Hiện nay, các tranh chấp kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài ngày càng tăng, với tính chất ngày càng phức tạp, xảy ra trên nhiều quan hệ như mua bán hàng hóa, hợp tác đầu tư, sở hữu trí tuệ, xây dựng, tín dụng, bảo hiểm... Việc giải quyết loại án này gặp nhiều khó khăn do pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế có nhiều quy định chưa tương thích.
1. Về việc áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài
Vụ án kinh doanh, thương mại (KDTM) có yếu tố nước ngoài là vụ án KDTM nói chung được quy định tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015; trong đó các bên tham gia đều có mục đích lợi nhuận, song vụ án này có đặc điểm riêng là “có yếu tố nước ngoài”. Theo khoản 2 Điều 663 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 và khoản 2 Điều 464 BLTTDS năm 2015 và các văn bản khác có liên quan, thì vụ án KDTM có yếu tố nước ngoài thuộc một trong những trường hợp sau: Về chủ thể, có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài (điểm a khoản 2 Điều 464 BLTTDS năm 2015); về quan hệ tranh chấp, các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ KDTM xảy ra tại nước ngoài (điểm b khoản 2 Điều 464 BLTTDS năm 2015); về đối tượng tranh chấp, các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng hoặc tài sản tranh chấp ở nước ngoài (điểm c, khoản 2 Điều 464 BLTTDS năm 2015).
Việc áp dụng pháp luật giải quyết vụ án KDTM có yếu tố nước ngoài có phạm vi rộng hơn rất nhiều so với việc áp dụng pháp luật Việt Nam đối với vụ án KDTM thông thường, bởi không chỉ phải áp dụng pháp luật của Việt Nam, mà tuỳ từng vụ án cụ thể còn phải áp dụng nguồn của pháp luật quốc tế, tập quán thương mại quốc tế hoặc pháp luật của quốc gia khác. Cụ thể như sau:
- Về áp dụng pháp luật tố tụng:
Đối với vụ án KDTM có yếu tố nước ngoài, trước tiên, Kiểm sát viên cần lưu ý áp dụng quy định tại các điều từ 464 đến 481 Phần thứ tám về “Thủ tục giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài” của BLTTDS năm 2015; Luật tương trợ tư pháp năm 2007, Nghị định số 92/2008/NĐ-CP ngày 22/8/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật tương trợ tư pháp; Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/10/2016 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân (TAND) tối cao quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự; Thông tư liên tịch số 01/2019/TTLT-TANDTC-BNG ngày 05/12/2019 của TAND tối cao và Bộ Ngoại giao quy định về trình tự, thủ tục phối hợp giữa Tòa án nhân dân và cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài để thực hiện một số hoạt động tố tụng dân sự và tố tụng hành chính ở nước ngoài (Thông tư liên tịch số 01/2019) và các văn bản liên quan.
Các văn bản pháp luật tố tụng quốc tế áp dụng phổ biến hiện nay là Công ước La Hay năm 1965 về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự, thương mại; Công ước La Hay năm 1970 về thu thập chứng cứ ở nước ngoài trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại, các hiệp định, thỏa thuận tương trợ tư pháp, hiệp định bảo hộ đầu tư song phương, đa phương. Ví dụ: Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự, hình sự giữa Việt Nam và Trung Quốc năm 1998, Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự giữa Việt Nam và Cộng hòa Pháp năm 1999…
- Về áp dụng pháp luật nội dung:
Để thực hiện tốt công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án KDTM có yếu tố nước ngoài, Kiểm sát viên cần nghiên cứu các quy định thuộc Phần thứ năm BLDS năm 2015 về: “Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài”, từ Điều 663 đến Điều 687 quy định những nguyên tắc áp dụng, dẫn chiếu đến pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế, trong đó có những nguyên tắc cơ bản sau:
- Việc áp dụng pháp luật đối với quan hệ KDTM có yếu tố nước ngoài được xác định theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên như: Công ước Viên năm 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế, Bộ quy tắc về thương mại quốc tế (International Commercial Terms - Incoterms), Quy tắc thực hành thống nhất tín dụng chứng từ (The Uniform Customs and Practice for Documentary Credits - UCP); các hiệp định thương mại, đầu tư song phương, đa phương như Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Trung Quốc, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Hoa Kỳ, Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA)[1]…, hoặc pháp luật Việt Nam. Trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc pháp luật Việt Nam có quy định các bên có quyền lựa chọn thì pháp luật áp dụng đối với quan hệ KDTM có yếu tố nước ngoài được xác định theo lựa chọn của các bên. Trường hợp không xác định được pháp luật áp dụng thì áp dụng pháp luật của nước có mối liên hệgắn bó nhất với quan hệ KDTM có yếu tố nước ngoài đó.
