Áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng (XLCH) là biện pháp rất nhân văn, mang tính đột phá trong Luật tư pháp người chưa thành niên (NCTN); nhằm chuyển dịch từ tư duy trừng phạt sang tư duy phục hồi. Tuy nhiên, việc vận hành chế định này tại Việt Nam, đặc biệt với nhóm đối tượng từ 16 đến dưới 18 tuổi, vẫn còn có môt số khó khăn nhất định.
Luật Tư pháp người chưa thành niên ra đời đã cụ thể hóa nguyên tắc “Lợi ích tốt nhất cho người dưới 18 tuổi”. Theo đó, biện pháp xử lý chuyển hướng là biện pháp giám sát, giáo dục, phòng ngừa áp dụng đối với NCTN phạm tội, bao gồm các biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng khiển trách, xin lỗi bị hại, bồi thường thiệt hại, giáo dục tại xã, phường, thị trấn, quản thúc tại gia đình, hạn chế khung giờ đi lại, cấm tiếp xúc với người có nguy cơ dẫn đến NCTN phạm tội mới, cấm đến địa điểm có nguy cơ dẫn đến NCTN phạm tội mới, tham gia chương trình học tập, dạy nghề, tham gia điều trị hoặc tư vấn tâm lý, thực hiện công việc phục vụ cồng đồng và biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng.
Như vậy, việc xử lý chính đối với NCTN bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục, vận động, tạo điều kiện tốt nhất cho NCTN, hạn chế áp dụng các biện pháp chế tài nghiêm khắc, thể hiện tính nhân đạo, nhân văn sâu sắc của pháp luật hình sự Việt Nam. Áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng không phải là sự khoan hồng vô điều kiện, mà là một quy trình pháp lý nghiêm ngặt nhằm xử lý chuyển hướng người chưa thành niên khỏi hệ thống tư pháp hình sự vốn dễ gây sang chấn và "dán nhãn" tội phạm, thay thế bằng các biện pháp giáo dục tại cộng đồng.
Còn có những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng
Quy định về biện pháp xử lý chuyển hướng đã được quy định trong các bộ luật, luật (Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Thi hành án hình sự) và các văn bản hướng dẫn thi hành khác nhau, nhưng còn chưa tập trung, quy định chưa cụ thể, một số nội dung còn mang tính trùng lắp, trình tự, thủ tục áp dụng còn nhiều vướng mắc, chưa kịp thời xử lý đúng thủ tục quy định; dẫn đến khi tiến hành khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với NCTN gặp phải nhiều khó khăn. Sự ra đời của Luật Tư pháp NCTN năm 2024 góp phần khắc phục những hạn chế nêu trên, đồng thời pháp luật đã ra cơ sở pháp lý vững chắc, làm tiền đề để quy định về biện pháp xử lý chuyển hướng áp dụng đối với NCTN được áp dụng rộng rãi, thống nhất.
Tuy nhiên, qua công tác nghiên cứu và thực hành tư pháp, việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng hiện nay vẫn còn có một số khó khăn, vướng mắc như sau:
Thứ nhất, sự xung đột giữa tính định lượng và định tính trong tiêu chí áp dụng. Các quy định về “tình tiết giảm nhẹ” hay “thái độ thành khẩn” hiện vẫn mang đậm tính cảm tính của người tiến hành tố tụng. Đối với nhóm từ 16 đến dưới 18 tuổi – độ tuổi tiệm cận sự trưởng thành về nhận thức - ranh giới giữa một hành vi mang tính bộc phát nhất thời và một hành vi có tính chất nguy hiểm cho xã hội thường rất mong manh, dẫn đến sự thiếu thống nhất trong việc lựa chọn giữa truy tố và chuyển hướng.
Thứ hai, rào cản từ điều kiện khắc phục hậu quả dân sự. Thực tiễn cho thấy, bồi thường thiệt hại là điều kiện tiên quyết trong nhiều biện pháp XLCH. Tuy nhiên, với NCTN không có tài sản riêng, điều kiện này vô hình trung trở thành “hàng rào kinh tế”. Nếu không có cơ chế xử lý linh hoạt, vô tình chúng ta đang tạo ra sự bất bình đẳng: NCTN từ gia đình có điều kiện được hưởng chuyển hướng, trong khi NCTN nghèo khó lại phải chịu quy trình tố tụng hình sự.
Thứ ba, sự thiếu hụt mạng lưới hỗ trợ xã hội chuyên biệt. Hiện nay, chúng ta đang thiếu trầm trọng đội ngũ nhân viên công tác xã hội có kỹ năng tâm lý tư pháp. Việc giao NCTN cho chính quyền địa phương giám sát thường mang tính hình thức, thiếu các chương trình trị liệu hành vi hoặc hướng nghiệp thực thụ. Điều này làm tăng nguy cơ tái phạm và giảm đi hiệu lực thực tế của biện pháp giáo dục tại cộng đồng.
