Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã ghi nhận về quyền được đại diện đối với con chưa thành niên trong giao dịch dân sự khi cha mẹ ly hôn cũng như việc bảo đảm thực thi quyền này. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành quy định về bảo đảm quyền được đại diện đối với con chưa thành niên trong giao dịch dân sự khi cha mẹ ly còn hôn bộc lộ một số vướng mắc, bất cập cần nghiên cứu để hoàn thiện.
1. Quy định về bảo đảm quyền được đại diện đối với con chưa thành niên trong giao dịch dân sự khi cha mẹ ly hôn
Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 quy định: “Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”. Về bản chất, đại diện là một cơ chế pháp lý cho phép người được đại diện mở rộng khả năng tham gia vào các giao dịch dân sự (GDDS), vượt qua những hạn chế về thời gian, không gian, kiến thức chuyên môn. Người đại diện sẽ thay mặt người được đại diện thực hiện các hành vi pháp lý, phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ cho người được đại diện.
Luật hôn nhân và gia đình (HNGĐ) năm 2014 quy định cha mẹ “đại diện theo quy định của BLDS cho con chưa thành niên” (khoản 3 Điều 69), “cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo pháp luật” (khoản 1 Điều 73). Thực tế cho thấy, ly hôn là một biến cố không mong muốn, không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống của vợ chồng, mà còn tác động sâu sắc đến con chung, đặc biệt là con chưa thành niên. Trong trường hợp này, việc ai sẽ là người đại diện cho quyền và lợi ích của con chưa thành niên trở nên đặc biệt quan trọng, đòi hỏi sự cân nhắc để bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho con chưa thành niên.
Theo Luật trẻ em năm 2016, việc bảo vệ trẻ em được thực hiện theo ba cấp độ sau đây: Phòng ngừa; hỗ trợ; can thiệp (khoản 1 Điều 47). Bảo vệ trẻ em là một nhiệm vụ quan trọng của mọi xã hội, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, gia đình và cộng đồng. Để bảo đảm an toàn và phát triển toàn diện cho trẻ em, việc bảo vệ cần được thực hiện theo ba cấp độ nói trên, mỗi cấp độ có vai trò và chức năng riêng, nhưng đều hướng đến mục tiêu chung là bảo vệ và nâng cao quyền lợi của trẻ em. Như vậy, bảo đảm quyền được đại diện đối với con chưa thành niên trong GDDS khi cha mẹ ly hôn là việc áp dụng các biện pháp để thực thi quyền được đại diện đối với con chưa thành niên trong GDDS khi cha mẹ ly hôn làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự đã được pháp luật ghi nhận, cha mẹ vi phạm nghĩa vụ sẽ phải chịu các chế tài tương ứng.
Việc đại diện của cha mẹ đối với con chưa thành niên trong GDDS khi cha mẹ ly hôn được thể hiện thông qua hai khía cạnh:
Thứ nhất, đại diện của cha mẹ đối với con chưa thành niên trong GDDS nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn.
Theo khoản 2 Điều 73 Luật HNGĐ năm 2014 thì: “Cha hoặc mẹ có quyền tự mình thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con chưa thành niên…”. Như vậy, đối với các giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con chưa thành niên thì cha hoặc mẹ có quyền tự mình thực hiện. “Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình” (khoản 20 Điều 3 Luật HNGĐ năm 2014), quy định này thể hiện sự quan tâm của pháp luật đối với việc bảo đảm quyền lợi cơ bản của con chưa thành niên, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho cha mẹ trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con sau ly hôn, tránh tình trạng trì hoãn hoặc tranh chấp không đáng có. Ví dụ: Cha hoặc mẹ có thể tự mình mua sắm quần áo, sách vở, dụng cụ học tập cho con, đưa con đi khám bệnh, chữa bệnh, tự mình đóng học phí, chi phí sinh hoạt cho con. Như vậy, quy định này cho phép cha mẹ tự mình thực hiện các giao dịch liên quan đến việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con, mà không cần sự đồng ý của người còn lại bảo đảm lợi ích tối ưu cho con chưa thành niên, không được vì lợi ích cá nhân của cha mẹ.
Thứ hai, đại diện của cha mẹ đối với con chưa thành niên trong GDDS liên quan đến tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, tài sản đưa vào kinh doanh của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn.
Khoản 3 Điều 73 Luật HNGĐ năm 2014 quy định: “Đối với giao dịch liên quan đến tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, tài sản đưa vào kinh doanh của con chưa thành niên… thì phải có sự thỏa thuận của cha mẹ”. Trong xã hội hiện đại, việc quản lý và bảo vệ tài sản của con chưa thành niên là một vấn đề quan trọng. Để bảo đảm quyền lợi của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn, pháp luật Việt Nam đã quy định đối với giao dịch liên quan đến tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, tài sản đưa vào kinh doanh của con chưa thành niên, thì phải có sự thỏa thuận của cha mẹ. Quy định này có tầm quan trọng lớn trong việc bảo đảm quyền của con chưa thành niên cũng như đảm bảo tính hợp pháp của các giao dịch.
