Hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự được xem như là “cánh tay nối dài” trong hoạt động hợp tác quốc tế về thu hồi tài sản do phạm tội mà có trong lĩnh vực hình sự. Thời gian gần đây, mặc dù hoạt động hợp tác quốc tế trong thu hồi tài sản đã đạt được kết quả rất đáng khích lệ nhưng trên thực tiễn vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.
1. Một số kết quả công tác tương trợ tư pháp về hình sự trong thu hồi tài sản
- Kết quả tiếp nhận, giải quyết yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự (TTTPHS) của cơ quan tiến hành tố tụng trong nước đề nghị nước ngoài hỗ trợ thực hiện (yêu cầu TTTPHS đi):
Trong giai đoạn 2012 - 2024, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã tiếp nhận, giải quyết 2.805 yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng trong nước đề nghị nước ngoài hỗ trợ thực hiện, trong đó, số yêu cầu có nội dung đề nghị thu hồi tài sản là 10 yêu cầu (chiếm 0,28% tổng số TTPHS đi). Các yêu cầu TTTPHS đi về thu hồi tài sản này được gửi đến cơ quan có thẩm quyền của các nước như Xinh-ga-po, Lào, Cam-pu-chia và Vương quốc Anh, Hồng Kông, Trung Quốc… để thực hiện.
Trong các yêu cầu TTTPHS đi về thu hồi tài sản trong vụ án tham nhũng, kinh tế liên quan đến chức vụ ghi nhận các loại tội phạm chủ yếu là: Tham ô tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản; rửa tiền; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; vi phạm quy định về quản lý và sử dụng đất đai; vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng.
Việc thực hiện các yêu cầu TTTPHS đi về thu hồi tài sản đã đạt được một số kết quả bước đầu. Số lượng yêu cầu đã thực hiện toàn bộ và có kết quả là 02 yêu cầu, tương ứng với 20% tổng số yêu cầu TTTPHS đi về thu hồi tài sản trong kỳ thống kê, đó là: (1) Yêu cầu về thu hồi tài sản của Phan Sào Nam tại Xinh-ga-po. Số tiền thu hồi được về cho nhà nước là gần 2,9 triệu đô la Xinh-ga-po, tương ứng xấp xỉ 6,6% tổng số tiền cần thu hồi trong các yêu cầu tương trợ tư pháp về thu hồi tài sản (chưa bao gồm các bất động sản và các tài sản khác) và (2) Yêu cầu thu hồi tài sản của Giang Kim Đạt tại Xinh-ga-po với số tiền khoảng 8,8 triệu đô la Xinh-ga-po. Đối với yêu cầu về thu hồi tài sản khác, phía nước ngoài đã tiếp nhận và vẫn đang trong quá trình trao đổi thông tin với cơ quan có thẩm quyền Việt Nam để xem xét thực hiện.
- Kết quả tiếp nhận, giải quyết yêu cầu TTTPHS của cơ quan tiến hành tố tụng nước ngoài đề nghị Việt Nam thực hiện (yêu cầu TTTPHS đến):
Trong giai đoạn 2012 - 2024, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã tiếp nhận, giải quyết 960 yêu cầu TTTPHS đến, trong đó, đề nghị thu hồi tài sản là 01 yêu cầu, tương ứng 0,1% tổng số yêu cầu TTTPHS đến. Các yêu cầu trên chủ yếu được lập và gửi từ cơ quan có thẩm quyền của các nước như: Cộng hòa Séc, Xinh-ga-po, Hàn Quốc, Cộng hòa Kosovo, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Thụy Sỹ, Xlô-va-ki-a, Ba Lan, Lít-va, Ca-dắc-xtan và U-crai-na.
Nhìn chung, việc giải quyết yêu cầu TTTPHS cơ bản đáp ứng về thời hạn, thủ tục theo yêu cầu, thể hiện trách nhiệm và thiện chí, nỗ lực của Việt Nam trong hợp tác quốc tế đấu tranh với tội phạm tham nhũng, kinh tế liên quan đến chức vụ. Kết quả thực hiện yêu cầu tương trợ đã hỗ trợ cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và nước ngoài trong quá trình điều tra, truy tố xét xử và bù đắp những thất thoát về tài sản do loại tội phạm này gây ra. Tuy nhiên, đối với các yêu cầu TTTPHS đi có nội dung về thu hồi tài sản, tỉ lệ số lượng giải quyết, kết quả thực hiện và số tiền thu hồi được còn thấp, thời gian giải quyết yêu cầu TTTPHS đi về thu hồi tài sản kéo dài. Đồng thời, các yêu cầu này phát sinh từ việc giải quyết chủ yếu các vụ án lớn, trọng điểm, dư luận quan tâm. Qua theo dõi cho thấy, các yêu cầu có nội dung thu hồi tài sản được gửi đi chủ yếu gửi đến các nước ở khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là Xinh-ga-po.
