Bài viết so sánh một số quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và Liên bang Nga về biện pháp tạm giam được áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự; qua đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Trong hệ thống pháp luật tố tụng các quốc gia trên thế giới, Liên bang Nga là một đất nước trải qua quá trình hoàn thiện lâu dài từ mô hình tố tụng hình sự tranh tụng (từ thời điểm tiến hành cuộc cải cách tư pháp lớn năm 1864 bằng các quy tắc của Sa hoàng Eecaterina Đệ nhị) đến khi Cách mạng tháng Mười năm 1917 thành công, Nhà nước Liên bang Xô-viết cải cách thiên về áp dụng mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn. Tuy nhiên, sau sự sụp đổ của Liên bang Xô-viết, sự phát triển của mô hình tố tụng hình sự nước Nga có xu hướng thiên về tiếp thu nhiều yếu tố của mô hình tố tụng hình sự tranh tụng. Vì vậy, mô hình tố tụng của Liên bang Nga có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam. Trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, đến nay Liên bang Nga đã có một hệ thống pháp luật luật đồ sộ, trong đó bao gồm các quy định về biện pháp ngăn chặn tạm giam. Vì vậy, bên cạnh việc nghiên cứu, đánh giá các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 (gọi tắt là BLTTHS Việt Nam) về biện pháp tạm giam thì việc nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm lập pháp cũng như bảo đảm áp dụng pháp luật của nước ngoài nói chung và Liên bang Nga nói riêng có ý nghĩa quan trọng.
1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và Liên bang Nga về biện pháp tạm giam
Tương tự quy định của BLTTHS Liên bang Nga, biện pháp tạm giam trong BLTTHS Việt Nam cũng được quy định chặt chẽ về căn cứ áp dụng, thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, thời hạn tạm giam và hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp tạm giam.
Thứ nhất, về căn cứ tạm giam:
Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam quy định tạm giam có thể áp dụng đối với: Bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng. Riêng đối với bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật Hình sự (BLHS) quy định hình phạt tù trên 02 năm, BLTTHS năm 2015 đã quy định rõ các căn cứ khi áp dụng tạm giam, phải thuộc một trong các trường hợp sau: Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm; không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can; bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã; có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật, tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này. Đồng thời, BLTTHS Việt Nam mở rộng thêm một trường hợp có thể tạm giam là đối với bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã. Việc mở rộng thêm đối tượng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam là phù hợp với thực tiễn và chính sách hình sự của nước ta vì trong trường hợp đối tượng phạm tội nhiều lần hoặc sau khi phạm tội bỏ trốn là thể hiện mức cao hơn tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, cần phải được áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam nếu xét thấy cần thiết.
Tuy nhiên, tác giả thấy rằng việc quy định căn cứ tạm giam dựa vào việc phân loại tội phạm là chưa thực sự chặt chẽ, dễ dẫn đến việc lạm dụng tạm giam trong những trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, rất nghiêm trọng. Ngoài ra, BLTTHS năm 2015 cũng quy định: Đối với hai loại tội phạm là nghiêm trọng và ít nghiêm trọng thì chỉ được áp dụng biện pháp tạm giam khi có đủ hai điều kiện: Một là, BLHS quy định hình phạt tù trên 02 năm; hai là thuộc một trong các trường hợp luật định được quy định tại khoản 2 Điều 119 BLTTHS. Từ đó dẫn đến các trường hợp bị can phạm tội ít nghiêm trọng nhưng có khung hình phạt dưới 02 năm tù thì không được tạm giam, kể cả trong trường hợp họ có thể trốn, tiêu hủy chứng cứ, cản trở điều tra... hoặc đã bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm… theo căn cứ tại điểm a khoản 2 Điều 119 BLTTHS. Điều này đã gây khó khăn cho quá trình điều tra vì nếu không áp dụng tạm giam trong trường hợp này thì biện pháp ngăn chặn nào sẽ được áp dụng khi các biện pháp ngăn chặn khác đều đã được áp dụng và có vi phạm.