Về nguyên tắc, cha mẹ phải đồng ý với việc thực hiện giao dịch như nội dung, đối tượng, giá trị giao dịch… Đồng thời, cha mẹ có quyền định đoạt tài sản riêng của con vì lợi ích của con, nếu con từ đủ 09 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ (các khoản 1, 2 Điều 77 Luật HNGĐ năm 2014). Điều này thể hiện sự tôn trọng ý kiến của con chưa thành niên, tạo điều kiện cho con tham gia vào việc quản lý tài sản của mình; đồng thời, nhằm bảo vệ con chưa thành niên khỏi những rủi ro tiềm ẩn khi tự ý thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản có giá trị cao, tránh tình trạng bị lạm dụng hoặc xảy ra giao dịch không phù hợp với lợi ích của con chưa thành niên. Ngoài ra, tạo điều kiện thuận lợi, nâng cao trách nhiệm của cha mẹ, khuyến khích cha mẹ hợp tác và tương trợ với nhau để bảo đảm lợi ích của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn.
Để bảo đảm quyền được đại diện đối với con chưa thành niên trong GDDS khi cha mẹ ly hôn, biện pháp thực thi quyền được đặt ra là thông qua thực hiện trách nhiệm của cha mẹ và thông qua phán quyết của Tòa án. Trường hợp cha hoặc mẹ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con chưa thành niên và phải có sự thỏa thuận của cha mẹ đối với giao dịch liên quan đến tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, tài sản đưa vào kinh doanh của con chưa thành niên thì cha, mẹ phải chịu trách nhiệm liên đới về việc thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản của con (khoản 4 Điều 73 Luật HNGĐ năm 2014), nghĩa là nếu có bất kỳ vi phạm nào trong quá trình thực hiện giao dịch, cả cha và mẹ đều có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý. Quy định này bảo đảm quyền lợi về tài sản của con chưa thành niên không bị xâm phạm, tránh tình trạng cha mẹ lợi dụng quyền được đại diện để thực hiện giao dịch trái pháp luật, gây thiệt hại cho con. Đồng thời, thúc đẩy sự minh bạch, nâng cao ý thức trách nhiệm của cha mẹ trong việc bảo vệ quyền lợi của con và khuyến khích cha mẹ tham gia vào việc quản lý tài sản của con một cách minh bạch, hợp pháp. Quy định trên cũng cho phép bên thứ ba (bên có quyền) có quyền yêu cầu bất cứ ai (cha hoặc mẹ) phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ xuất phát từ các giao dịch nêu trên. Quy định này bảo đảm quyền lợi của bên thứ ba trong các giao dịch liên quan đến tài sản của con chưa thành niên, tránh trường hợp bên thứ ba bị thiệt hại do cha mẹ không thực hiện nghĩa vụ.
2. Một số vướng mắc, bất cập về bảo đảm quyền được đại diện đối với con chưa thành niên trong giao dịch dân sự khi cha mẹ ly hôn
Thứ nhất, pháp luật hiện hành không quy định người không trực tiếp nuôi con thì có quyền tự mình thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con chưa thành niên hay không và người còn lại có phải chịu trách nhiệm liên đới liên quan đến các giao dịch đó hay không.
Ví dụ: A và B ly hôn, theo đó, A được Tòa án quyết định là người trực tiếp nuôi con chung là C. Như vậy, B có được quyền tự mình thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của C hay không và trong trường hợp đó A có phải chịu trách nhiệm liên đới liên quan đến giao dịch do B đại diện cho C thực hiện hay không?
Về mặt lý thuyết, có thể hiểu rằng người không trực tiếp nuôi con vẫn có quyền và trách nhiệm đối với con, bao gồm cả việc thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con. Tuy nhiên, việc thực hiện giao dịch này cần được thực hiện theo nguyên tắc tốt nhất cho con, không được trái với quyền và lợi ích hợp pháp của người trực tiếp nuôi con.
Về trách nhiệm liên đới, theo quy định của BLDS năm 2015, khi người đại diện thực hiện GDDS, người được đại diện phải chịu trách nhiệm về giao dịch đó, trừ trường hợp người đại diện vượt quá phạm vi đại diện hoặc không tuân theo ý chí của người được đại diện. Trong trường hợp B đại diện cho C thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của C, nếu giao dịch đó được thực hiện theo nguyên tắc tốt nhất cho C và không trái với quyền, lợi ích hợp pháp của A, thì có thể coi rằng A phải chịu trách nhiệm liên đới về giao dịch đó.