Đối với các yêu cầu TTTPHS đến, số liệu thống kê trên phản ánh rõ tỉ lệ tiếp nhận, giải quyết, kết quả thực hiện các yêu cầu TTTPHS đến về thu hồi tài sản là rất thấp. Phía Việt Nam cũng chưa thực hiện được và chưa hoàn trả lại tài sản do phạm tội mà có theo yêu cầu của phía nước ngoài. Điều này cho thấy vẫn còn nhiều bất cập trong việc giải quyết các yêu cầu tương trợ tư pháp trong lĩnh vực này.
2. Một số khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân
Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động TTTPHS về thu hồi tài sản vẫn còn gặp một số khó khăn, vướng mắc, điển hình là việc thực hiện một số yêu cầu TTTPHS còn kéo dài; kết quả tương trợ chưa đáp ứng yêu cầu hoặc thậm chí không có phản hồi gây ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng giải quyết vụ án và hiệu quả thu hồi tài sản. Những khó khăn vướng mắc này xuất phát từ nhiều nguyên nhân cụ thể:
Một là, sự khác biệt về hệ thống pháp luật giữa Việt Nam và nước ngoài gây ảnh hưởng đến quá trình giải quyết các yêu cầu TTTPHS. Ví dụ: Trong vụ án Giang Kim Đạt, yêu cầu tương trợ của Việt Nam gửi Vương quốc Anh không thể thực hiện được do phía Anh yêu cầu phía Việt Nam phải đưa ra cam kết không thi hành hình phạt tử hình, trong khi đó pháp luật Việt Nam không quy định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền lập cam kết này. Bên cạnh đó, đối với các yêu cầu này, để có thể hỗ trợ được Việt Nam, các nước thường yêu cầu phải cung cấp thêm nhiều thông tin, tài liệu, giải thích để đáp ứng những yêu cầu pháp luật của nước ngoài, khiến thời gian giải quyết tương trợ bị kéo dài.
Hai là, pháp luật Việt Nam chưa quy định chi tiết về trình tự, thủ tục thu hồi tài sản và chưa nội luật hóa đầy đủ các quy định trong Công ước Liên hợp quốc về phòng chống tham nhũng (UNCAC). Một số vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện TTTPHS mà pháp luật Việt Nam chưa quy định điều chỉnh như: (i) Thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập cam kết không thi hành án tử hình khi có đề nghị của nước ngoài để nhằm thực hiện yêu cầu TTTPHS của Việt Nam; (ii) Chuyển hóa tố tụng (quy trình thủ tục để công nhận, thực hiện các lệnh, quyết định của nước ngoài tại Việt Nam); (iii) Thẩm quyền, thủ tục trong phong tỏa, tạm giữ, tịch thu và trả lại tài sản cho nước nước ngoài theo yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự.
Ba là, việc ký kết hiệp định tương trợ giữa các nước dựa trên thiện chí của các bên nên số lượng hiệp định song phương hiện tại mà Việt Nam ký kết với các nước còn hạn chế. Với các nước chưa có hiệp định song phương với Việt Nam, việc hợp tác chỉ dựa trên nguyên tắc “có đi có lại” mà chưa mang tính ràng buộc về pháp lý.
Bốn là, Việt Nam là thành viên các cơ chế hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thu hồi tài sản do phạm tội mà có, như: Nhóm hợp tác chống rửa tiền Châu Á - Thái Bình Dương (APG), Mạng lưới liên cơ quan về thu hồi tài sản do phạm tội mà có thuộc Châu Á-Thái Bình Dương (ARIN-AP)… Tuy là thành viên nhưng Việt Nam vẫn còn gặp nhiều rào cản trong quy định nội luật và cơ chế phối hợp để phục vụ công tác thu hồi tài sản.
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tương trợ tư pháp về hình sự liên quan đến thu hồi tài sản trong tố tụng hình sự
Để nâng cao hiệu quả công tác TTTPHS trong thu hồi tài sản, tác giả đề xuất một số giải pháp và kiến nghị sau:
Thứ nhất, cần hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước: Trước mắt là nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về tương trợ tư pháp hình sự; đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định đặc thù trong hoạt động tương trợ tư pháp liên quan đến công tác thu hồi tài sản, bao gồm: (i) Thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập cam kết không thi hành án tử hình khi có đề nghị của nước ngoài để nhằm thực hiện yêu cầu của Việt Nam; (ii) Chuyển hóa tố tụng (quy trình thủ tục để công nhận, thực hiện các lệnh, quyết định của nước ngoài tại Việt Nam); (iii) Thẩm quyền, thủ tục trong phong tỏa, tạm giữ, tịch thu và trả lại tài sản cho nước ngoài theo yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự.