Trong khi đó, theo Điều 108 BLTTHS Liên bang Nga, tạm giam là biện pháp ngăn chặn được áp dụng theo quyết định của Toà án đối với người bị tình nghi, bị cáo phạm tội mà BLHS quy định hình phạt tước quyền tự do có thời hạn trên ba năm, mà không thể áp dụng một biện pháp ngăn chặn khác nhẹ hơn. Trong trường hợp áp dụng biện pháp ngăn chặn là tạm giam thì trong quyết định cần nêu rõ những tình tiết cụ thể mà Tòa án sử dụng là căn cứ để ra quyết định này. Trong những trường hợp đặc biệt, biện pháp ngăn chặn này có thể được áp dụng đối với người bị tình nghi, bị can về tội mà tội phạm này được quy định trong Luật hình sự có mức phạt tù đến 03 năm nếu có một trong các tình tiết sau: Không có nơi cư trú thường xuyên trên lãnh thổ Liên bang Nga; không xác định được chính xác nhân thân của họ; họ đã vi phạm biện pháp ngăn chặn khác đã được áp dụng với họ trước đó; họ đã trốn tránh Cơ quan điều tra hoặc Tòa án. Ngoài ra, Điều 97 BLTTHS Liên bang Nga cũng được coi là một căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, nghi phạm nếu có đủ căn cứ cho rằng bị can, nghi phạm: (1) Trốn tránh việc điều tra ban đầu, điều tra dự thẩm hoặc xét xử; (2) Có thể tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội; (3) Có thể đe dọa người làm chứng, những người khác tham gia tố tụng hình sự, tiêu huỷ chứng cứ, cũng như có những hành vi khác cản trở hoạt động tố tụng đối với vụ án. Điều 99 BLTTHS Liên bang Nga còn nhấn mạnh các trường hợp được tính đến khi áp dụng biện pháp ngăn chặn, đó là: Khi giải quyết vụ án cần phải tạm giam bị can, bị cáo ngoài những lý do được quy định tại Điều 97, Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên, Tòa án có thể căn cứ vào mức độ nghiêm trọng của hành vi, nhân thân của bị can, bị cáo, nghề nghiệp, tình trạng sức khỏe, tình trạng hôn nhân, tuổi tác, trình độ học thức và những tình tiết khác.
Như vậy, quy định về căn cứ tạm giam theo BLTTHS Liên bang Nga có phần tiến bộ hơn khi không phụ thuộc vào phân loại tội phạm mà chỉ có hai mốc xác định là tội phạm đó có quy định hình phạt tù trên 03 năm và có thể áp dụng dưới 03 năm trong những trường hợp đặc biệt. Ngoài ra, BLTTHS Liên bang Nga còn quy định: “Trong trường hợp áp dụng biện pháp ngăn chặn là tạm giam thì trong quyết định cần nêu rõ những tình tiết cụ thể mà Tòa án sử dụng là căn cứ để ra quyết định này”. Đây cũng là căn cứ giúp hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam một cách tùy tiện. Việc lấy mốc hình phạt tù “trên 03 năm” và “đến 03 năm”, cũng như cách thiết kế căn cứ tạm giam theo hướng không chỉ dựa vào quy định mức hình phạt tù mà xây dựng những căn cứ chung cho việc tạm giam là các hành vi cụ thể của bị can bị cáo, để khi thuộc một trong những căn cứ này thì bị can, bị cáo sẽ bị tạm giam bất kể thuộc loại tội phạm nào cũng thể hiện tính nghiêm khắc của biện pháp tạm giam cần cân nhắc khi áp dụng.