Thứ hai, pháp luật chưa quy định rõ ràng giải pháp xử lý đối với trường hợp cha hoặc mẹ không thống nhất thỏa thuận đối với giao dịch liên quan đến tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, tài sản đưa vào kinh doanh của con chưa thành niên.
Thực tiễn, khi cha mẹ ly hôn, họ có thể có quan điểm khác nhau về quyền đại diện của mình đối với con chưa thành niên và điều này có thể dẫn đến sự không đồng ý về việc đại diện cho con chưa thành niên trong các GDDS liên quan đến tài sản. Ngoài ra, sự thỏa thuận giữa cha mẹ ly hôn có thể bị cản trở bởi sự không rõ ràng về thủ tục và quy trình đại diện cho con chưa thành niên trong các GDDS liên quan đến tài sản. Trong trường hợp cha mẹ ly hôn, thủ tục và quy trình đại diện cho con chưa thành niên trong các GDDS liên quan đến tài sản không được pháp luật quy định rõ ràng, dẫn đến sự không đồng ý về việc đại diện cho con chưa thành niên.
Hơn nữa, pháp luật chưa quy định rõ vai trò của Tòa án trong trường hợp cha và mẹ không thống nhất ý kiến. Điều này có thể dẫn đến tình huống bế tắc trong các giao dịch liên quan đến bất động sản hoặc động sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng. Trong trường hợp này, các giao dịch quan trọng sẽ gặp khó khăn. Do đó, việc sửa đổi và bổ sung các quy định của pháp luật để giải quyết tình huống này là thực sự cần thiết. Tòa án cần có vai trò rõ ràng trong việc giải quyết các tranh chấp giữa cha và mẹ về việc đại diện cho con chưa thành niên, để bảo vệ quyền lợi của con và đảm bảo các giao dịch được thực hiện một cách hợp pháp và hiệu quả. Viện kiểm sát cũng thể hiện vai trò kiểm sát hoạt động giải quyết của Tòa án trong trường hợp này nhằm mục đích bảo đảm quyền của con chưa thành niên.
Thứ ba, chưa có quy định cụ thể về thực thi việc đại diện cho con chưa thành niên khi cha mẹ bị hạn chế quyền.
Về pháp lý, quyết định của Tòa án hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên dẫn đến việc họ bị giới hạn một số quyền đại diện cho con. Tuy nhiên, không có nghĩa là quyền đại diện của cha mẹ đối với con chưa thành niên trong các GDDS tự động chấm dứt vĩnh viễn. Việc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên là một biện pháp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của con, ngăn ngừa việc lạm dụng quyền làm cha mẹ gây hại đến quyền và lợi ích của con. Đây là một biện pháp tạm thời, vì Tòa án có thể, dựa trên từng trường hợp cụ thể và theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức, ra quyết định không cho phép cha mẹ đại diện theo pháp luật cho con trong khoảng thời gian từ 01 đến 05 năm. Tòa án cũng có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này (Điều 85 Luật HNGĐ năm 2014).
Quy định về thời hạn hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên từ 01 đến 05 năm đang đặt ra những khó khăn về tính thống nhất và công bằng trong việc áp dụng các quyết định của Tòa án. Điều này cho phép Tòa án có sự linh hoạt trong việc quyết định thời hạn hạn chế, nhưng có thể dẫn đến tình trạng cùng tính chất, mức độ của hành vi nhưng trên thực tế mỗi Tòa án lại có quyết định thời hạn khác nhau, gây ra sự không thống nhất trong việc xử lý các trường hợp tương tự.
3. Đề xuất, kiến nghị
Một là, cần quy định rõ ràng về quyền hạn và trách nhiệm của người không trực tiếp nuôi con trong việc thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con.
Theo đó, khoản 2 Điều 73 Luật HNGĐ năm 2014 cần quy định bổ sung trường hợp: “Cha hoặc mẹ có quyền tự mình thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con chưa thành niên… bao gồm trường hợp cha, mẹ ly hôn” và khoản 4 Điều 73 Luật HNGĐ năm 2014 cần bổ sung quy định: “... Cha, mẹ phải chịu trách nhiệm liên đới về việc thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản của con được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này và theo quy định của BLDS. Trong trường hợp cha, mẹ ly hôn, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải chịu trách nhiệm liên đới trong trường hợp thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con chưa thành niên”.
Việc bổ sung quy định về đại diện cho con chưa thành niên trong trường hợp cha mẹ ly hôn có liên quan đến thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con là cần thiết. Điều này sẽ tạo ra quy định rõ ràng về việc đại diện cho con chưa thành niên, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, tăng cường trách nhiệm của cha mẹ ly hôn và đảm bảo việc đại diện cho con chưa thành niên được thực hiện một cách công bằng và minh bạch.
