính nghiêm minh của BLHS, tạo ra tâm lý coi nhẹ chế tài hình sự trong một số trường hợp phạm tội.
- Về hình phạt tù:
Thứ nhất, về điều kiện áp dụng tha tù trước thời hạn có điều kiện: Hiện nay, khoản a điểm 1 Điều 66 BLHS năm 2015 quy định chỉ những người “phạm tội lần đầu” mới có thể được xem xét tha tù trước thời hạn. Điều này dẫn đến tình trạng một số phạm nhân dù đã cải tạo tốt, có khả năng tái hòa nhập cộng đồng nhưng vẫn không được hưởng chính sách khoan hồng vì không phải phạm tội lần đầu, mặc dù hành vi phạm tội trước đó có thể không quá nghiêm trọng. Nếu không điều chỉnh quy định này, chính sách tha tù trước thời hạn có thể không đạt được mục tiêu khuyến khích phạm nhân cải tạo tốt và giảm tải cho hệ thống trại giam.
Bên cạnh đó, quy định yêu cầu phạm nhân phải có nơi cư trú rõ ràng để được tha tù trước thời hạn là không cần thiết. Trong thực tế, nhiều người sau khi ra tù có thể không còn mối quan hệ gia đình hoặc không có nơi cư trú cố định nhưng vẫn có khả năng tái hòa nhập cộng đồng thông qua sự hỗ trợ của các tổ chức xã hội, trung tâm bảo trợ hoặc doanh nghiệp tuyển dụng lao động hoàn lương. Việc giữ nguyên điều kiện này có thể dẫn đến tình trạng phạm nhân đã cải tạo tốt nhưng không có nơi cư trú cố định bị giam giữ lâu hơn, làm giảm hiệu quả của chính sách nhân đạo trong thi hành án.
Thứ hai, về mức hình phạt trong các khung hình phạt: Bộ luật Hình sự hiện hành vẫn còn một số quy định chưa tương xứng với mức độ nghiêm trọng của từng loại tội phạm. Một số khung hình phạt có khoảng cách lớn giữa mức tối thiểu và mức tối đa, dẫn đến sự thiếu thống nhất trong thực tiễn xét xử. Điều này có thể dẫn đến tình trạng một số hành vi có mức độ nguy hiểm tương đương nhưng lại bị áp dụng các mức hình phạt khác nhau, ảnh hưởng đến tính công bằng của pháp luật.
2. Một số bất cập trong quy định về các biện pháp tư pháp
- Về biện pháp tịch thu tài sản:
Thứ nhất, về cơ chế tịch thu tài sản không qua thủ tục kết tội: Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa có quy định cụ thể về trường hợp này, trong khi thực tế cho thấy có nhiều trường hợp tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội nhưng không thể xử lý hình sự do không xác định được chủ thể vi phạm hoặc hành vi vi phạm chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Điều này dẫn đến tình trạng tồn tại tài sản có dấu hiệu liên quan đến hoạt động phạm pháp mà không có cơ chế pháp lý rõ ràng để xử lý.
Thứ hai, về phạm vi tài sản bị tịch thu: Điều 47 BLHS năm 2015 quy định tài sản bị tịch thu bao gồm “vật hoặc tiền do phạm tội mà có” hoặc “vật, tiền do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có”. Quy định này chưa bao quát đầy đủ các hình thức tài sản có giá trị trong nền kinh tế hiện đại, dẫn đến những lỗ hổng trong quá trình áp dụng.
Thực tế cho thấy, ngoài tiền mặt và vật hữu hình, còn nhiều loại tài sản có giá trị như cổ phiếu, trái phiếu, quyền sử dụng đất, tài sản kỹ thuật số (tiền điện tử, tiền mã hóa), tài sản vô hình (quyền sở hữu trí tuệ, quyền khai thác thương mại), hoặc lợi ích phát sinh từ tài sản phạm pháp (tiền lãi từ tài khoản ngân hàng, cổ tức từ cổ phần có nguồn gốc phạm tội). Nếu giới hạn phạm vi tịch thu là “vật hoặc tiền”, có thể dẫn đến việc không thể xử lý triệt để tài sản có nguồn gốc từ hành vi vi phạm pháp luật, tạo điều kiện cho tội phạm lách luật bằng cách chuyển đổi tài sản sang các dạng khác để tránh bị tịch thu.
- Về biện pháp bắt buộc chữa bệnh:
Thứ nhất, khoản 1 Điều 49 BLHS năm 2015 quy định về thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người thực hiện hành vi phạm tội trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự chưa thực sự hợp lý. Theo đó, việc áp dụng biện pháp này hiện đang thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát và Tòa án trong khi bản chất của vấn đề lại không thuộc phạm vi điều chỉnh của tố tụng hình sự. Đối với những trường hợp này, người thực hiện hành vi phạm tội không đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đồng nghĩa với việc không thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy trình tố tụng thông thường. Việc xử lý chủ yếu mang tính chất hành chính - y tế nhằm đảm bảo an toàn cho xã hội, hơn là mang tính chất trừng phạt hình sự.
Thứ hai, khoản 2 Điều 49 BLHS năm 2015 quy định về thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người phạm tội trong giai đoạn trước khi bị kết án chưa đầy đủ và còn hạn chế. Theo đó, quyền quyết định áp dụng biện pháp này thuộc về Tòa án, trong khi thực tế có nhiều trường hợp cần áp dụng ngay từ giai đoạn điều tra hoặc truy tố, nhằm đảm bảo xử lý kịp thời các trường hợp có dấu hiệu tâm thần hoặc mất năng lực hành vi trong quá trình tố tụng. Nếu chỉ quy định Tòa án có thẩm quyền quyết định thì sẽ dẫn đến tình trạng người có dấu hiệu bệnh lý tâm thần không được điều trị kịp thời trong suốt quá trình điều tra, truy tố, gây khó khăn cho quá trình xử lý vụ án cũng như tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn của cộng đồng.