Thứ tư, áp lực tâm lý từ “tư duy trừng trị” của xã hội. Trong nhiều vụ án, dù NCTN đủ điều kiện chuyển hướng, nhưng dưới áp lực từ người bị hại và dư luận xã hội (đặc biệt là các vụ án gây bão truyền thông), các cơ quan tố tụng thường có xu hướng chọn phương án “an toàn” là truy tố để tránh cáo buộc bỏ lọt tội phạm.
Thứ năm, khó khăn vướng mắc khi chuyển vật chứng trong vụ án. Trong hoạt động tố tụng thông thường, nếu vụ án có vật chứng, sau khi Viện kiểm sát ban hành cáo trạng truy tố, sẽ kèm theo quyết định chuyển vật chứng để Cơ quan điều tra chuyển vật chứng đến Cơ quan Thi hành án. Tuy nhiên, hiện nay khi áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng mà trong vụ án có vật chứng, Cơ quan điều tra sẽ chuyển thẳng hồ sơ đến Tòa án để đề nghị mà không qua Viện kiểm sát. Do không có quyết định chuyển vật chứng của Viện kiểm sát nên Cơ quan Thi hành án, cũng như Kho bạc, Cơ quan điều tra đang gặp nhiều khó khăn trong việc áp dụng căn cứ pháp luật để phối hợp nhận, chuyển vật chứng trong vụ án mà chưa có hướng dẫn cụ thể.
Một số kiến nghị, đề xuất giải pháp
Từ những phân tích nêu trên, để định chế áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng thực sự đi vào đời sống và phát huy tối đa giá trị nhân văn, tác giả bài viết đề xuất một số giải pháp sau:
Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành về quản lý vật chứng. Cần thiết phải ban hành Thông tư liên tịch giữa Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao nhằm hướng dẫn chi tiết quy trình luân chuyển vật chứng trong các vụ án áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng. Cụ thể, cần quy định rõ thẩm quyền ban hành quyết định chuyển vật chứng trong trường hợp hồ sơ chuyển thẳng từ Cơ quan điều tra sang Tòa án để đảm bảo tính thống nhất với quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, tránh tình trạng “khoảng trống pháp lý” khiến các Cơ quan Thi hành án và Kho bạc lúng túng trong việc tiếp nhận như hiện nay.
Thứ hai, thiết lập Quỹ hỗ trợ tư pháp phục hồi. Nhằm xóa bỏ “hàng rào kinh tế” trong việc tiếp cận XLCH, Nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ tài chính hoặc bồi thường thay thế đối với người chưa thành niên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Điều này đảm bảo tính công bằng của pháp luật, giúp những đối tượng không có tài sản riêng vẫn có cơ hội được giáo dục, cải tạo tại cộng đồng thay vì phải chịu quy trình tố tụng hình sự chỉ vì thiếu năng lực tài chính.
Thứ ba, chuyên nghiệp hóa hệ thống dịch vụ hỗ trợ xã hội. Cần luật hóa và tăng cường ngân sách cho vai trò của nhân viên công tác xã hội, chuyên gia tâm lý tư pháp trong suốt quá trình XLCH. Việc giám sát NCTN tại địa phương phải được thực hiện thông qua các chương trình trị liệu, hướng nghiệp thực chất thay vì chỉ dừng lại ở việc quản lý hành chính đơn thuần, từ đó mới có thể giảm thiểu tỷ lệ tái phạm bền vững.
Thứ tư, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về tư pháp phục hồi. Cần thay đổi nhận thức hệ thống và cộng đồng từ “tư duy trừng trị” sang “tư duy phục hồi”. Khi xã hội và người bị hại hiểu rõ mục đích của XLCH là để NCTN sửa chữa lỗi lầm và tái hòa nhập, áp lực dư luận đối với các cơ quan tố tụng sẽ giảm bớt, tạo môi trường thuận lợi cho việc áp dụng các biện pháp nhân văn này.
Như vậy, để có thể áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng vào thực tiễn, đảm bảo tính nhân văn trong quy định của pháp luật, giúp NCTN chưa tìm lại con đường hoàn lương một cách bền vững, cần sớm tháo gỡ được những “nút thắt” về hạ tầng thực thi và tư duy áp dụng pháp luật. Đồng thời, cũng cần phải xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác xã hội có chuyên môn, hiểu biết sâu sắc về tâm lý - xã hội học của NCTN; đây là yếu tốt quan trọng để bảo đảm tính hiệu quả, khách quan và công bằng trong quá trình xử lý chuyển hướng; nhằm hiện thực hóa mục tiêu của Luật tư pháp NCTN là bảo vệ, thúc đẩy sự phát triển toàn diện của trẻ em và xây dựng xã hội an toàn, nhân văn.