- Trường hợp áp dụng pháp luật Việt Nam, Kiểm sát viên cần lưu ý những quy định của BLDS năm 2015 được áp dụng với tư cách là “luật chung”; ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành trong trường hợp có quy định riêng để giải quyết từng vụ án cụ thể, như: Bộ luật hàng hải, Luật thương mại, Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật các tổ chức tín dụng, Luật kinh doanh bất động sản, Luật giao dịch điện tử…
Việc xác định pháp luật áp dụng, điều ước quốc tế, tập quán quốc tế... được quy định từ Điều 664 đến Điều 670 BLDS năm 2015. Tuy nhiên, không phải pháp luật nước ngoài nào cũng được áp dụng để giải quyết vụ việc mà vẫn áp dụng pháp luật Việt Nam nếu thuộc các trường hợp quy định tại Điều 670 BLDS năm 2015, đó là: Hậu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam; nội dung của pháp luật nước ngoài không xác định được mặc dù đã áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật tố tụng.
- Khi văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (trừ Hiến pháp) và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, thì ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế theo khoản 1 Điều 6 Luật điều ước quốc tế năm 2016[2] (được hướng dẫn tương tự tại khoản 1 Điều 5 Luật thương mại năm 2005, khoản 2 Điều 665 BLDS năm 2015).
2. Một số vấn đề cần lưu ý khi kiểm sát việc giải quyết vụ việc kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài
- Về thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án:
Đối với vụ việc KDTM có yếu tố nước ngoài mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc phải ủy thác tư pháp thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo thủ tục sơ thẩm thuộc TAND cấp tỉnh (quy định tại khoản 3 Điều 35 BLTTDS năm 2015). Tuy nhiên, thực tế vẫn còn có sự nhầm lẫn phân biệt vụ án KDTM “có yếu tố nước ngoài” theo Điều 464 BLTTDS năm 2015 với trường hợp có “yếu tố nước ngoài” nói chung (có phạm vi rộng hơn), bao gồm không chỉ các trường hợp tại Điều 464 BLTTDS năm 2015 nói trên mà còn gồm cả những trường hợp nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam để thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc thành lập công ty liên doanh có trụ sở tại Việt Nam. Do vậy, đối với trường hợp này, Kiểm sát viên lưu ý, phải xác định mặc dù có vốn nước ngoài, nhưng doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam thì không phải doanh nghiệp nước ngoài theo quy định nêu trên, nên thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo thủ tục sơ thẩm vẫn thuộc Tòa án cấp huyện.
Như vậy, khi kiểm sát thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa án theo thủ tục sơ thẩm, Kiểm sát viên cần lưu ý không phải vụ án KDTM có yếu tố nước ngoài nào cũng thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp tỉnh, mà phải xem xét vụ án này có đáp ứng đủ điều kiện quy định tại Điều 464 BLTTDS năm 2015 và có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài theo khoản 3 Điều 35 BLTTDS năm 2015 hay không.