Thứ hai, về đối tượng có thể bị áp dụng tạm giam:
Theo Điều 119 BLTTHS Việt Nam, đối tượng có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam chỉ có thể là bị can, bị cáo. Ngoài ra, Bộ luật còn quy định bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng phải có đủ 02 điều kiện “có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng” thì không áp dụng biện pháp tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ các trường hợp được liệt kê tại các điểm a, b, c, d khoản 4 Điều 119 Bộ luật này.
Theo khoản 1 Điều 108 BLTTHS Liên bang Nga, đối tượng có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam gồm người bị tình nghi hoặc bị can.
Có thể thấy về quy định này, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam có điểm tiến bộ hơn pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga khi giới hạn một số trường hợp đối tượng đặc biệt không bị áp dụng (bao gồm phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng) và những trường hợp loại trừ này chỉ mất hiệu lực khi các đối tượng này thực hiện hành vi gây khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền trong việc xác định sự thật vụ án. Đây là quy định thể hiện nguyên tắc nhân đạo trong pháp luật Việt Nam nói chung, về quy định áp dụng biện pháp tạm giam nói riêng.
Tuy nhiên, hiện nay khái niệm người già yếu và người bị bệnh nặng vẫn chưa được giải thích rõ ràng. Do đó, cần hoàn thiện quy định theo hướng ban hành văn bản hướng dẫn giải thích cụ thể về đối tượng này để áp dụng được khách quan, chính xác trong công tác giải quyết vụ án hình sự.
Thứ ba, về thẩm quyền áp dụng:
Thẩm quyền ra quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam theo pháp luật Việt Nam thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án nên các cơ quan này đều có quyền ra lệnh, quyết định tạm giam. Đối với Cơ quan điều tra khi ra lệnh tạm giam cần có quyết định phê chuẩn của Viện kiểm sát. Trong khi đó ở Nga, thẩm quyền ra lệnh bắt chỉ có Tòa án nên cũng chỉ có Tòa án mới được quyền ra quyết định tạm giam.
Thứ tư, thủ tục tạm giam:
Từ sự khác nhau về thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam giữa pháp luật Việt Nam và Liên bang Nga nên trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp tạm giam của hai nước cũng thể hiện sự khác nhau rõ nét. Bộ luật Tố tụng hình sự Liên bang Nga quy định thủ tục tạm giam để xem xét quyết định có tạm giam hay không đối với bị can, bị cáo phải thông qua việc mở phiên tòa. Trong khi đó, BLTTHS Việt Nam quy định Viện kiểm sát đã có quyền xem quyết định tạm giam bị can bị cáo hay không, không bắt buộc phải thông qua việc mở phiên tòa. Quyết định tạm giam theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam có hiệu lực thi hành ngay và không bị kháng cáo, kháng nghị và giải quyết theo trình tự phúc thẩm hay tái thẩm, giám đốc thẩm. Theo pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga thì quyết định của Thẩm phán về việc áp dụng biện pháp tạm giam hoặc từ chối áp dụng biện pháp ngăn chặn này có thể bị khiếu nại lên Toà án cấp trên theo thủ tục phúc thẩm và quyết định của Toà án cấp phúc thẩm có thể tiếp tục bị khiếu nại lên Toà án cấp giám đốc thẩm.
Thứ năm, về thời hạn tạm giam:
Theo quy định của BLTTHS Việt Nam, thời hạn tạm giam được quy định cụ thể trong từng giai đoạn tố tụng như: Điều tra (Điều 173), truy tố (Điều 241), chuẩn bị xét xử sơ thẩm (Điều 278), sau khi tuyên án (Điều 329), xét xử phúc thẩm (Điều 347). Theo đó, thời hạn tạm giam được xác định theo từng loại tội phạm mà bị can, bị cáo bị khởi tố và thời hạn các giai đoạn tố tụng tương ứng. Việc gia hạn tạm giam trong giai đoạn điều tra có thể được thực hiện nhiều lần dựa theo tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi mà người bị tạm giam đã thực hiện.