Thứ ba, quy định về cách thức tính thời gian áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh vào thời gian chấp hành án phạt tù chưa thực sự rõ ràng và chưa đảm bảo quyền lợi của người bị áp dụng biện pháp này. Trong nhiều trường hợp, người bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn khởi tố, điều tra có thể bị giam giữ trong các cơ sở y tế một thời gian dài, nhưng thời gian này lại không được tính vào thời gian chấp hành án phạt tù sau khi họ bị kết án.
Thực tế cho thấy, trong một số vụ án, bị can, bị cáo áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong thời gian dài trước khi có bản án, nhưng khi họ được điều trị ổn định và bị kết án tù, thời gian đã chấp hành trong bệnh viện lại không được khấu trừ vào thời gian thi hành án, khiến họ phải chấp hành tổng thời gian dài hơn mức hình phạt được tuyên. Điều này không chỉ gây bất lợi cho người phạm tội mà còn làm gia tăng áp lực lên hệ thống trại giam.
3. Một số đề xuất, kiến nghị
- Về hình phạt:
Một là, cần sửa đổi, bổ sung Điều 37 BLHS năm 2015 theo hướng như sau:
“Điều 37. Trục xuất
1. Trục xuất là buộc người nước ngoài bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Trục xuất được Tòa án áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung trong từng trường hợp cụ thể.
3. Hình phạt trục xuất có thể áp dụng trong cả trường hợp điều luật quy định về tội danh cụ thể không quy định cụ thể về hình phạt này.
4. Thời hạn trục xuất là từ 03 đến 10 năm. Đối với các trường hợp phạm tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác, Tòa án có thể quyết định thời hạn trục xuất trên 10 năm hoặc trục xuất vĩnh viễn”.
Hai là, sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 35 BLHS năm 2015 theo hướng nâng mức phạt tiền tối thiểu; đồng thời, cần rà soát, đánh giá các quy định có hình phạt tiền tại các tội danh cụ thể để nâng mức hình phạt tiền cả ở mức tối thiểu và mức tối đa, bảo đảm phù hợp tình hình phát triển kinh tế, xã hội hiện nay, đồng thời, bảo đảm phù hợp, thống nhất giữa hình phạt tiền của BLHS với mức phạt tiền trong xử lý vi phạm hành chính hiện nay.
Ba là, sửa đổi, bổ sung các quy định về hình phạt tù theo hướng mở rộng đối tượng được tha tù trước thời hạn có điều kiện, đồng thời điều chỉnh mức hình phạt trong các khung hình phạt cho phù hợp hơn với tính chất từng loại tội phạm. Đây là một yêu cầu cấp thiết để bảo đảm tính công bằng, hợp lý trong chính sách xử lý tội phạm và góp phần nâng cao hiệu quả của công tác thi hành án, giúp người phạm tội sớm tái hòa nhập cộng đồng và giảm tải cho hệ thống giam giữ. Theo đó: (i) Mở rộng đối tượng, phạm vi điều kiện áp dụng tha tù trước thời hạn có điều kiện (như bỏ điều kiện phạm tội lần đầu tại khoản a điểm 1 Điều 66 BLHS năm 2015 do đã có các quy định tăng nặng hình phạt đối với trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm; bỏ điều kiện có nơi cư trú rõ ràng...); (ii) Sửa đổi, bổ sung mức hình phạt tại các khung hình phạt để bảo đảm phù hợp hơn so với tính chất của từng loại tội phạm; sửa đổi khoảng cách ở mức tối thiểu và mức tối đa của khung hình phạt.
- Về các biện pháp tư pháp:
Một là, bổ sung chế định tịch thu tài sản không qua thủ tục kết tội, trong đó, quy định rõ về thời điểm tịch thu tài sản, trường hợp cụ thể tịch thu tài sản, điều kiện áp dụng và thẩm quyền quyết định việc tịch thu tài sản không qua thủ tục kết tội.
Hai là, nghiên cứu những hình thức tài sản có giá trị khác ngoài vật, tiền để bổ sung vào điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015 nhằm bảo đảm tính toàn diện, bao quát hết các hình thức tài sản có giá trị hiện nay.
Điểm b khoản 1 Điều 47 có thể sửa đổi theo hướng như sau:
“Điều 47. Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm
...
b) Vật, tiền hoặc tài sản có giá trị dưới hình thức khác do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có; khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội”.
Ba là, sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 49 BLHS năm 2015 theo hướng không quy định về thẩm quyền của Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự vì trường hợp này không phải vụ việc, vụ án thuộc thủ tục tố tụng hình sự; trách nhiệm này thuộc thẩm quyền của chính quyền địa phương và cơ quan chức năng.
Bốn là, sửa đổi khoản 2 Điều 49 BLHS năm 2015 theo hướng quy định bổ sung Viện kiểm sát có thẩm quyền trong áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người phạm tội trước khi bị kết án (bao gồm cả giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử), cụ thể như sau:
“Điều 49. Bắt buộc chữa bệnh
...
2. Đối với người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự”.
Năm là, bổ sung Điều 49 BLHS năm 2015 theo hướng cho phép trừ thời gian áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh ở giai đoạn khởi tố, điều tra vào thời gian chấp hành án phạt tù, cụ thể:
“Điều 49. Bắt buộc chữa bệnh
...
3. Đối với người đang chấp hành hình phạt tù mà bị bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, nếu không có lý do khác để miễn chấp hành hình phạt, thì người đó phải tiếp tục chấp hành hình phạt.
4. Thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù”.