- Về việc tống đạt văn bản tố tụng ra nước ngoài:
Thực tiễn cho thấy, khi Tòa án tống đạt văn bản tố tụng từ Việt Nam ra nước ngoài và xử lý tống đạt theo các điều 474, 475 và 477 BLTTDS năm 2015, vẫn có trường hợp còn gặp lúng túng, do có nhiều phương thức tống đạt khác nhau, như: Theo phương thức được quy định tại điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; theo đường ngoại giao đối với đương sự cư trú ở nước mà nước đó và Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế; theo đường dịch vụ bưu chính đến địa chỉ của đương sự đang cư trú ở nước ngoài (với điều kiện pháp luật nước đó đồng ý với phương thức tống đạt này)… Do vậy, Kiểm sát viên cần nắm chắc các phương thức tống đạt đặc thù áp dụng trong từng vụ việc cụ thể, đồng thời nghiên cứu kỹ Luật tương trợ tư pháp năm 2007; Thông tư liên tịch số 01/2019; Công ước La Hay năm 1965 về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự, thương mại và xem xét Việt Nam và nước có liên quan đã ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp hay chưa[3] để áp dụng khi tống đạt văn bản tố tụng. Bên cạnh đó, cần chú ý kiểm sát việc xác định địa chỉ của đương sự ở nước ngoài để tránh trường hợp văn bản tống đạt bị trả lại do ghi không đúng địa chỉ của đương sự[4].
- Về thời hạn tố tụng:
Thời hạn giải quyết vụ việc KDTM có yếu tố nước ngoài thường bị kéo dài do gặp vướng mắc trong việc tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự nước ngoài, xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ ở nước ngoài, nên BLTTDS năm 2015 (các điều 476, 477, 479...) quy định thời hạn tố tụng cũng dài hơn. Ví dụ: Thời hạn kháng cáo của đương sự nước ngoài không có mặt tại phiên tòa là 01 tháng kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án được tống đạt hợp lệ (khoản 2 Điều 479 BLTTDS năm 2015), mà không phải là 15 ngày như đối với bản án sơ thẩm có đương sự ở trong nước.
Do đó, Kiểm sát viên cần lưu ý kiểm sát đúng thời hạn giải quyết của Tòa án đối với loại vụ việc có yếu tố nước ngoài. Tùy từng trường hợp, Viện kiểm sát thực hiện quyền yêu cầu như: Yêu cầu Tòa án có văn bản gửi cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài xác nhận việc tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự; yêu cầu Tòa án hướng dẫn đương sự ủy quyền cho đương sự đại diện tham gia tố tụng (trường hợp vụ việc có nhiều đương sự có cùng quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) để bảo đảm thời hạn giải quyết và đúng thủ tục tố tụng… Trường hợp Tòa án tạm đình chỉ vụ án để đợi kết quả tống đạt, thu thập tài liệu, chứng cứ thì Kiểm sát viên cần kiểm sát căn cứ của việc tạm đình chỉ theo khoản 1 Điều 214 BLTTDS năm 2015 và theo dõi, kiểm sát việc tiếp tục giải quyết vụ án khi lý do tạm đình chỉ không còn theo Điều 216 BLTTDS năm 2015. Trường hợp phát hiện vi phạm về thời hạn giải quyết, thì tùy tính chất, mức độ, Kiểm sát viên đề xuất để Viện kiểm sát thực hiện quyền kiến nghị Tòa án khắc phục vi phạm.
- Về thu thập, đánh giá chứng cứ:
Hồ sơ vụ việc thường có nhiều tài liệu, chứng cứ bằng tiếng nước ngoài như: Hồ sơ năng lực doanh nghiệp, giấy chứng nhận doanh nghiệp, điều lệ doanh nghiệp, báo cáo tài chính, hóa đơn, chứng từ, các loại hợp đồng, giấy tờ giao dịch, tờ khai hải quan, thẻ visa, hộ chiếu, giấy ủy quyền… Khi gửi Tòa án Việt Nam, các loại giấy tờ này phải được hợp pháp hóa lãnh sự và dịch sang tiếng Việt Nam theo điểm a khoản 1 Điều 478 BLTTDS năm 2015.