Theo BLTTHS Liên bang Nga, thời hạn tạm giam quy định chung cho tất cả các loại tội và chỉ khi gia hạn tạm giam mới chia theo loại tội. Cụ thể, thời hạn tạm giam bao gồm thời hạn tạm giam để điều tra, thời gian tạm giam trong quá trình điều tra sơ thẩm và thời hạn tạm giam trong quá trình xét xử trước khi xét xử. Theo đó, thời hạn tạm giam trong giai đoạn điều tra lại được tính từ khi người bị tình nghi, bị can bị tạm giam cho đến khi Kiểm sát viên chuyển vụ án đến Toà án, tức là bao trùm cả giai đoạn truy tố.
Qua nghiên cứu về thời hạn tạm giam trong BLTTHS năm 2015, theo tác giả, thời hạn tạm giam hiện nay còn tương đối dài; thời hạn điều tra và thời hạn tạm giam để điều tra không đồng nhất với nhau dẫn đến bất cập như thời hạn điều tra vẫn còn nhưng thời hạn tạm giam đã hết.
2. Một số kiến nghị hoàn thiện
Qua nghiên cứu các quy định về biện pháp tạm giam trong BLTTHS năm 2015 của Việt Nam và quy định pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga, tác giả đề xuất hoàn thiện một số vấn đề sau:
Một là, cần hoàn thiện quy định căn cứ tạm giam dựa vào những tình tiết có khả năng thực tế có thể xảy ra một sự việc phạm tội khác, bỏ trốn hoặc cản trở hoạt động tố tụng dẫn đến cần phải tạm giam mà không chỉ dựa vào phân loại tội phạm. Vấn đề này có thể tham khảo kinh nghiệm của Liên bang Nga trong việc lấy mốc hình phạt tù “trên 03 năm” và “đến 03 năm” kèm theo những tình tiết nói trên để hạn chế việc lạm dụng biện pháp tạm giam trong thực tế, mà chỉ tạm giam trong trường hợp thật cần thiết.
Qua nghiên cứu các mẫu văn bản tố tụng như: Lệnh tạm giam (Mẫu số 80), Đề nghị phê chuẩn Lệnh tạm giam (Mẫu số 81), Đề nghị gia hạn tạm giam (Mẫu số 83) ban hành theo Thông tư số 119/2021/TT-BCA ngày 08/12/2021 quy định biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về điều tra hình sự và các biểu mẫu Quyết định tạm giam (Mẫu số 04-HS, 05-HS, 06-HS, 07-HS, 08-HS, 09-HS, 10-HS) ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐTP ngày 19/9/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về ban hành một số biểu mẫu trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của BLTTHS thấy rằng: Các biểu mẫu này không yêu cầu xác định rõ căn cứ mà cơ quan có thẩm quyền dựa vào quyết định áp dụng biện pháp tạm giam là gì. Vì vậy, cần quy định rõ “Trong trường hợp áp dụng biện pháp tạm giam thì trong quyết định cần nêu rõ những tình tiết cụ thể đã sử dụng làm căn cứ để ra quyết định này”.
Hai là, cần ban hành văn bản hướng dẫn giải thích cụ thể người già yếu, người bị bệnh nặng để áp dụng thống nhất, khách quan, chính xác trong thực tiễn công tác giải quyết vụ án hình sự.
Ba là, khi quy định thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, cần phân định rõ ràng thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam của cơ quan này và xây dựng cơ chế kiểm soát tạm giam giữa các cơ quan để hạn chế sai phạm trong áp dụng biện pháp ngăn chặn này.
Bốn là, cần hoàn thiện quy định về thời hạn tạm giam theo hướng rút ngắn thời hạn áp dụng biện pháp này chỉ khoảng 1/2 hoặc 1/3 so với thời hạn được quy định hiện nay và đồng bộ, thống nhất giữa thời hạn tạm giam để điều tra với thời hạn điều tra.