Hai là, cần có cơ chế giám sát việc thực hiện quyền đại diện cho con chưa thành niên trong những giao dịch liên quan đến tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, tài sản đưa vào kinh doanh của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn.
Theo Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989, gia đình được coi là tế bào xã hội cơ bản và môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của mọi thành viên, đặc biệt là trẻ em, cần được bảo vệ và hỗ trợ để thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình trong cộng đồng. Pháp luật Việt Nam quy định tại Điều 136 BLDS năm 2015: Cha, mẹ là người đại diện theo pháp luật cho con chưa thành niên. Con chưa thành niên như một chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự có nhu cầu thực hiện trong đời sống hàng ngày các hoạt động như ăn uống, sinh hoạt, học tập, lao động, rèn luyện. Để thực hiện các nhu cầu đó, họ cần tham gia vào các quan hệ xã hội và tương tác với các chủ thể khác để mua bán, trao đổi, tặng cho nhằm đạt được mục đích sinh hoạt hàng ngày. Do sự tác động của các quy phạm pháp luật lên các quan hệ xã hội, con chưa thành niên có các quyền và nghĩa vụ pháp lý tương ứng được Nhà nước bảo đảm thực hiện.
Ở Pháp, việc thực hiện quyền đại diện của cha mẹ đối với tài sản của con thông thường phải có sự can thiệp của Thẩm phán. Ngoài ra, cơ chế giám sát liên quan đến tài sản của con chưa thành niên cũng được pháp luật của Pháp coi trọng, cụ thể là thông qua Hội đồng gia tộc. Theo đó, Hội đồng gia tộc do Thẩm phán chỉ định gồm ít nhất 04 thành viên, trong đó có người giám hộ và người giám sát việc giám hộ, nhưng không bao gồm Thẩm phán phụ trách giám hộ. Thẩm phán giám hộ lựa chọn thành viên của Hội đồng gia tộc trong số cha mẹ và họ hàng thân thích của cha và mẹ của trẻ vị thành niên cũng như bất cứ người nào, sống ở Pháp hay nước ngoài, quan tâm đến trẻ vị thành niên. Các thành viên của Hội đồng gia tộc được lựa chọn vì lợi ích của người chưa thành niên và dựa vào năng lực của họ, mối quan hệ thường xuyên với cha, mẹ của người chưa thành niên, các mối liên hệ tình cảm dành cho người chưa thành niên cũng như thời gian có thể dành cho việc này. Trong chừng mực có thể, Thẩm phán phải tránh để một trong hai bên nội, ngoại không có người đại diện.
Theo tác giả, nên có cơ chế giám sát việc thực hiện quyền đại diện cho con trong những giao dịch liên quan đến tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, tài sản đưa vào kinh doanh của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn, việc nghiên cứu thành lập Hội đồng gia tộc là một giải pháp điển hình. Điều này có nghĩa là với những giao dịch mà phải có sự đồng ý của cả cha mẹ hoặc thuộc những trường hợp đặc biệt nêu trên, thì cần có thêm sự đồng ý của người giám sát và nguyện vọng của con. Bên cạnh đó, pháp luật cần quy định rõ ràng trường hợp một trong hai bên hoặc cả hai bên cha mẹ không đồng ý đối với việc định đoạt tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì hệ quả pháp lý được giải quyết như thế nào.
Ba là, theo pháp luật Việt Nam, thời hạn hạn chế quyền cha mẹ từ 01 đến 05 năm là một khoảng thời gian rất rộng, cho phép Tòa án có sự linh hoạt trong việc quyết định thời hạn hạn chế. Tuy nhiên, điều này cũng đồng nghĩa với việc có thể xuất hiện sự không thống nhất trong cách xử lý giữa các Tòa án. Do đó, cần có các tiêu chí và điều kiện cụ thể để xác định thời hạn hạn chế quyền cha mẹ. Chẳng hạn, quy định theo hướng phân biệt trường hợp có một hành vi có thể là từ 01 đến 02 năm, nhưng với trường hợp có 02 hành vi trở lên thì có thể tối đa là 05 năm. Ngoài ra, điều kiện, trình tự, thủ tục xét rút ngắn thời hạn hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên cũng như điều kiện để Tòa án xét rút ngắn thời hạn này cũng cần được hướng dẫn cụ thể hơn. Việc làm rõ các điều kiện và quy trình cụ thể sẽ giúp cho việc áp dụng các quyết định của Tòa án trở nên minh bạch hơn, Viện kiểm sát cũng nâng cao vai trò kiểm sát hoạt động giải quyết vụ việc được thuận tiện, góp phần xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn thiện và bảo đảm quyền lợi của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn một cách tốt nhất.