Mặt khác, chứng cứ là những tài liệu, văn bản tố tụng Tòa án Việt Nam gửi ra nước ngoài cũng phải được dịch thuật đúng. Thực tế có không ít trường hợp chất lượng dịch thuật không bảo đảm, bị phía nước ngoài trả lại, làm kéo dài thời gian giải quyết và gây lãng phí chi phí tống đạt ở những lần tiếp theo. Do đó, Kiểm sát viên phải áp dụng đúng quy định về chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự, hay có những giấy tờ, tài liệu được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo điểm b khoản 1 Điều 478 BLTTDS năm 2015, Điều 9 Nghị định số 111/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ về chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự quy định các giấy tờ, tài liệu được miễn chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự: “Giấy tờ, tài liệu được miễn chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự theo điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước ngoài liên quan đều là thành viên, hoặc theo nguyên tắc có đi có lại”. Danh sách các nước và loại giấy tờ, tài liệu được miễn hợp pháp hóa lãnh sự, chứng nhận lãnh sự được quy định tại Phụ lục 07 ban hành kèm theo Hướng dẫn số 17/HD-VKSTC.
Mặt khác, loại vụ việc này có nhiều chứng cứ điện tử như thư điện tử, facebook, viber, zalo, twitter, telegram… hoặc chứng cứ được tạo lập do ứng dụng công nghệcao. Đây là những chứng cứ rất khó thu thập, dễ bị giả mạo, cắt ghép, nên phải kiểm sát chặt chẽ việc thu thập, đánh giá chứng cứ theo đúng trình tự, thủ tục luật định; yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định cơ quan chuyên môn nếu thấy cần thiết.
Tài liệu tham khảo:
1. Hướng dẫn số 17/HD-VKSTC ngày 31/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về một số nội dung kiểm sát việc giải quyết vụ việc KDTM có yếu tố nước ngoài.
2. Hướng dẫn số 29/HD-VKSTC ngày 25/9/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về một số nội dung trong công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án KDTM.
3. Hướng dẫn số 25/HD-VKSTC ngày 18/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về một số nội dung kiểm sát việc giải quyết vụ án KDTM về “tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
4. Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Hoa Kỳ năm 2000.
5. Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Trung Quốc.
6. Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Đại hàn Dân quốc năm 2003.
7. Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) năm 2018.
8. Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) năm 2019.
9. Bộ quy tắc về thương mại quốc tế (International Commercial Terms).
10. Quy tắc thực hành thống nhất tín dụng chứng từ (The Uniform Customs and Practice for Documentary Credits).
11. TS. Phan Hoài Nam, ThS. Lê Minh Nhựt, “Pháp luật áp dụng cho hợp đồng dịch vụ có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 05/2021.
12. Thái Văn Đoàn,“Nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp KDTM có yếu tố nước ngoài tại Tòa án ở Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản điện tử ngày 07/3/2023.
13. ThS. Võ Hưng Đạt, “Xác định yếu tố nước ngoài theo luật một số nước và kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12/2021.
14. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, 2022, Đề tài khoa học, “Kiểm sát việc giải quyết các vụ án KDTM có yếu tố nước ngoài - Thực trạng và giải pháp”.
[1] Xem thêm Phụ lục 02, 03, 04 và 05 ban hành kèm theo Hướng dẫn số 17/HD-VKSTC ngày 31/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về một số nội dung kiểm sát việc giải quyết vụ việc KDTM có yếu tố nước ngoài (Hướng dẫn số 17/HD-VKSTC).
[2] Điều 6 Luật điều ước quốc tế năm 2016 quy định: “Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp”.
[3] Xem thêm: Phụ lục 03, 06 kèm theo Hướng dẫn số 17/HD-VKSTC.
[4] Về vấn đề này, TAND tối cao có Công văn số 64/TANDTC-HTQT ngày 09/6/2021 về việc ủy thác tư pháp, tống đạt văn bản tố tụng ra nước ngoài; Công văn số 33/TANDTC-HTQT ngày 17/3/2021 về công tác tương trợ tư pháp, tống đạt văn bản tố tụng ra nước ngoài.