Thứ hai, tăng cường phối hợp công tác giữa các cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng trong nước; giữa cơ quan trung ương về tương trợ tư pháp hình sự với các cơ quan có thẩm quyền nước ngoài. Đối với quan hệ phối hợp giữa cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng trong nước, các Điều tra viên, Thẩm phán và Kiểm sát viên cần phải chủ động trao đổi, phối hợp và kịp thời yêu cầu, tham vấn cơ quan trung ương để hỗ trợ trong quá trình giải quyết vụ án, đặt biệt là các vụ tham nhũng, kinh tế liên quan đến chức vụ có yếu tố nước ngoài. Viện kiểm sát nhân dân các địa phương cần quan tâm làm tốt công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự tại địa phương mình; phối hợp chặt chẽ với Cơ quan điều tra cùng cấp trong việc lập hồ sơ ủy thác tư pháp trong các vụ án có yếu tố nước ngoài và thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài; kịp thời phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, giữa hai cơ quan này với Vụ 13 Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc lập, gửi, bổ sung thông tin yêu cầu tương trợ cho nước ngoài; giữa cơ quan trung ương về tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và nước ngoài nhằm bảo đảm hiệu quả quá trình liên hệ, đôn đốc thực hiện, có kết quả tương trợ. Đối với quan hệ phối hợp giữa cơ quan trung ương về tương trợ tư pháp hình sự với các cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, cần chủ động nắm bắt cơ hội trao đổi, thu thập kinh nghiệm, kiến thức pháp luật của các nước thông qua các chuyên án, diễn đàn, hội nghị, khóa tập huấn...
Thứ ba, tăng cường các hoạt động điều tra tài chính trong các vụ án tham nhũng, bổ sung cơ sở vững chắc cho các yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự đề nghị nước ngoài thu hồi tài sản; các cơ quan tiến hành tố tụng cần chú trọng, phối hợp thu thập tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho các yêu cầu về thu hồi tài sản tham nhũng để cung cấp cho nước được yêu cầu khi xem xét thực hiện tương trợ cho phía Việt Nam; Tòa án nhân dân có thẩm quyền, khi xét xử vụ án tham nhũng có tài sản ở nước ngoài cần được thu hồi, lưu ý tuyên cụ thể phần tài sản do hành vi tham nhũng mà có đang tồn tại ở nước ngoài cần tịch thu, trả lại cho Nhà nước Việt Nam. Tăng cường sử dụng các kênh hợp tác phi chính thức bên cạnh kênh tương trợ tư pháp về hình sự và tuân thủ quy trình theo thông lệ quốc tế hiện nay; theo đó, ngay từ giai đoạn đầu của các hoạt động tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng nên kết hợp sử dụng các kênh hợp tác phi chính thức (hợp tác thông qua Interpol, Cơ quan đặc nhiệm tình báo tài chính...) để thu thập thông tin ban đầu về tài sản, tài khoản, chủ sở hữu và đề nghị áp dụng các biện pháp tạm ngừng giao dịch, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản; đồng thời kết hợp với việc lập yêu cầu TTTPHS liên quan đến thu hồi tài sản với đầy đủ thông tin, đáp ứng được chuẩn mực pháp lý theo đòi hỏi của nước được yêu cầu đề nghị của Việt Nam có thể được thực hiện kịp thời, hiệu quả.
Thứ tư, nâng cao nhận thức của người tiến hành tố tụng về vai trò của hoạt động tương trợ tư pháp trong công tác thu hồi tài sản. Đặc biệt đối với cán bộ Kiểm sát, Kiểm sát viên, cần kiểm sát chặt chẽ xuyên suốt quá trình tố tụng từ giai đoạn tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, nếu nhận thấy nội dung vụ việc vượt ra ngoài ranh giới quốc gia thì chủ động nghiên cứu, cân nhắc, đề xuất việc ban hành các văn bản tố tụng (lệnh, quyết định) để ngăn ngừa việc tẩu tán tài sản; đồng thời, phối hợp với Vụ 13 Viện kiểm sát nhân dân tối cao để lập tương trợ tư pháp gửi đi nước ngoài nhằm hỗ trợ việc thu hồi tài sản ở nước ngoài. Bên cạnh đó, chú trọng việc nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác hợp tác quốc tế và tương trợ tư pháp về hình sự; tiếp tục kiện toàn bộ máy làm công tác tương trợ tư pháp về hình sự; thường xuyên tổ chức các chương trình đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ cho cán bộ làm công tác tương trợ tư pháp về hình sự; tăng cường điều kiện đảm bảo về cơ sở vật chất để phục vụ tốt hơn các hoạt động hợp tác quốc tế và tương trợ tư pháp về hình sự.